Cuộc di cư Việt Nam (1954)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cuộc di cư Việt Nam, 1954)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khoảng một triệu người dân miền Bắc (khoảng 800 ngàn trong đó là người Công giáo[1]) di cư đến miền Nam Việt Nam trong những năm 1954–1955 theo những chuyến tàu do Pháp và Mỹ tổ chức[2]

Cuộc di cư năm 1954 (tiếng Anh: Operation Passage to Freedom, Chiến dịch Con đường đến Tự do) là một cuộc di cư của gần một triệu người Việt từ miền Bắc Việt Nam (nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đến miền Nam Việt Nam (nước Việt Nam Cộng hòa) trong những năm 1954–1955. Gần 310.000 người được đưa đến miền Nam bởi Hải quân Hoa Kỳ, và 500.000 dân được đưa đến Việt Nam Cộng hòa bởi quân đội Pháp.[2][3] Sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ đại thắng quân Pháp, Hiệp định Genève được ký kết nhằm khôi phục lại hòa bình ở Đông Dương. Hiệp định nêu rằng sông Bến Hải, vĩ tuyến 17 được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời, chia Việt Nam thành hai vùng: chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tập trung tại miền Bắc, còn chính quyền và quân đội khối Liên hiệp Pháp tập trung tại miền Nam.[4] Sự phân chia Việt Nam ban đầu chỉ là tạm thời và dự định sẽ có một cuộc tổng tuyển cử vào năm 1965 nhằm thống nhất hai miền dưới một chính phủ. Khoảng 600.000 đến một triệu người miền Bắc di cư vào Nam,[5] trong khi đó 14.000–45.000 cư dân và 100.000 binh sĩ Việt Minh tập kết ra miền Bắc.[2][6][7]


Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòaPháp, tạm thời chia đôi Việt Nam thành hai vùng tập trung quân sự tại vĩ tuyến 17. Hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tập trung ở miền Bắc và hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Liên hiệp Pháp được tập trung ở miền Nam, chờ ngày tổng tuyển cử tự do dự kiến sẽ xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1956. Điều 14 phần (d) của Hiệp định cho phép người dân ở mỗi phía di cư đến phía kia và yêu cầu phía quản lý tạo điều kiện cho họ di cư trong vòng 300 ngày sau thoả hiệp đình chiến (Điều 2), tức chấm dứt vào ngày 19 tháng 5, 1955. Dân Hà Nội có 80 ngày, Hải Dương có 100 ngày,[8] còn Hải Phòng, điểm cuối cùng tập trung để di cư có 300 ngày.[9]

Để giám sát thực thi hiệp định, Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến được thành lập theo điều 34 của hiệp định với đại diện của ba nước Ấn Độ, Ba Lan, và Canada.

Di cư vào Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Một người Thiên Chúa giáo di cư từ miền Bắc nhận đồ dùng do Mỹ phân phát

Theo tuần báo Time, những người di cư vào miền Nam, đặc biệt những người Công giáo Việt Nam, cho rằng họ đã bị đàn áp tôn giáo dưới chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[10][11][12]. Nhiều người thật sự ra đi vì lý do kinh tế và chính trị: họ là những người làm việc cho Pháp, hay giới tư sản không có cảm tình với chính phủ Việt Minh. Một số người thì bị cuộc cải cách ruộng đất tịch thu tài sản nên phải bỏ ra đi.[13]

Áp phích tuyên truyền kêu gọi người miền Bắc di cư vào Nam được sử dụng trong Chiến dịch Passage to Freedom do Hoa Kỳ tổ chức

Tuy nhiên, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì cho rằng những người Công giáo Việt Nam đã bị chính quyền Pháp, Mỹ và thân Mỹ cưỡng bức hay "dụ dỗ di cư"[cần dẫn nguồn]. Khẳng định này không mâu thuẫn với các tài liệu của Mỹ[14] về hoạt động của Edward Lansdale, chuyên gia tình báo Mỹ hoạt động tại miền Bắc Việt Nam trong thời gian này, với nhiệm vụ làm suy yếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng mọi cách có thể[15]. Theo đó, các linh mục miền Bắc giục giã giáo dân vào Nam với lời giảng rằng Đức Mẹ Đồng Trinh đã "đi vào Nam" nên họ cần phải đi theo[16].

Lansdale và nhóm của ông đã thực hiện một chiến dịch tuyên truyền miêu tả rằng các điều kiện sắp tới dưới chính quyền Việt Minh sẽ ác nghiệt hết mức có thể. Trước tiên là chiến dịch tung tin đồn: tung ra câu chuyện một tiểu đoàn Trung hoa tại Bắc Kỳ đã trả thù một làng Việt Nam, phụ nữ bị hãm hiếp... điều đó làm cho người Việt lo sợ về một cuộc chiếm đóng của quân Trung Quốc.[17]. Nhóm này còn phân tán các tờ truyền đơn được giả mạo là của chính phủ Việt Minh, tạo các tin đồn về những chính sách khắc nghiệt, thuê các thầy bói tiên đoán về các tai họa sắp tới. Bản tường trình mật của Lansdale về nhiệm vụ của ông đã ghi nhận số người đăng ký di cư vào Nam tăng lên gấp 3 lần sau khi một tờ truyền đơn giả mạo được phát tán[14]. Bernard Fall, nhà sử học nhận xét: "Mọi người phải công nhận rằng cuộc di cư hàng loạt như thế chủ yếu là kết quả một cuộc hành quân chiến tranh tâm lý của Mỹ (và của cả quân đội Pháp). [18]

Ngược lại, có những cáo buộc rằng những tờ bích chương và tờ bướm do Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến in và trao cho hai bên phổ biến cho dân chúng biết về quyền tự do di tản thì không được chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phân phát[19]. Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến đã mở cuộc điều tra đơn khiếu nại của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về hành động cưỡng bách di cư. Trong số 25.000 người Uỷ hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị "cưỡng bách di cư" hay muốn trở về Bắc cả[20]. Edward Lansdale đã mô tả chiến dịch tuyên truyền thành công của mình như sau:

Nếu những năm 1949-1953, các linh mục đã biến Giáo dân hiền lành thành những binh lính cuồng nhiệt nhờ khẩu hiệu "Tiêu diệt Cộng Sản để làm vinh danh Chúa", thì họ cũng chẳng khó khăn gì trong việc tạo ra cuộc "Xuất hành vĩ đại" vào những năm 1954-1955. Hiển nhiên là người nông dân Việt Nam sống gắn bó với ruộng đất của tổ tiên, với mái nhà, với mảnh vườn, với nhà thờ và làng xóm hơn nông dân ở các nước khác nhiều. Nhưng họ lại dám từ bỏ tất cả mọi sự để bảo vệ đức tin, nhất là khi các cha xứ của họ lại bảo đảm với họ rằng tại Miền Nam có một vị thủ tướng Công Giáo (Ngô Đình Diệm) đang chờ đón họ và sẽ cấp cho họ những vùng đất phì nhiêu để làm ăn. Và khối dân chúng một khi đã bước chân ra đi, thì không gì có thể ngăn cản họ lại. Thế là với những áp lực đủ kiểu đủ cách, nhờ lối tuyên truyền tạo ra một cơn hốt hoảng tinh thần nơi dân chúng Công Giáo, người ta đã thành công đưa vào Nam hàng trăm ngàn nông dân, bởi vì khối di cư Công Giáo sẽ là một lực lượng chính trị to lớn hỗ trợ cho chính phủ Ngô Đình Diệm.[21]

Ngoài những người di cư vào Nam đa phần vì lý do tôn giáo (khoảng 800 ngàn trên tổng số 1 triệu người di cư từ Bắc vào Nam là người Công giáo[1]), số còn lại là những người thuộc khuynh hướng chính trị chống cộng sản, những người có liên hệ với chính quyền Pháp hay chính phủ quốc gia, thành phần tư sản thành thị và những gia đình nông thôn lo ngại vì chính sách cải cách ruộng đất[22]. Thêm vào đó là những người thuộc dân tộc thiểu số đã từng theo quân đội Pháp chống Việt Minh. Trong đó có khoảng 45.000 người Nùng vùng Móng Cái và 2.000 người TháiMèo từ Sơn LaĐiện Biên[14][23].

Tiến trình[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu USS Montague của Hoa Kỳ đang chuẩn bị đón người di cư tại cảng Hải Phòng

Ngày 9 tháng 8 năm 1954, chính phủ Quốc gia Việt Nam của tân Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Phủ Tổng ủy Di cư Tỵ nạn ở cấp một bộ trong nội các với ba nha đại diện, một ở miền Bắc, một ở miền Trung và một ở miền Nam để xúc tiến định cư. Thêm vào đó là Uỷ ban Hỗ trợ Định cư, một tổ chức cứu trợ tư nhân giúp sức.

Đối với sinh viên đại học, Bộ Tư lệnh Pháp dành 12 chuyến bay trong hai ngày 12 và 13 Tháng Tám đưa khoảng 1200 sinh viên miền Bắc vào Nam.[24] Ước tính chỉ khoảng 1/3 ở lại còn 2/3 chọn di cư.[9]

Vì không có đủ phương tiện cho những người di cư vào Nam nên chính quyền Pháp và Bảo Đại phải kêu gọi các nước khác giúp chuyên chở và định cư. Các chính phủ Anh, Ba Lan, Tây Đức, Nam Hàn, Hoa Kỳ, Nhật, Philippines, New Zealand, Trung Hoa Dân quốc, ÚcÝ hưởng ứng cùng các tổ chức UNICEF, Hồng Thập Tự, Catholic Relief Services (CRS), Church World Services (CWS), Mennonite Central Committee (MCC), International Rescue Committee (IRC), CARE và Thanh thương Hội Quốc tế.

Ngày 4 tháng 8 năm 1954 cầu hàng không nối phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn trong Nam với các sân bay Gia Lâm, Bạch Mai, Hà NộiCát Bi, Hải Phòng ngoài Bắc được thiết lập. Nỗ lực đó được coi là cầu không vận dài nhất thế giới lúc bấy giờ (khoảng 1.200 km đường chim bay). Phi cảng Tân Sơn Nhứt trở nên đông nghẹt; tính trung bình mỗi 6 phút một là một máy bay hạ cánh và mỗi ngày có từ 2000 đến 4200 người di cư tới. Tổng kết là 4280 lượt hạ cánh, đưa vào 213.635 người.

Ngoài ra, một hình ảnh quen thuộc với người dân tỵ nạn là "tàu há mồm" (tiếng Anh: landing ship, tank viết tắt là LST) đón người ở gần bờ rồi chuyển ra tàu lớn neo ngoài hải phận miền Bắc. Các tàu thủy vừa hạ xuống, hàng trăm người đã giành lên. Các tàu của Việt Nam, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Trung Hoa, Ba Lan... giúp được 555.037 người "vô Nam". "Nam" được hiểu là cả dải duyên hải miền Nam Việt Nam, từ Đà Nẵng tới Vũng Tàu. Vì số người di cư quá đông Cao uỷ Pháp đã xin gia hạn thêm ba tháng và phía Hà Nội đã thoả thuận nên ngày cuối cùng thay vì là ngày 19 tháng 5 được đổi thành ngày 19 tháng 8. Trong thời gian gia hạn thêm 3.945 người đã vượt tuyến vào Nam. Chuyến tàu thuỷ cuối cùng của cuộc di cư cập bến Sài Gòn vào ngày 16 tháng 8.

Thêm vào đó, còn tới 102.861 người tự tìm đường bộ hoặc ghe thuyền và phương tiện riêng.

Tính đến giữa năm 1954 và 1956, trên 1 triệu người đã di cư từ Bắc vào Nam, trong đó có khoảng 800.000 người Công giáo, tức khoảng 2/3 số người Công giáo ở miền Bắc đã bỏ vào Nam[1].

Tập kết ra Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Sử liệu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận có 140.000 người di cư ra Bắc bằng phương tiện riêng, băng rừng Trường Sơn, hoặc đi trên các tàu của Ba Lan, PhápLiên Xô[1]. Đa số những người tập kết ra Bắc là những cán bộ, quân đội kháng chiến của Việt Minh và gia đình của họ, hoặc cư dân có cảm tình với Việt Minh của quê hương họ. Rất nhiều văn nghệ sĩ, thành viên Việt Minh hoặc cán bộ (Đảng viên Đảng Cộng sản ĐD) cũng đi theo tập kết.

Có 5 đại đoàn 324, 325, 305, 330, 338 cùng một số đơn vị khác tập kết ra Bắc để chính quy hóa quân đội. Rất nhiều người sau này trở thành anh hùng trong chiến trận, hoặc những vị tướng, kỹ sư, bác sĩ, nhà khoa học nổi tiếng. Đa phần ở lại miền bắc như người dân, hoặc công tác theo chính phủ yêu cầu; một phần quân số cùng con em của họ trở về miền nam chiến đấu và là bộ phận của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.

Phủ Tổng uỷ Di cư Tỵ nạn của Quốc gia Việt Nam thì ghi con số 4.358 người đi qua ngả chính phủ.[cần dẫn nguồn] Họ là những người vì vội vã đã bỏ vào Nam nay đổi ý muốn trở lại ra Bắc hay những người tin theo vận động của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tìm đường ra Bắc. Số người này được vận chuyển bằng đường thuỷ và hàng không của Pháp.

Trong văn học và âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài thơ Nhất định thắng (năm 1955) của nhà thơ Trần Dần[25] có viết về cuộc di cư này cùng với sự đau đớn khi đất nước bị chia cắt Bắc Nam và lời kêu gọi đứng lên đòi hòa bình và thống nhất.

Năm 1955, nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc bài thơ Thuyền viễn xứ của Huyền Chi và sau này là bài 1954 - 1975 nói lên tâm trạng của những người di tản.

Trong miền Nam, những bản nhạc Chuyến đò vĩ tuyến, Nắng đẹp Miền Nam, Nhạc rừng khuyaĐoàn người lữ thứ của nhạc sĩ Lam Phương,[26] Ghé bến Sài Gòn của Văn Phụng, Hình ảnh quê xưa của Hoàng Trọng cũng nói về cuộc di cư này.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, Flight from Indochina [1], tr. 80-81
  2. ^ a ă â Frankum, Ronald (2007). Operation Passage to Freedom: The United States Navy in Vietnam, 1954–55. Lubbock, Texas: Đại học Công nghệ Texas. ISBN 978-0-89672-608-6. 
  3. ^ Prados, John (2005). “The Numbers Game: How Many Vietnamese Fled South In 1954?”. The Veteran. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2006. 
  4. ^ Background Information Relating to Southeast Asia and Vietnam. Washington, DC: U.S. Government Printing Office. 1967. tr. 50–62. 
  5. ^ Lindholm, p. 49.
  6. ^ Ruane, Kevin (1998). War and Revolution in Vietnam. London: Routledge. ISBN 978-1-85728-323-5. 
  7. ^ Trần Thị Liên (2005). “The Catholic Question in North Vietnam”. Cold War History (London: Routledge) 5 (4): 427–449. doi:10.1080/14682740500284747. 
  8. ^ Nhìn lại cuộc Di cư...
  9. ^ a ă Lịch sử Trường Đại học Y Hà Nội
  10. ^ Tuần báo Time, The Lesson of Seven Nails, 21 tháng 2 năm 1955
  11. ^ Tuần báo Time, Wanderer's Rest, 27 tháng 2 năm 1956
  12. ^ Tuần báo Time, Land of Compulsory Joy, 22 tháng 11 năm 1954
  13. ^ Huy Đức. Bên thắng cuộc, I: Giải phóng. Boston: Osinbook, 2012. tr 265.
  14. ^ a ă â Neel Sheehan, A Bright Shining Lie, 1988, tr. 137.
  15. ^ Nguyên văn: "...his task was to weaken Ho Chi Minh's Democratic Republic of Viet Nam through any means available..."; Spencer C. Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, ABC-CLIO, 1998, tr. 220.
  16. ^ http://www.thanhnien.com.vn/chinh-tri-xa-hoi/giai-ma-pham-xuan-an-384616.html
  17. ^ The Pentagon Papers, tr. 58-64
  18. ^ B. Fall, Hai nước Việt Nam
  19. ^ O 'Connor, Patrick. "Violations of Article 14 of the Geneva Agreement" trong cuốn Terror in Vietnam: A Record of Another Broken Pledge. Washington, DC: National Catholic Welfare Conference, 1955.
  20. ^ 14th Interim Report by the ICC. London: Her Majesty's Stationaery Office
  21. ^ Edward G. Lansdale, Tôi Làm Quân Sư Cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm. NXB Đại Nam, 1972, tr. 8
  22. ^ Freeman, James M. Hearts of Sorrow, Vietnamese-American Lives. Stanford, CA: Stanford University Press, 1989. Trang 142-5.
  23. ^ Lê Xuân Khoa. Việt Nam 1945-1995. Bethesda, MD: Tiên Rồng, 2004.
  24. ^ Nguyễn Văn Lục. Lịch Sử Còn Đó. Garden Grove, CA: Tân Văn, 2008. Trang 129.
  25. ^ “Bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần”. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2010. 
  26. ^ “Nhạc sĩ Lam Phương”. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]