Phêrô Trần Thanh Chung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Giám mục
 Phêrô Trần Thanh Chung
Giám mục chính tòa Giáo phận Kon Tum
(1995 - 2003)
GM Phêrô Trần Thanh Chung năm 2015.png
Giáo hộiCông giáo Rôma
Chức vụ chính yếu
Giám mục chính tòa Giáo phận Kon Tum
Giáo tỉnhGiáo tỉnh Huế
TòaGiáo phận Kon Tum
Bổ nhiệmNgày 8 tháng 4 năm 1995
Hết nhiệmNgày 16 tháng 7 năm 2003
Tiền nhiệmAlexis Phạm Văn Lộc
Kế nhiệmMicae Hoàng Đức Oanh
Giám mục Phó Giáo phận Kon Tum
Giáo tỉnhGiáo tỉnh Huế
TòaGiáo phận Kon Tum
Bổ nhiệmNgày 26 tháng 3 năm 1981
Tựu nhiệmNgày 22 tháng 11 năm 1981
Hết nhiệmNgày 8 tháng 4 năm 1995
Tiền nhiệmAlexis Phạm Văn Lộc
Kế nhiệmKhuyết vị
Truyền chức
Thụ phongNgày 25 tháng 5 năm 1955
Tấn phongNgày 22 tháng 11 năm 1981
Thông tin cá nhân
Tên khai sinhTrần Thanh Chung
Sinh10 tháng 11, 1927 (91 tuổi)
Đà Nẵng hoặc
Cồn Dầu, Quảng Nam.
Alma materTiểu chủng viện Thừa sai Kon Tum
Khẩu hiệu"Ngài yêu tôi"
Cách xưng hô với
Phêrô Trần Thanh Chung
Huy hiệu GM Trần Thanh Chung.jpg
Danh hiệuĐức Giám mục
Trang trọngĐức Giám mục, Đức Cha
Thân mậtCha
Khẩu hiệu"Ngài yêu tôi"
TòaGiáo phận Kon Tum

Phêrô Trần Thanh Chung (sinh 1927) là một giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma tại Việt Nam.[1] Ông từng đảm trách vai trò Giám mục chính tòa của Giáo phận Kon Tum trong 8 năm năm từ năm 1995 đến năm 2003. Trước đó, ông còn đảm trách vai trò giám mục phó giáo phận này từ năm 1981. Khẩu hiệu giám mục của ông là "Ngài yêu tôi".[2]

Sinh năm 1927, Trần Thanh Chung sớm đi theo con đường tu học từ năm 10 tuổi. Sau gần 20 năm tu học, tháng 5 năm 1955, ông được truyền chức linh mục. Thăng tiến trên con đường tu trì, ông trở thành Giám đốc Tiểu chủng viện Thừa Sai Kon Tum tại Đà Lạt từ năm 1966 đến năm 1974.

Tháng 3 năm 1981, Trần Thanh Chung được chọn làm giám mục phó Giáo phận Kon Tum và được cử hành nghi thức truyền chức tháng 12 cùng năm. Ông kế vị chức vị chính tòa năm 1990 và hồi hưu năm 2003 vì lý do tuổi theo quy định Giáo luật.

Ngoài vai trò đảm trách giáo phận, Trần Thanh Chung còn đảm nhận chức danh Phó Tổng Thư ký phụ trách Giáo tỉnh Huế trong bốn nhiệm kỳ liên tiếp: 1986 - 1989; 1989 - 1992; 1992 - 1995 và 1995 - 1998.[3]

Tu tập và thời kì linh mục[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Thanh Chung sinh ngày 10 tháng 11 năm 1927, tại Đà Nẵng[4] hoặc tại Cồn Dầu, Quảng Nam.[5] Thân phụ ông là ông Simon Xuân và thân mẫu ông là bà Isave Nguyễn Thị Bài.[6] Gia đình quyết định đưa cậu bé Chung vào học tại Tiểu Chủng viện Thừa Sai Kon Tum từ ngày 02 tháng 4 năm 1937.[5] Cậu là chủng sinh thuộc một trong những khóa đầu tiên của Chủng viện Kon Tum.[7]

Ngày 25 tháng 5 năm 1955, Phó tế Trần Thanh Chung được phong chức linh mục tại Nhà thờ chính tòa Giáo phận Kon Tum, do Giám mục Paul Léon Seitz Kim chủ phong.[5] Tháng 9 năm 1966, Giám mục giáo phận quyết định chọn linh mục Phêrô Thanh Chung làm Giám đốc Tiểu Chủng viện Thừa Sai Kon Tum tại Đà Lạt, và ông đã giữ chức vụ này đến tháng 8 năm 1974.[5]

Giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng 3 năm 1981, Tòa Thánh loan tin bổ nhiệm linh mục Phêrô Trần Thanh Chung làm Giám mục Phó Giáo phận Kon Tum, trợ giúp Giám mục chính tòa Alexis Phạm Văn Lộc. Lễ tấn phong cho Tân giám mục diễn ra vào lúc 18h00, 22 tháng 11 cùng năm, do Giám mục chính tòa Giáo phận Kon Tum Alexis Phạm Văn Lộc, chủ phong tại Nhà Nguyện Chủng viện Thừa Sai Kon Tum.[5] Vị Tân giám mục đã chọn khẩu hiệu giám mục: “Delexit me”: Ngài đã yêu mến tôi (Gal 2,20). Phêrô Trần Thanh Chung là giám mục thứ 61 trong hàng giáo phẩm Việt Nam và là Giám mục chính tòa thứ năm của giáo phận Kon Tum.[5]

Ngày 8 tháng 4 năm 1995, Tòa Thánh chấp thuận đơn xin về hưu của Giám mục chính tòa Alexis Phạm Văn Lộc, với cương vị Giám mục Phó Giáo phận, ông chính thức kế nhiệm trở Giám mục chính tòa Giáo phận Kon Tum.[5]

Bắt đầu từ đại hội Hội đồng Giám mục Việt Nam lần 3 chọn Giám mục Trần Thanh Chung làm Phó Tổng Thư ký phụ trách Giáo tỉnh Huế nhiệm kỳ 1986 - 1989, ông tái đắc cử chức danh này trong ba nhiệm kỳ sau đó, đảm trách vai trò này đến năm 1998.[3]

Hưu dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 7 năm 2003, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã chấp nhận đơn nghỉ hưu của ông và bổ nhiệm linh mục Micae Hoàng Đức Oanh - Tổng đại diện giáo phận, làm tân giám mục chính tòa Giáo phận Kon Tum.[8]

Ngày 28 tháng 8 năm 2003, lễ tấn phong Tân Giám mục Kon Tum Micae Hoàng Đức Oanh diễn ra, do Trần Thanh Chung làm Giám mục chủ phong, hai Giám mục Phaolô Nguyễn Văn HòaPhêrô Nguyễn Soạn phụ phong.[9] Đồng tế ngoài ba vị cử hành nghi thức còn có 11 giám mục khác và 300 linh mục khác, tổ chức tại tiền đình Nhà thờ Chính toà Kon Tum.[10]

Ngày 21 tháng 11 năm 2011, Trần Thanh Chung đồng tế với Giám mục kế vị Hoàng Đức Oanh cùng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa, Giám mục chính tòa Giáo phận Nha Trang, Giám mục Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản, Giám mục chính tòa Giáo phận Ban Mê Thuột, Giám mục Giuse Châu Ngọc Tri, Giám mục chính tòa Giáo phận Đà Nẵng, Giám mục Mátthêu Nguyễn Văn Khôi, Giám mục phó Giáo phận Qui Nhơn, Giám mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng, Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Huế, cùng 120 linh mục để chủ sự lễ tang người tiền nhiệm Alexis Phạm Văn Lộc, tham dự có Bề trên các Hội Dòng, chủng sinh, nam nữ tu sĩ và ước chừng 10 ngàn giáo dân đủ các sắc tộc trong giáo phận. Sau đó, ông chủ sự nghi thức phó dâng và từ biệt.[11]

Ngày 25 tháng 8 năm 2015, giáo phận Kon Tum tổ chức mừng kỷ niệm 60 linh mục cho giám mục Trần Thanh Chung.[7]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Linh mục Tổng Đại diện Phêrô Nguyễn Vân Đông nhận định về giám mục Trần Thanh Chung:[7]

Tông truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Phêrô Trần Thanh Chung được tấn phong năm 1981, thời Giáo hoàng Gioan Phaolô II, bởi:[12]

Giám mục Phêrô Trần Thanh Chung là Chủ phong trong nghi thức truyền chức cho giám mục:[12]

Giám mục Phêrô Trần Thanh Chung là Phụ phong trong nghi thức truyền chức cho giám mục:[12]

Tóm tắt chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Alexis Phạm Văn Lộc
Giám mục Phó
Giáo phận Kon Tum

1981 - 1995
Kế nhiệm:
Khuyết vị
Tiền nhiệm:
Phanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách
Phó Tổng Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam
(Giáo tỉnh Huế)

1986 - 1998
Kế nhiệm:
Phêrô Nguyễn Văn Nho
Tiền nhiệm:
Alexis Phạm Văn Lộc
Giám mục chính tòa
Giáo phận Kon Tum

1995 - 2003
Kế nhiệm:
Micae Hoàng Đức Oanh

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Danh Sách Các Ðức Hồng Y, Tổng Giám mục và Giám mục Việt Nam”. Taiwan Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 11 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2019. 
  2. ^ “Ðức Cha Phêrô Trần Thành Chung Nguyên Giám Mục Giáo Phận Kontum”. Taiwan Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 11 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2019. 
  3. ^ a ă “Nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của Hội đồng Giám mục Việt Nam qua 13 kỳ đại hội”. Ban Tôn giáo Chính phủ, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Bản gốc lưu trữ Ngày 11 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 11 tháng 3 năm 2019. 
  4. ^ “Ðức Cha Phêrô Trần Thành Chung”. Giáo phận Kon Tum. Bản gốc lưu trữ Ngày 11 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 11 tháng 4 năm 2019. 
  5. ^ a ă â b c d đ “Lịch sử giám mục Kon Tum”. Cựu Chủng sinh Kon Tum. Truy cập Ngày 11 tháng 4 năm 2019. 
  6. ^ Hồi ký Giám mục Trần Thanh Chung, 2007
  7. ^ a ă â “GP.KON TUM: Thánh Lễ Tạ Ơn Mừng Ngọc Khánh Linh Mục Đức Cha Phêrô Trần Thanh Chung”. Conggiao.info. Bản gốc lưu trữ Ngày 11 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 11 tháng 4 năm 2019. 
  8. ^ “RINUNCE E NOMINE, 16.07.2003 ● RINUNCIA DEL VESCOVO DI KONTUM (VIÊT NAM) E NOMINA DEL SUCCESSORE”. Văn phòng Báo chí Tòa Thánh Vatican. Bản gốc lưu trữ Ngày 11 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 11 tháng 4 năm 2019. 
  9. ^ “Tường Thuật Thánh Lễ tấn phong Tân Giám mục Micae Hoàng Ðức Oanh giám mục giáo phận Kontum”. Taiwan Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 11 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 11 tháng 4 năm 2019. 
  10. ^ “Lễ tấn phong Tân Giám Mục Micae Hoàng Đức Oanh, giám mục kế vị Kontum”. Bản gốc lưu trữ Ngày 11 tháng 4 năm 2019. 
  11. ^ “Giáo phận Kon Tum: Thánh lễ an táng Đức cố giám mục Alexis Phạm Văn Lộc”. Hội đồng Giám mục Việt Nam. Truy cập Ngày 11 tháng 4 năm 2019. 
  12. ^ a ă â “Bishop Pierre Trân Thanh Chung Bishop Emeritus of Kontum, Viet Nam”. Catholic Hierachy. Bản gốc lưu trữ Ngày 11 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 11 tháng 4 năm 2019. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]