Hội đồng Giám mục Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hội đồng Giám mục Việt Nam
Catholic Bishops’ Conference of Vietnam
CBCVietnam.png
Tên viết tắt HĐGMVN (CBCV)
Thành lập 1960
Loại Tổ chức Công giáo
Tình trạng pháp lý đang hoạt động
Trụ sở chính Trung tâm Công giáo
số 72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3,
Thành phố Hồ Chí Minh
Khu vực phục vụ
Việt Nam
Thành viên
Các giám mục Công giáo đang mục vụ tại Việt Nam
Ngôn ngữ chính thức
tiếng Việt
Chủ tịch
Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh
Cơ quan chính
Đại hội
Trang web hdgmvietnam.org (tiếng Việt)
cbcvietnam.org (tiếng Anh)

Hội đồng Giám mục Việt Nam là một hình thức hội nghị trong đó các Danh sách giám mục người Việt cùng nhau thi hành chức vụ mục tử để Hội Thánh Công giáo trên tất cả mọi người, đặc biệt đưa ra những hình thức và phương pháp hoạt động tông đồ phù hợp với hoàn cảnh của thời đại (GM III, 38). Các đấng bản quyền địa phương (các Giám mục giáo phận) và các Giám mục phó đều có quyền phủ quyết trong hội đồng. Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam hiện là Tổng giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh- Tổng giám mục của Tổng giáo phận Huế (từ 2016).

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 11 năm 1960 qua Sắc chỉ "Chư huynh đáng kính" (Venerabilium Nostroum), Giáo hoàng Gioan XXIII đã thiết lập "Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam" gồm 3 giáo tỉnh: Hà Nội, Huế, Sài Gòn.[1] Sắc chỉ được công bố ngày 8 tháng 12 năm 1960, là cơ sở hình thành hội đồng các Giám mục điều hành hoạt động Giáo hội Công giáo tại Việt Nam (bấy giờ vẫn còn nhiều Giám mục nước ngoài làm mục vụ tại Việt Nam). Tuy vậy, do hoàn cảnh chính trị và chiến tranh xảy ra trên cả hai miền Nam Bắc, cho đến năm 1975, hoạt động của hội đồng Giám mục Việt Nam chủ yếu là ở miền Nam, trong vùng do chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát.

Sau khi chấm dứt chiến tranh và Việt Nam hoàn toàn thống nhất (1975), các Giám mục cũng hình thành một nhu cầu thiết lập hội đồng giám mục thống nhất chung trong cả nước. Đầu năm 1980, một hội nghị trù bị đã được tổ chức tại Tòa giám mục Hà Nội do Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn - Tổng Giám mục Tổng giáo phận Hà Nội chủ trì, cùng hai Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình - Tổng giám mục Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí MinhPhilipphê Nguyễn Kim Điền - Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế và 5 giám mục khác nhằm chuẩn bị cho đại hội chính thức.

Đại hội lần thứ nhất các Giám mục Việt Nam diễn ra tại Hà Nội từ ngày 24 tháng 4 cho đến ngày 1 tháng 5 năm 1980 với sự tham dự của 33 Giám mục đã bầu Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn làm Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam. Tại đại hội này, các Giám mục Việt Nam đã ra thư chung đầu tiên, trong đó xác định đường hướng mục vụ của Giáo hội Việt Nam với hai điểm quan trọng: Hội Thánh vì loài người và Hội Thánh trong lòng dân tộc:

Là Hội Thánh trong lòng dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc hoà mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước. Công Đồng dạy rằng "Hội Thánh phải đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần gian với thế giới" (MV 40,2). Vậy chúng ta phải đồng hành với dân tộc mình, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân vừa là thành phần Dân Chúa.[2]

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Giám mục Việt Nam thảo ra một quy chế riêng và quy chế này được Rôma công nhận. Các quyết định của hội đồng Giám mục sẽ có hiệu lực pháp lý khi được tán thành bởi ít nhất hai phần ba số Giám mục có quyền biểu quyết và khi được Tòa thánh phê chuẩn, nhưng chỉ trong những trường hợp do giáo luật quy định hay khi được một chỉ thị của Tòa thánh cho phép[cần dẫn nguồn].

Nội quy của Hội đồng Giám mục Việt Nam quy định, Ban thường vụ hội đồng họp vào tháng 3 hàng năm và 3 năm tổ chức một kỳ đại hội tổ chức bầu lại Ban thường vụ. Sau mỗi phiên họp thường niên, Hội đồng Giám mục Việt Nam có thông lệ gửi thư chung cho cộng đoàn dân Chúa ở Việt Nam.

Hiện nay Hội đồng Giám mục Việt Nam gồm có 17 ủy ban trực thuộc:

  1. Ủy ban Giáo lý Đức tin
  2. Ủy ban Thánh Kinh
  3. Ủy ban Phụng tự
  4. Ủy ban Thánh nhạc
  5. Ủy ban Nghệ thuật Thánh
  6. Ủy ban Giáo sĩ - Chủng sinh
  7. Ủy ban Tu sĩ
  8. Ủy ban Giáo dân
  9. Ủy ban Mục vụ Gia đình
  10. Ủy ban Mục vụ Giới trẻ và Thiếu nhi (trước 2016 là Ủy ban Mục vụ Giới trẻ)
  11. Ủy ban Mục vụ Di dân
  12. Ủy ban Loan báo Tin Mừng
  13. Ủy ban Văn hóa
  14. Ủy ban Giáo dục Công giáo
  15. Ủy ban Truyền thông Xã hội
  16. Ủy ban Bác ái Xã hội
  17. Ủy ban Công lý và Hòa bình

Hội đồng Giám mục Việt Nam nhiệm kỳ (2016 - 2019)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên Ủy ban Giám mục Thành lập Giám mục chủ tịch Ghi chú
1 Ban thường vụ 1980 Giuse Nguyễn Chí Linh (chủ tịch)
Giuse Nguyễn Năng (phó chủ tịch)
Phêrô Nguyễn Văn Khảm (tổng thư ký)
Giuse Vũ Văn Thiên (phó tổng thư ký)
2 Ủy ban Giáo lý Đức tin 2001 Phaolô Bùi Văn Đọc
3 Ủy ban Kinh Thánh 2007 Giuse Võ Đức Minh
4 Ủy ban Phụng tự 1980 Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn
5 Ủy ban Nghệ thuật thánh 2007 Mátthêu Nguyễn Văn Khôi
6 Ủy ban Thánh nhạc 1998 Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản
7 Ủy ban Loan báo Tin Mừng 2001 Alfonso Nguyễn Hữu Long
8 Ủy ban Giáo sĩ - Chủng sinh 1980 Antôn Vũ Huy Chương
9 Ủy ban Tu sĩ 2001 Phêrô Nguyễn Văn Đệ
10 Ủy ban Giáo dân 1980 Giuse Trần Văn Toản
11 Ủy ban Truyền thông Xã hội 2006 Giuse Nguyễn Tấn Tước
12 Ủy ban Giáo dục Công giáo 2009 Giuse Đinh Đức Đạo
13 Ủy ban Mục vụ Giới trẻ và Thiếu nhi 2007 Phêrô Nguyễn Văn Viên
14 Ủy ban Văn hóa 2001 Giuse Đặng Đức Ngân
15 Ủy ban Công lý và Hòa bình 2010 Phaolô Nguyễn Thái Hợp
16 Ủy ban Mục vụ Gia đình 2007 Giuse Châu Ngọc Tri
17 Ủy ban Bác ái Xã hội - Caritas 2001 Tôma Aquinô Vũ Đình Hiệu
18 Ủy ban Mục vụ Di dân 2007 Giuse Đỗ Mạnh Hùng

Nguồn:[3]

Những hoạt động nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Một thành quả lớn của hội đồng Giám mục Việt Nam trước năm 1975 là việc hình thành và điều hành Viện Đại học Đà Lạt.[4]

Sau khi Hội đồng Giáo mục Việt Nam họp phiên đầu tiên năm 1980, hai phái đoàn Giám mục Việt Nam đã lên đường đi Rôma thực hiện cuộc viếng thăm Ad Limina theo thông lệ 5 năm một lần, yết kiến Giáo hoàng Gioan Phaolô II và viếng mộ hai thánh tông đồ PhêrôPhaolô. Đoàn thứ nhất do Hồng y Trịnh Văn Căn làm trưởng đoàn và đoàn thứ hai do Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình làm trưởng đoàn. Sau chuyến viếng thăm này, Vatican đã bổ nhiệm thêm nhiều giám mục mới như: Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang, Giuse Trịnh Chính Trực, Phêrô Trần Thanh Chung, Aloisiô Hà Kim Danh[cần dẫn nguồn].

Xin phong thánh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 11 năm 1985, Hồng y Trịnh Văn Căn đại diện cho 39 Giám mục Việt Nam đã đệ trình thỉnh nguyện thư lên Giáo hoàng Gioan Phaolô II đề nghị mở lại hồ sơ các chân phước tử đạo Việt Nam và cứu xét các vị lên hàng Hiển Thánh. Ngày 19 tháng 6 năm 1988, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã long trọng tôn phong 117 Thánh tử đạo Việt Nam tại Quảng trường Thánh Phêrô (Vatican).

Quan điểm về các vấn đề xã hội, chính trị Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 2012, Ủy ban Công lý và Hòa bình trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đưa ra bản thông cáo "Nhận định về một số tình hình tại Việt Nam hiện nay".[5] Theo đó, họ cho rằng nền kinh tế Việt Nam đang bộc lộ những nguy cơ nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân và tương lai của đất nước. Định hướng kinh tế lấy quốc doanh làm chủ đạo đã tạo ra độc quyền và lạm quyền, làm méo mó sự vận hành cần có của nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp nhà nước đóng góp ít vào tăng trưởng kinh tế nhưng lại nhận nhiều đặc quyền đặc lợi, gây bất công và kìm hãm sự phát triển của khối tư nhân. Bên cạnh đó, ủy ban này còn chỉ trích Luật đất đai hiện hành của Việt Nam vừa đi ngược tự nhiên, vừa không tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Luật đất đai đó quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng do Nhà nước quản lý đã làm cho hàng triệu người cảm thấy mất đất và chẳng có quyền tự do hành xử trên "mảnh đất ông bà tổ tiên". Trên thực tế, sở hữu toàn dân không phải là phương thức quản lý đất đai tốt nhất, còn việc Nhà nước làm chủ sở hữu đã phát sinh đặc quyền, đặc lợi của chính quyền các cấp trong việc quy hoạch và thu hồi đất cho các dự án, tước mất quyền căn bản của người dân.

Đến ngày 1 tháng 3 năm 2013, Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng chính thức gửi thư nhận định và góp ý sửa đổi Hiến pháp cho Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.[6] Qua lá thư này, họ chất vấn chính quyền Việt Nam về việc làm sao có thể thực hiện quyền tự do ngôn luận và tự do sáng tạo văn học, nghệ thuật khi mà tư tưởng bị đóng khung trong một chủ thuyết là chủ nghĩa Mác-Lênintư tưởng Hồ Chí Minh. Họ đề xuất nền tảng chủ thuyết để tổ chức và điều hành xã hội Việt Nam là truyền thống văn hóa phong phú của dân tộc chứ không phải bất kỳ một hệ ý thức nào khác. Thư này cũng cho rằng Hiến pháp Việt Nam không nên và không thể khẳng định sự lãnh đạo mặc nhiên, không thông qua bầu cử của bất kỳ đảng phái chính trị nào. Thư góp ý đề xuất nhà nước Việt Nam thực hiện mô hình quản lý theo kiểu tam quyền phân lập: lập pháp, hành pháp và tư pháp; phân biệt rõ vai trò của đảng cầm quyền và nhà nước pháp quyền. Nhìn chung, thư góp ý sửa đổi Hiến pháp này được sự ủng hộ của nhiều tín hữu và giới bất đồng chính kiến.[7] Có ghi nhận rằng nhiều giáo xứ, tổ chức Công giáo trong và ngoài nước đã tổ chức lấy ý kiến ủng hộ cho thư góp ý đó.

Ngày 9 tháng 5 năm 2014, Tổng giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc - thay mặt Hội đồng Giám mục Việt Nam viết thư kêu gọi nêu quan điểm về tình hình Biển Đông, cụ thể là Sự kiện giàn khoan HD-981. Trong đó, ông nói rằng những thỏa ước tôn trọng tình hữu nghị giữa hai quốc gia láng giềng, giữa hai Đảng cộng sản (Việt Nam và Trung Quốc) thực tế đã cho thấy không mang lại lợi ích cho dân nước Việt Nam, mà còn đưa đất nước vào tình trạng lâm nguy. Ông kêu gọi Chính phủ Việt Nam kiên trì đường lối ngoại giao, đối thoại để giải quyết xung đột nhưng có lập trường kiên định lấy đạo lý truyền thống dân tộc vì dân, vì nước để thực hiện đường lối chính sách với Trung Quốc.[8]

Ngày 4 tháng 5, năm 2015, Ban thường vụ của Hội đồng Giám mục Việt Nam gửi đến Chủ tịch Quốc hội Việt NamBan Tôn giáo Chính phủ Việt Nam bản nhận định và góp ý về Dự thảo Luật tín ngưỡng, tôn giáo mà nước này đang nghị trình. Theo đó, Hội đồng Giám mục Việt Nam không đồng ý bản dự thảo này.[9] Họ cho rằng nó đi ngược lại với quyền tự do về tín ngưỡng và tôn giáo, gây lo ngại nhiều hơn là đem lại sự bình an cho mọi người;[10] đi ngược lại với Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế (Điều 18) và Hiến pháp Việt Nam sửa đổi năm 2013 (Điều 24);[10] là một bước thụt lùi so với Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 của Việt Nam;[10] tạo ra quá nhiều thủ tục rườm rà, nhiều cơ chế khắt khe, ràng buộc, khiến các sinh hoạt tôn giáo bị cản trở.[10]

Tranh chấp sở hữu đất tòa khâm sứ cũ ở Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một trong những vụ việc gây nên những làn sóng lớn trong Công giáo cũng như truyền thông Việt Nam.Vào năm 2008, trước những diễn biến căng thẳng về tranh chấp đất đai có liên quan đến Tổng Giám mục Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt tại Tòa khâm sứ Hà Nội và tại khu đất 178 Nguyễn Lương Bằng, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã ra quan điểm về một số vấn đề trong hoàn cảnh hiện tại. Nguyên Tổng Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam, nguyên Tổng Giám mục Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt đã từ chức và Phêrô Nguyễn Văn Nhơn Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam lên kế nhiệm làm Tổng Giám mục Hà Nội[cần dẫn nguồn].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]