Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi
Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Bùi Chu
(1950 - 1960)
Giám mục chính tòa Tiên khởi
Giáo phận Qui Nhơn (1960 -1963)
Giám mục chính tòa Tiên khởi
Giáo phận Đà Nẵng (1963 - 1988)
Pham Ngoc Chi.JPG
Khẩu hiệu: "Vâng lời Thầy con thả lưới"
Giáo phận Bùi Chu
Qui Nhơn
Đà Nẵng
Tấn phong 4 tháng 8 năm 1950
Hưu
Tiền nhiệm Tađêô Lê Hữu Từ
(GM Tông tòa Gp. Bùi Chu)
Paul-Marcel Piquet Lợi
(GM Tông Tòa Gp. Qui Nhơn)
Giám mục Tiên Khởi Đà Nẵng
Kế vị Giuse Maria Phạm Năng Tĩnh
(GM chính tòa tiên khởi GP. Bùi Chu)
Đa Minh Hoàng Văn Đoàn
(GM chính tòa GP.Qui Nhơn)
Phanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách
(GM chính tòa GP.Đà Nẵng)
Thụ phong 23 tháng 12 năm 1933
Ngày sinh 14 tháng 5 năm 1909
Ngày mất 23 tháng 1, 1988(1988-01-23) (78 tuổi)
Nơi an táng Linh địa Trà Kiệu
Quốc tịch Việt Nam
Giáo hội Công giáo Rôma
Quê quán Ninh Bình
Thánh quan thầy Phêrô, Maria

Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi (1909 - 1988) là một giám mục Công giáo người Việt Nam. Ông là Giám mục tiên khởi của Giáo phận Qui NhơnGiáo phận Đà Nẵng. Trước đó, ông cũng là Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Bùi Chu. Khẩu hiệu Giám mục của ông là "Vâng lời Thầy, con thả lưới".

Là một người có quan điểm chống Cộng, ông đã có những hoạt động dính líu sâu sắc trong các hoạt động chống lại Việt Minh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ủng hộ quân Pháp, Mỹ trong hai cuộc Chiến tranh Đông Dương.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 14 tháng 5 năm 1909 trong một gia đình Công giáo toàn tòng tại giáo xứ Tôn Ðạo (nay thuộc địa bàn xã Ân Hòa và Như Hòa, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình).

Năm 1920, ông được linh mục chính xứ Tôn Ðạo là Clément Pléneau Kim (MEP) cho nhập trường Ba Làng (nay thuộc huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa). Năm 1921, ông được cho theo học tại Tiểu chủng viện Phúc Nhạc (Yên Khánh, Ninh Bình). Năm 1927, ông mãn Tiểu chủng viện và được Giám mục Alexandre Marcou Thành chọn đi tu học tại Trường Ðại học Truyền giáo Rôma.

Ông thụ phong linh mục ngày 23 tháng 12 năm 1933. Sau đó, ông tiếp tục theo học tại Ðại học Apollinaire và tốt nghiệp các văn bằng Tiến sĩ Triết học, Cử nhân Thần học và Cử nhân Giáo luật. Năm 1935, ông theo học khoa Luật tại Ðại học Paris, Pháp.

Hoạt động tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1936, ông quay trở về Việt Nam và nhận chức giáo sư Ðại chủng viện Phát Diệm. Năm 1944, ông được cử làm Phó giám đốc của Ðại chủng viện. Năm 1945, ông trở thành cố vấn của tân Giám mục Phát Diệm Lê Hữu Từ trong các vấn đề luật pháp và chính trị. Năm 1946, Giám mục Lê Hữu Từ bổ nhiệm ông làm Chánh án Tòa án Hôn phối Địa phận đồng thời cử ông vào Hội đồng Ðịa phận.

Năm 1947, ông được thăng làm Giám đốc Ðại chủng viện Phát Diệm. Ngày 3 tháng 2 năm 1950, ông được Giáo hoàng Piô XII phong chức Giám mục hiệu tòa Sozopolitana ở Haemimonto và bổ nhiệm làm Giám quản Tông tòa Giáo phận Bùi Chu. Lễ thụ phong đã diễn ra vào ngày 4 tháng 8 năm 1950.

Xây dựng khu tự trị Bùi Chu - Phát Diệm[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới tác động từ thông điệp của Giáo hoàng Piô XI, cũng như Giám mục Lê Hữu Từ, ông kịch liệt chống đối những người Cộng sản. Năm 1946, ông được Hội đồng Ðịa phận Phát Diệm đề cử ra tranh cử Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng ông đã khước từ. Cùng với Giám mục Từ, ông đã có sự tham gia rất lớn trong việc hình thành những đội vũ trang Tự vệ Công giáo, xây dựng các giáo khu Phát Diệm, sau đó là Bùi Chu, trở thành những khu vực tự trị với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo linh mục Trần Tam Tỉnh, các lực lượng tự vệ này bị cho là "vượt xa tư cách gọi là chỉ để tự vệ khi bị cộng sản tấn công, bởi vì nó tung ra các hoạt động chủ yếu là hành quân càn quét, có khi bao trùm cả vùng, có lúc chỉ ở địa phương nhỏ." [1]

Năm 1950, người Pháp đã kiểm soát được phần lớn Đông Dương. Tuy nhiên, họ vẫn để giáo khu Bùi Chu - Phát Diệm được giữ quyền tự trị với những điều kiện thỏa hiệp không chống Pháp và nhận trang bị vũ khí của người Pháp để vũ trang cho giáo dân chống Việt Minh.

Giám mục tiên khởi Qui Nhơn, Đà Nẵng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1954, quân Pháp thất bại trong trận Điện Biên PhủHiệp định Geneve được ký kết. Lo ngại trước viễn cảnh những người Cộng sản kiểm soát hoàn toàn miền Bắc, Giám mục Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi và nhiều chức sắc Công giáo khác đã lãnh đạo gần một triệu giáo dân di cư vào Nam.

Ngày 5 tháng 1 năm 1957, do sự đề cử của Khâm sứ Tòa Thánh Caprio tại Sài Gòn, ông được Tòa Thánh đặt làm Đặc ủy Tông tòa chuyên trách về Công giáo Tiến hành Việt Nam. Ngày 5 tháng 7 năm 1957, Tòa Thánh bổ nhiệm ông làm Giám quản Ðịa phận Qui Nhơn và ngày 24 tháng 11 năm 1960, trở thành Giám mục chính tòa Qui Nhơn khi giáo phận này được thành lập.

Ba năm sau, ngày 18 tháng 1 năm 1963, Giáo hoàng Gioan XXIII ký sắc lệnh tách Ðà nẵng ra khỏi Giáo phận Qui Nhơn và bổ nhiệm ông làm giám mục tiên khởi của giáo phận mới.

Quan điểm chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Chi thường bày tỏ sự ủng hộ đối với vấn đề quân đội Hoa Kỳ can thiệp trong Chiến tranh Việt Nam. Năm 1967, ông đã gửi thư phản đối Hồng y Cardin khi hồng y bày tỏ ý muốn yêu cầu phía Hoa Kỳ tôn trọng quyền dân tộc tự quyết của Việt Nam và rút quân khỏi Việt Nam.[2] Trong một chuyến công du Hoa Kỳ tháng 12 năm 1969, ông tiếp tục bày tỏ sự ủng hộ đối với sách lược Việt Nam hóa chiến tranh của Nixon và khước từ sự liên hiệp với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[3]

Những năm cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1975, ông vẫn tiếp tục cai quản giáo phận của mình. Giữa năm 1984, nhà nước Việt Nam trưng dụng nhiều cơ sở Công giáo trên Giáo phận Đà Nẵng, trong đó có Tòa Giám mục, Tiểu chủng viện Thánh Gioan, Nhà hưu dưỡng các linh mục. Ông phải chuyển đến lưu trú tại Nhà xứ Giáo xứ chính tòa một thời gian ngắn, rồi tháng 7 năm 1984, về an dưỡng tại Giáo xứ Trung tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu cho tới khi qua đời. Việc cai quản giáo phận lại cho Giám mục phó Phanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách.[4]

Trong những năm cuối đời, sức khỏe của ông thất thường, có lần phải đưa về Đà Nẵng điều trị một thời gian. Đầu năm 1988, bệnh tình ông trở nặng và ông qua đời ngày 21 tháng 1 năm 1988, thọ 79 tuổi.[5]

Trong chúc thư của ông của đoạn: "Ðối với những người thù ghét tôi, làm khổ tôi, nếu có, tôi không có buồn giận ai cả. Trái lại, tôi xin Chúa chúc lành cho họ. Họ làm như thế là làm cho tôi, vì tôi có dịp lập công, đền tội, nhất là trong những ngày sau hết đời tôi. Về nơi chôn cất thì ở đâu cũng được. Xác đất vật hèn: rồi chúng ta sẽ ra tro và bụi hết. Ðến đây tôi xin để lại cho mọi người một ý tưởng sau hết mà tôi đã nói đi nói lại nhiều lần: "Vanitas Vanitatum et omnis vanitas: Phù vân nối tiếp phù vân, mọi sự đều là phù vân. Propter amare Deum et Illi Soli servire: trừ sự kính mến Ðức Chúa Trời và làm tôi một mình Người"[6]

Thứ tự bổ nhiệm - tấn phong giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần V
Tađêô Lê Hữu Từ
14 tháng 6 năm 1945
Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần VI
Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi

3 tháng 2 năm 1950
Kế nhiệm:
Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần VII
Đa Minh Hoàng Văn Đoàn
12 tháng 3 năm 1950
Tiền nhiệm:
Giám mục người Việt thứ 5 được tấn phong
Tađêô Lê Hữu Từ
29 tháng 10 năm 1945
Giám mục người Việt thứ 6 được tấn phong
Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi

4 tháng 8 năm 1950
Kế nhiệm:
Giám mục người Việt thứ 7 được tấn phong
Giuse Maria Trịnh Như Khuê
15 tháng 8 năm 1950

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trần Tam Tỉnh. Thập Giá và Lưỡi Gươm. Chương II: Binh Thánh giá, nạn nhân của đạo quân Thánh giá. Mục 5: Cuộc thánh chiến
  2. ^ Trần Tam Tỉnh. Thập Giá và Lưỡi Gươm. Chương III: Giáo hội trong cơn bão bùng. Mục 6: Giáo hội đối diện với vấn đề hòa bình
  3. ^ Trần Tam Tỉnh. Thập Giá và Lưỡi Gươm. Chương III: Giáo hội trong cơn bão bùng. Mục 7: Nỗi hăm dọa của hòa bình
  4. ^ Lược sử Giáo phận Đà Nẵng, Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2012.
  5. ^ Linh mục Antôn Nguyễn Trường Thăng, Những ngày cuối đời của Giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, Giám mục tiên khởi Giáo phận Đà Nẵng, tháng 01 năm 2009.
  6. ^ “DGM Phero Maria Pham Ngoc Chi”. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]