Phaolô Nguyễn Văn Bình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tổng giám mục
 Phaolô Nguyễn Văn Bình
Tổng giám mục Trưởng Giáo tỉnh Sài Gòn
(1960 - 1995)
Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh (1960 - 1995)
TGM Bình 1990.png
Giáo hộiCông giáo Rôma
Chức vụ chính yếu
Trưởng Giáo tỉnh Sài Gòn
Tổng giám mục đô thành Sài Gòn
Giáo tỉnhGiáo tỉnh Sài Gòn
TòaTổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh
Bổ nhiệmNgày 24 tháng 11 năm 1960
Tựu nhiệmNgày 2 tháng 4 năm 1961
Hết nhiệmNgày 1 tháng 7 năm 1995
Tiền nhiệmChức vụ thiết lập
Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền
Đại diện Tông tòa Sài Gòn
Kế nhiệmGioan Baotixita Phạm Minh Mẫn
Đại diện Tông tòa Địa phận Cần Thơ
TòaHiệu tòa Agnusiensi
Bổ nhiệmNgày 20 tháng 9 năm 1955
Tựu nhiệmNgày 20 tháng 12 năm 1955
Hết nhiệmNgày 24 tháng 11 năm 1960
Tiền nhiệmTiên khởi
Kế nhiệmChức vụ bãi bỏ
Giám mục chính tòa.png Philipphê Nguyễn Kim Điền
Giám mục Giáo phận Cần Thơ
Các chức khácGiám mục Hiệu tòa Agnusiensi
(1955 - 1960)
Truyền chức
Thụ phongNgày 27 tháng 3 năm 1937
Tấn phongNgày 30 tháng 11 năm 1955
Thông tin cá nhân
Tên khai sinhNguyễn Văn Bình
SinhNgày 1 tháng 9 năm 1910
Bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn
Mất1 tháng 7, 1995(1995-07-01) (84 tuổi)
Bệnh viện Thống Nhất, TPHCM
Nơi an tángNguyện đường Đại chủng viện thánh Giuse Sài Gòn
Hệ pháiCông giáo
Cha mẹÔng Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Trượng
Bà Anê Nguyễn Thị Luông
Alma materTiểu chủng viện Sài Gòn (1922 - 1932)
Đại học Truyền giáo Urbaniana, Rôma (1932 - 1937)
Khẩu hiệu"Hãy đi rao giảng"
Cách xưng hô với
Phaolô Nguyễn Văn Bình
Huy hiệu TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình.png
Danh hiệuĐức Tổng Giám mục
Trang trọngĐức Tổng, Giám mục
Thân mậtCha
Khẩu hiệu"Hãy đi rao giảng"
TòaTổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh
Chén thánh, di vật của Giám mục Bình, trưng bày tại Trung tâm mục vụ Tổng giáo phận Tp.Hồ Chí Minh

Phaolô Nguyễn Văn Bình (1910 - 1995) là một giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma người Việt Nam.[1] Ông nguyên là Tổng giám mục đô thành Tổng Giáo phận Sài Gòn từ năm 1960 - 1995 (từ năm 1976 đổi tên thành Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh). Khẩu hiệu Giám mục của ông là "Hãy đi rao giảng" (Mt 28:19-20).[2]

Nguyễn Văn Bình sinh tại Sài Gòn, sau 10 năm đi theo con đường tu trì thì được gửi đi Rôma du học. Sau quá trình dài 15 năm tu học, tháng 3 năm 1937, ông được thụ phong linh mục tại Rôma. Trong thời kỳ linh mục, ông từng đảm trách vai trò giáo sư Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn, tuyên úy các sư huynh Sài Gòn, chánh xứ họ Cầu Đất và thực hiện báo Tông Đồ.

Tháng 9 năm 1955, Nguyễn Văn Bình được thăng chức giám mục, với chức Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Cần Thơ (Địa phận Cần Thơ). Lễ tấn phong được tổ chức tại nhà thờ Đức Bà Sài Gòn cuối tháng 11 cùng năm. Cùng với việc thiết lập hàng giáo phẩm Công giáo, tháng 11 năm 1960, Nguyễn Văn Bình được chọn làm Tổng giám mục Tiên khởi Tổng Giáo phận Sài Gòn.

Từ năm 1966 đến khi thành lập Hội đồng Giám mục Việt Nam thống nhất, Nguyễn Văn Bình đảm trách chức Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam (Miền Nam).[3] Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, Nguyễn Văn Bình từng đảm trách vai trò Phó Chủ tịch trong ba nhiệm kỳ liên tiếp, kéo dài từ năm 1980 đến năm 1989. Nhà nước Việt Nam truy tặng Huân chương Đại đoàn kết dân tộc "vì những cố gắng trong việc đưa Công giáo vào khối đại đoàn kết toàn dân".[4] Tên ông cũng được sử dụng làm tên gọi một con đường trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh.[5]

Thân thế và tu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Văn Bình sinh ngày 1 tháng 9 năm 1910 tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn và là người con thứ năm trong gia đình gồm bảy anh chị em. Nguyễn Văn Bình là con ông Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Trượng (? - 1939) và bà Anê Nguyễn Thị Luông (? - 1925). Thân phụ ông là ông Biện của giáo họ Tân Định, một giáo dân nhiệt thành, làm việc tại nhà in Tân Định. Ngoài ông và người em gái liền kề sống đến tuổi trưởng thành, các anh em còn lại của ông đều qua đời từ nhỏ. Em gái ông, nữ tu Magarita Nguyễn Thị Sanh, sau trở thành Tổng phụ trách Hội dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán.[6] Một số nguồn tin cho rằng ông sinh tại Lương Hoà, Long An.[7]

Năm 1922, gia đình cho Nguyễn Văn Bình nhập học tại Tiểu chủng viện Sài Gòn, tại đây, ông gặp người bạn tri kỷ là Giacôbê Nguyễn Văn Mầu.[6] Sau khi hoàn thành chương trình Tiểu chủng viện,[6] mười năm sau đó, Giám mục Dumortier gửi chủng sinh Bình du học Rôma theo học trường Truyền giáo.[8]

Thời kỳ linh mục[sửa | sửa mã nguồn]

Sau quá trình tu học dài hạn, ngày 27 tháng 3 năm 1937, Nguyễn Văn Bình được truyền chức linh mục tại Vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô, Rôma, Italia.[8] Sau khi chịu chức linh mục, Nguyễn Văn Bình hỗ trợ mục vụ tại một vài giáo xứ tại Rôma. Năm 1938, theo yêu cầu từ giám mục Địa phận, ông trở về Việt Nam với sức khỏe suy kiệt. Tàu về đến Sài Gòn, linh mục Bình cần hai người đỡ hai bên để lên bờ. Sức khỏe tồi tệ từ khi linh mục Bình mắc lao phổi rất nặng và bị xẹp phổi 1 bên. Kể từ thời điểm này đến khi qua đời, ông chỉ thở bằng một lá phổi, vai trở nên nghiêng một bên, mất cân đối. Về đến quê hương, Nguyễn Văn Bình được bổ nhiệm coi sóc họ đạo Ðức Hòa (nay thuộc giáo phận Mỹ Tho), họ đạo vốn chỉ có 50 giáo dân, để hàng tuần đến bệnh viện Chợ Rẫy chữa bệnh.[9] Bốn năm sau đó, ông lại được bổ nhiệm làm giáo sư Tiểu Chủng viện Sài Gòn, từ năm 1947 lại kiêm thêm linh hướng trường Taberd trong 1 năm.[6]

Theo báo Sài Gòn Giải phóng, đầu năm 1947, Pháp khởi sự cuộc chiến tranh tái xâm lược Việt Nam. Lệnh kháng chiến cũng ban hành. Có 4 linh mục ở miền Nam là các linh mục Hiền, Kính, Luật và Sang đã đi chiến khu tham gia kháng chiến và dư luận cho rằng các linh mục này “lạc đàng”. Một tờ truyền đơn phổ biến cho rằng các linh mục này là những người yêu nước. Giám mục Jean Cassaigne Sanh yêu cầu linh mục Nguyễn Văn Bình bày tỏ ý kiến về nội dung của tờ truyền đơn. Linh mục Bình trả lời không làm hài lòng giám mục Sanh. Sau lần hỏi đáp với vị Đại diện Tông Tòa Sài Gòn, Nguyễn Văn Bình được điều chuyển rời khỏi chủng viện.[10]

Từ năm 1948, Nguyễn Văn Bình làm linh mục quản nhiệm họ đạo Cầu Đất, một họ đạo heo hút tại Đà Lạt, nơi có khoảng 300 giáo dân, tuy vậy trải trên địa bàn rộng gồm Đơn Dương, M’lọn, Bắc Hội và Đa Thọ.[10][3][9] Khi nhận được tin bổ nhiệm, linh mục Nguyễn Văn Bình nhận nhiệm sở mới. Tại đó ngoài công việc mục vụ, ông còn thực hiện tờ báo mang tên "Tông Đồ" từ năm 1948 đến năm 1950.[10][6] Trong thời kỳ quản nhiệm tại đây, linh mục Nguyễn Văn Bình sống đời thanh bần, có lúc ông đi bộ hơn 10 km để đến thăm giáo dân. Trong khoảng thời gian này, ông cũng hoàn thành các công việc mục vụ như xây dựng nhà thờ Đơn Dương, dựng lầu chuông nhà thờ Cầu Đất, xây Nhà nguyện ở cây số 12 (nay là nhà thờ Đa Lộc, giáo phận Đà Lạt) và cử hành bí tích Rửa Tội cho hàng trăm người mới theo đạo Công giáo. Ngoài các công tác mục vụ, Nguyễn Văn Bình còn quan tâm đến đời sống khó khăn về vật chất của giáo dân. Những chiều Tất Niên, ông đi bộ 6km trên quãng đường có nhiều cọp và bò rừng đế mua củi, gạo phát cho người nghèo ăn Tết, đặt bánh cho thiếu nhi mừng giao thừa.[9] Nguyễn Văn Bình được thuyên chuyển về Sài Gòn làm Giáo sư Đại Chủng viện năm 1955.[6]

Đại diện Tông Toà Cần Thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 20 tháng 9 năm 1955, linh mục Nguyễn Văn Bình được Toà Thánh bổ nhiệm chức làm giám mục Hiệu tòa Agnusiensi, Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông tòa Cần Thơ.[11] Lễ tấn phong cho vị giám mục Tân cử được tổ chức tại nhà thờ Đức Bà Sài Gòn ngày 30 tháng 11 cùng năm, với phần nghi thức truyền chức chính yếu cử hành bởi Chủ phong là Giám mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục, Đại diện Tông tòa Địa phận Vĩnh Long và hai giám mục Phụ phong là Giám mục Jean Cassaigne, Đại diện Tông Tòa Địa phận Sài GònTađêô Lê Hữu Từ, Đại diện Tông Tòa Địa phận Phát Diệm.[12]

Nguyễn Văn Bình chính thức nhận Địa phận Cần Thơ vào ngày 20 tháng 12 năm 1955, khi linh mục Tổng Đại diện Antôn Nguyễn Văn Thiện chào đón giám mục Tân cử tại tại cầu Bắc Cần Thơ. Ngày hôm sau, ông cử hành lễ đầu tiên tại núi Đức Mẹ Lộ Đức ông làm phép hôm trước. Tham dự lễ này có các giám mục người Việt đầu tiên ở miền Nam: Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục, Tađêô Lê Hữu Từ, Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, Giuse Trương Cao ĐạiSimon Hòa Nguyễn Văn Hiền.[3]

Khi tách rời khỏi Địa phận Nam Vang, Địa phận Cần Thơ không có bất kỳ cơ sở chính yếu nào: không tòa Giám mục — không nhà thờ Chính tòa - không Chủng viện, tu viện và không có ngân sách tài chính! Sau khi nhậm chức cai quản địa phận, Nguyễn Văn Bình triệu tập các linh mục trong địa phận, bàn bạc, xem xét và xây dựng chương trình phát triển địa phận. Sau khi thảo luận xong, giám mục Bình ra sức tập trung nguồn nhân lực thuộc địa phận, tìm kiếm sự hỗ trợ,... với ưu tiên hàng đầu là xây dựng các cơ sở tôn giáo và đào tạo nhân sự.[3]

Nguyễn Văn Bình chọn Nhà thờ Cầu Xéo làm Nhà thờ Chính Địa phận. Linh mục Antôn Nguyễn Văn Thiện, chính xứ Cầu Xéo được bổ nhiệm làm linh mục Tổng Đại diện Địa phận. Sau khi chọn nhà thờ chính, Nguyễn Văn Bình triển khai xây dựng Tiểu chủng viện Á Thánh Quý. Ngày 1 tháng 4 năm 1956, bắt đầu khởi công xây tạm bằng cây, mái lá, sàn lót gạch Tàu ở địa điểm cạnh bên nhà thờ Sóc Trăng. Sau khi xây dựng tạm, Nguyễn Văn Bình đưa các chủng sinh thuộc các khối Đệ Thất đến Đệ Tam, tuyển thêm cho các lớp Đệ Nhất và Đệ Nhị. Ngày 15 tháng 9 năm 1956, chính thức khai giảng năm học mới với số chủng sinh là 138. Chỉ một tháng sau đó, ngày 16 tháng 10, chủng viện được khánh thành với tên gọi Á Thánh Quý (lấy theo tên Phêrô Đoàn Công Quý. Nguyễn Văn Bình cũng đến địa phận Sài Gòn, mời gọi các linh mục giáo sư về giảng dạy tại Địa phận Cần Thơ. Hai năm đầu tiếp quản Địa phận Cần Thơ, Nguyễn Văn Bình sống tại nhà xứ của nhà thờ Chính tòa Cần Thơ. Năm 1957, ông mua đất và nhà Vallery, nay trên đường Nguyễn Trãi, Cần Thơ và cho sửa sang lại để sử dụng. Cuối tháng 11 năm 1958, ông cho làm phép và khánh thành Tòa giám mục.[3]

Nguyễn Văn Bình cũng thiết lập dòng nữ Tu Mến Thánh Giá nhằm mục đích hỗ trợ giáo sĩ truyền giáo trong địa phận. Linh mục Nicôla nhượng lại ngôi trường cũ trên mảnh đất 14.000 m2 cho địa phận và được giám mục Bình bổ nhiệm làm Bề Trên tiên khởi của dòng nữ Mến Thánh Giá và nhờ 4 nữ tu Dòng Con Đức Bà Rousseykeo (Nam Vang) hỗ trợ đào tạo các nữ tu. Tháng 10 năm 1957, dòng đã lần đầu khai giảng, số lượng 32 thiếu nữ. Trong thời kỳ ban đầu, Nguyễn Văn Bình cũng gửi một số ít nữ tu đến học tại Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán, trong đó có nữ tu Magarita Sanh, em ruột của ông.[3]

Nhận thấy thiếu nơi nghỉ ngơi cho các linh mục công tác tại Sài Gòn Nguyễn Văn Bình cho xây cất Trụ sở Cần Thơ tại Sài Gòn. Trụ sở có điạ chỉ 2A Lương Hữu Khánh, Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn. Tháng 10 năm 1957, ngôi nhà này chính thức hoàn thành, nhờ giám mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, linh mục chính xứ Chợ Đũi và linh mục chính xứ Cầu Kho hỗ trợ tìm địa điểm.[13] Nguyễn Văn Bình cũng quan tâm đến sức khỏe các linh mục, khuyến khích họ mỗi năm nghỉ 1 tháng, chọn địa điểm phù hợp dự định xây nhà nghỉ mát linh mục ở Hòn Chông. Sau khi tách giáo phận Long Xuyên năm 1960, Hòn Chông thuộc tân giáo phận còn giám mục Bình trở thành Tổng giám mục Sài Gòn, dự định bất thành. Nhằm mục đích sản xuất lương thực cho chủng viện và nhà dòng, Nguyễn Văn Bình quyết định mua 5 mẫu đất gần cầu Bình Thủy để tiến hành trồng trọt, chăn nuôi. Nguyễn Văn Bình cũng tiến hành mua một chiếc xe vận tải hạng nhẹ nhằm mục đích chở vật liệu xây dựng và mua sắm hàng hóa.[3][14]

Với mục đích phát hành các ấn phẩm Công giáo và sách giáo khoa, văn học, Nguyễn Văn Bình tiến hành mua lại một nhà in lớn, đặt tên là Cần Thơ Án Quán, bổ nhiệm linh mục Anphongsô Nguyễn Thiên Tứ làm giám đốc. Địa phận cho phát hành bán nguyệt san Thực Hành với số lượng 2.300 bản cho mỗi số nhằm mục đích liên kết giáo dân và giáo sĩ, khích lệ phong trào Công giáo Tiến hành.[3]

Trước 1954, nhiều nhà thờ trên địa bàn Địa phận bị hư hại. Nguyển Văn Bình cho sửa chữa nhiều nơi, trong đó có 7 nhà thơ xây lại hoàn toàn. Ngoài ra, ông cũng cho thiết lập thêm nhiều giáo họ. Thời kỳ này, giáo dân di cư từ Miền Bắc, Nguyễn Văn Bình sắp xếp cho định cư tại Cái Sắn, Định Hải và Phú Quốc. Tết năm 1957, ông tiếp nhận số lượng Việt kiều từ Campuchia hồi hương và cho họ định cư gần Cà Mau.[3]

Ngoài việc xây dựng các công trình tôn giáo, Nguyễn Văn Bình còn quan tâm đến việc đào tạo giáo sĩ: Có thời kỳ số linh mục là 45 cử hành mục vụ cho 83.000 giáo dân. Nhận thấy khó khăn này, giám mục Địa phận đào tạo giáo dân trong Ban Qưới chức nhằm hỗ trợ các linh mục, đồng thời khích lệ Công giáo Tiến hành. Ngoài ra, Nguyễn Văn Bình ra sức Thành lập Hội cựu tu sĩ Địa phận Cần Thơ và nhờ họ trợ giúp các linh mục làm các công tác mục vụ: dạy giáo lý, sinh hoạt các giới,... Nhóm này giao cho linh mục Nguyễn Thiên Tứ làm Giám đốc, tổ chức hội nghị mỗi 3 tháng. Tiếp đến, Nguyễn Văn Bình cho khai mở các trường tư thục Công giáo, dần dà, khoảng gần 10 trường Công giáo xuất hiện, dạy học theo chương trình chính phủ với học viên không phân biệt tôn giáo. Để tìm kiếm giáo viên, Nguyễn Văn Bình lập đoàn giáo viên với các thanh niên chưa lập gia đình và có ước muốn tham gia để tuyển chọn, huấn luyện về phương pháp dạy học và giáo lý và điều động họ đi dạy tãi các trường Công giáo vùng quê, có huấn luyện thêm. Tháng 11 năm 1956, Tòa thánh phê chuẩn Hiến chương Công giáo Tiến hành. Nguyễn Văn Bình khích lệ phong trào này dưới quyền linh mục Tổng đại diện Antôn Nguyễn Văn Thiện. Ngoài tờ báo Thực Hành để khích lệ, ông còn cho lập 2 hội: Hùng Tâm Dũng Chí, và Đạo Binh Đức Mẹ.[3]

Tính đến cuối tháng 11 năm 1959, Nguyễn Văn Bình đạt được các kết quả khả quan cho các xây dựng của mình: Trường trung học, tiểu học, mẫu giáo Công giáo có đều ở các tỉnh trong Giáo phận dạy số nam sinh là trên 12.000 và số nữ sinh trên 10.000, phần lớn là người Công giáo. Số linh mục tăng từ 52 linh mục địa phương năm 1955 lên 142 và số giáo dân tăng lên 150.201. Số Quới chức và các Thầy giảng là 1.427 người.[3] Trong thời kỳ này, ngoài xây dựng các cơ sở tôn giáo, đào tạo nhân sự, Nguyễn Văn Bình còn quan tâm đến việc cải thiện đời sống cho giáo dân tại các giáo điểm mới. Ông thường xuyên đi đến các tỉnh khác nhau để trao Bí tích Thêm Sức hoặc chiếu phim nhằm cải thiện đời sống. Trên các chuyến ghe đến các vùng khó khăn, ông an ủi và khuyến khích giáo dân sống đạo tốt.[9]

Trong làn sóng di cư vào miền Nam, giám mục Bình có công lao sắp đặt và bình thường hóa cho hơn nửa triệu người Công giáo di cư. Ông cũng quan tâm hạn chế những đố kị giữa người Công giáo hai miền, quyết định pha trộn tạo nên các họ đạo, dòng tu, hội đoàn và trường tư thục Công giáo gồm thành phần cả Công giáo miền Nam và miền Bắc.[15]

Tổng giám mục Sài Gòn[sửa | sửa mã nguồn]

Những hoạt động thời Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Giáo hoàng Gioan XXIII thiết lập hàng giáo phẩm tại Việt Nam và bổ nhiệm Giám mục Tông Tòa Giáo phận Cần Thơ Phaolô Nguyễn Văn Bình làm Tổng Giám mục chính tòa Tổng Giáo phận Sài Gòn.[16] Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam có bài nhận định về vai trò lịch sử của Tổng giám mục Bình trong việc được bổ nhiệm này trong hai luận điểm: việc bổ nhiệm giám mục Bình từ Cần Thơ lên Sài Gòn giải quyết được vấn đề bài toán chính trị - tôn giáo phức tạp; Giám mục Nguyễn Văn Bình là một mục tử mẫu mực và giản dị, có đường hướng canh tân và hòa giải theo Công đồng Vatican II, giữ được khoảng cách giữa chính trị và tôn giáo.[15] Ông là người cai quản số giáo dân 567.455 với 583 linh mục triều và 125 linh mục dòng cà 2.540 tu sĩ nam nữ của Tổng giáo phận Sài Gòn.[17]

Nói về vấn đề bổ nhiệm Tổng giám mục cho Thủ đô của Việt Nam Cộng hòa, linh mục Thiện Cẩm cho biết ý định của chính quyền Đệ nhất Cộng hòa Ngô Đình Diệm là đưa anh trai ông này, giám mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục từ Địa phận Vĩnh Long về làm Tổng giám mục Sài Gòn. Giám mục Thục có uy thế mạnh, vừa là anh trai Tổng thống, lại là niên trưởng giám mục đoàn miền Nam. Tuy vậy, Tòa Thánh điều chuyển giám mục Thục ra Tổng giáo phận Huế, quê hương ông này và điều chuyển Giám mục Địa phận Cần Thơ Nguyễn Văn Bình làm Tổng giám mục Sài Gòn.[15]

Nguyễn Văn Bình chính thức nhận Tổng giáo phận Sài Gòn vào ngày lễ Phục Sinh 2 tháng 4 năm 1961. Vừa về nhận giáo phận, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Giám mục đặc trách các Phong trào Công giáo Tiến hành – Tông đồ Giáo dân – của cả miền Nam. Ông dành nhiều thời gian đến thăm các đoàn thể tu đức như các Dòng Ba Đa Minh, Liên minh Thánh Tâm, Đạo binh Đức Mẹ, các đoàn thể công tác xã hội như Hội Bác Ái Vinh Sơn, Hội Ái hữu các người khuyết tật, các đoàn thể trí thức như Nhóm Pax Romana, Hội Giáo chức Công giáo, các đoàn thể thanh niên như Thanh sinh công, Thanh lao công, Sinh viên Công giáo, các đoàn thể thiếu niên như Thiếu Nhi Thánh Thể, Hùng tâm Dũng chí, Hướng đạo Sói Con Công giáo, các đoàn thể cho người lớn như Hội các bà mẹ Công giáo, Phong trào Gia lao công... Trong 5 năm đầu tiên sau khi trở thành Tổng giám mục, Nguyễn Văn Bình tiếp tục công việc sắp xếp và bình thường hóa đời sống đạo của giáo dân Công giáo di cư, vốn có số lượng lên đến hơn nửa triệu người của vị tiền nhiệm Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền.[9]

Đầu năm 1962, Giáo hoàng Gioan XXIII thông báo cuối năm sẽ họp Công đồng Vaticanô II với mục đích canh tân Giáo hội. Cuối năm 1962, cùng với các Giám mục sắp đi dự, ông đã chủ sự một buổi lễ canh thức để cầu nguyện cho Công Đồng và các Nghị phụ Việt Nam và xin các vị chuyển đạt tới Công Đồng “thỉnh nguyện thư của tín hữu Việt Nam” là mong được dùng tiếng Việt trong thánh lễ, mong có những đổi mới trong cơ cấu và sinh hoạt mục vụ ở địa phương. Chính ông là tác giả tinh thần của thỉnh nguyện thư này.[9] Tổng giám mục Bình đã tham dự các Giai đoạn I, II và IV của Công đồng này.[12] Trong trong khoảng cuối năm 1962, Nguyễn Văn Bình đến Rôma. Tại đây, ông có dịp gặp Tổng thư ký Bộ Truyền giáo, nội dung chính xoay quanh việc có linh mục và giáo dân tố cáo ông mua phần lớn cổ phần của khách sạn Caravelle.[18]

Nhà truyền giáo Andrej Majcen Quang - SDB (1907 - 1999) và Tổng giám mục Bình dự lễ hội Công giáo tại Trường Trung học Kỹ thuật Don Bosco Gò Vấp năm 1970

Tính đến năm 1963, số giáo dân gốc Hoa tại Tổng giáo phận Sài Gòn bao gồm giáo xứ Phanxicô Xaviê và các tỉnh không vượt ngưỡng 5.500 người. Tuy vậy, Nguyễn Văn Bình quyết định xây riêng một tiểu chủng viện dành cho cộng đồng Công giáo người Việt gốc Hoa là Tiểu chủng viện Thánh Carôlô (584 Hùng Vương, quận 6). Tính đến thập niên 1970, Tiểu Chủng viện này có hơn 30 chủng sinh, 2 chủng sinh du học tại Penang (Malaysia), 2 chủng sinh du học Rôma và 10 chủng sinh tiếp tục theo học Đại Chủng viện Sài Gòn. Sau thời kỳ thuyền nhân vượt biển, số người Việt gốc Hoa giảm dần đến rất ít, tuy vậy số chủng sinh theo học tại đây vẫn còn được ghi nhận.[7]

Cộng đoàn tu sĩ Châu Sơn đạt những thành tựu đáng ghi nhận, Đại Hội toàn Dòng Xitô năm 1963 quyết định nâng Đan viện tự trị Châu Sơn cùng với hai Đan viện Phước Sơn và Phước Lý lên hàng “Đan Phụ viện” (Abbatia). Thánh Bộ Dòng Tu chuẩn thuận qua văn thư vào tháng 11 năm 1963. Nhằm mục đích đấu dấu mốc trưởng thành của Dòng Xitô và cổ võ đời sống tu trì chiêm niệm, Nguyễn Văn Bình đề nghị tiến hành nghi lễ chúc phong ba Viện Phụ tiên khởi của Dòng tại Vương cung Thánh đường Đức Bà Sài Gòn. Buổi lễ tổ chức vào ngày 19 tháng 3 năm 1964 với sự tham dự của đông đảo các giám mục, chủ sự bề trên dòng Xitô Sighard Kleiner chủ sự. Ngoài ra, đại diện chính quyền, các cộng đoàn tu sĩ và người dân không phân biệt tôn giáo cũng tham dự.[19]

Nữ Ðan viện Biển Ðức Thánh Mẫu Maria thuộc dòng tu thuộc quyền giáo hoàng là dòng Nữ Biển Ðức Thánh Bathilde, phát xuất từ Pháp. Tại Việt Nam, đan viện đầu tiên được thành lập năm 1954 tại Buôn Ma Thuột, sau đó dời về Thủ Ðức do yêu cầu của Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình vào năm 1967.[20]

Giám mục tiền nhiệm Jean Cassaigne Sanh qua đời ngày 31 tháng 10 năm 1973. Ông chủ sự lễ an táng ngày 5 tháng 11 năm 1973 với sự hiện diện của phụ tá đặc biệt đại diện Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Khâm sứ Tòa Thánh, linh mục Bề Trên miền Hội Thừa Sai Paris, một số giám mục, đông linh mục và tu sỹ và khoảng 3.000 người.[21]

Vì tình hình phân bổ dân cư Tổng giáo phận Sài Gòn khá phức tạp do diện tích quá lớn, dân cư đa dạng nguồn gốc, sắc dân, kinh tế, văn hoá lẫn truyền thống sống đạo nên ông kiến nghị Toà Thánh chia Tổng giáo phận ra làm 3 giáo phận: Giáo phận Xuân Lộc, Giáo phận Phú Cường và Tổng giáo phận Sài Gòn.[9]

Tháng 4 năm 1975, đoán được việc thay đổi chế độ chính trị tại miền Nam Việt Nam, Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình 5 lần yêu cầu Khâm sứ Tòa Thánh Henri Lemaitre xin Tòa Thánh bổ nhiệm giám mục Thuận làm Tổng giám mục phó Sài Gòn. Chiếu theo đề nghị của Khâm sứ, Tòa Thánh bổ nhiệm giám mục Thuận làm Tổng giám mục Phó ngày 23 tháng 4 năm 1975.[22] Trước khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, Nguyễn Văn Bình kêu gọi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Trong những ngày đầu tiên khi Việt Nam thống nhất, ông ra thư chung với văn phong thận trọng, cam kết rằng người Công giáo sẽ làm việc với chế độ mới.[11]

Những tháng ngày đầu tiên sau Thống nhất Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 5 năm 1975, Nguyễn Văn Bình gửi thư đến các linh mục, tu sĩ và giáo dân, loan báo việc chiến tranh chấm dứt, hòa bình trở lại. Ông cũng nhận định đây là hồng ân của Thiên Chúa, theo góc nhìn của Kitô hữu và kêu gọi mọi người hãy vui sướng trong cảnh gia đình đoàn tụ, đồng thời ghi ơn những người kiến tạo hạnh phúc cho dân tộc.[23]

Ngày 12 tháng 5 năm 1975, Văn phòng Tòa giám mục Sài Gòn gửi thư cho tất cả các giáo xứ trong Tổng giáo phận, loan báo việc Tòa Thánh đã bổ nhiệm Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận làm Tổng giám mục Phó Sài Gòn ngày 25 tháng 4 và ông chính thức nhận nhiệm vụ mới vào cùng ngày (12 tháng 5). Nhận tin, Ủy ban Quân quản Thành phố Sài Gòn - Gia Định tuyên bố không chấp thuận việc bổ nhiệm này, và gửi thông báo yêu cầu Nguyễn Văn Thuận về lai nơi cư trú trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Thông báo trên đề ngày 1 tháng 7. Ngày 15 tháng 8 cùng năm, chính quyền đưa Tổng giám mục Phó Thuận về họ đạo Cây Vông, Nha Trang và bắt đầu thời gian quản chế dài cho đến khi ông này đi Úc, rồi Rôma năm 1989.[24] Chi tiết hơn, vào ngày 15 tháng 8, Ủy ban Quân quản mở cuộc họp tại Nhà hát Thành phố để tuyên truyền về âm mưu của tổng giám mục phó Nguyễn Văn Thuận. Tham dự có khoảng 350 giáo sĩ, tu sĩ. Lúc 14 giờ, hai Tổng giám mục chánh và phó từ Tổng giáo phận Sài Gòn được đưa đến Dinh Độc Lập. Khi đi dọc hành lang để đến phòng họp, Nguyễn Văn Bình đi trước Nguyễn Văn Thuận. Riêng ông Thuận bị một công an chặn và đưa đi khỏi địa điểm này. Tướng Trà cho Nguyễn Văn Bình biết lý do không chấp nhận Nguyễn Văn Thuận là do ông này thuộc dòng dõi Ngô Đình Diệm chống phá cách mạng.[25]

Nhật báo Tin Sáng, phát hành tại Sài Gòn ngày 18 tháng 9 năm 1975, loan tin một phái đoàn linh mục gồm các linh mục Hồ Thành Biên, Nguyễn Hữu Lễ, Phêrô Võ Thành Trinh, Lương Minh Ký trong chuyến đi từ Hà Nội về thăm miền Nam Việt Nam, đã tới thăm Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình. Theo bản tin, trong cuộc tiếp xúc này, đầu tiên sau ngày 30 tháng 4, Tổng giám mục Bình đã cùng với phái đoàn các linh mục “đề cập đến trách nhiệm và nghĩa vụ của người Công giáo Việt Nam đối với đạo Chúa Kitô và đối với dân tộc”.[10] Ngày 7 tháng 10 cùng năm, Nguyễn Văn Bình quyết định để nhà nước sử dụng các trường Tư thục Công giáo. Hội đồng Giám mục miền Nam Việt Nam nhóm họp vào ngày 15 tháng 12 cùng năm tại Trung tâm Công giáo.[26]

Ngày 7 tháng 10 năm 1975, Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình gửi thư cho Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để tuyên bố tán thành việc công lập hóa tư thục để nhằm thực thi chủ trương miễn học phí của Chính phủ. Trong thư này, vị tổng giám mục Sài Gòn cho biết sẵn sàng để Nhà nước sử dụng các cơ sở tư thục Công giáo trong Tổng giáo phận Sài Gòn với yêu cầu sử dụng cho mục đích giáo dục. Tổng giám mục Bình cũng cho rằng đây là một sự hợp tác chân thành, đóng góp của Công giáo vào lợi ích chung.[27]

Tổng giám mục Thành phố Hồ Chí Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu sau thống nhất: 1976 - 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình và Giám mục Phụ tá Sài Gòn Louis Phạm Văn Nẫm đến thăm tòa soạn báo Công giáo và Dân tộc

Sau khi thống nhất hai miền Việt Nam, tài sản giáo phận không còn, Nguyễn Văn Bình gặp khó khăn trong việc nuôi dưỡng các linh mục đang nghỉ hưu cũng như hỗ trợ các linh mục đau bệnh. Ông không đồng ý nâng cấp xe cá nhân khi đi thăm mục vụ, mà đề nghị dùng tiền để đảm bảo việc sinh hoạt cho giáo phận.[6] Báo Công giáo và Dân tộc nhận định, sau năm 1975, Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình định hướng giáo phận với đường lối mục vụ hòa hợp và hòa giải, nhằm giúp giáo dân sống đạo trong hoàn cảnh mới và các tinh thần này đúc kết trong Thư Chung Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 1980.[8]

Sau khi thống nhất, thiếu các linh mục cử hành thánh lễ. Do đó, tổng giám mục Bình thường dậy sớm để 4 giờ sáng khởi hành cử hành lễ cho các giáo xứ nhỏ, họ lẻ lúc 5 giờ vào mỗi ngày thứ 5 và thứ 6. Lo lắng các nữ tu bỏ về gia đình, Nguyễn Văn Bình thăm viếng các dòng để khích lệ họ. Những năm đầu sau biến cố năm 1975, nhiều linh mục đi học tập cải tạo. Nguyễn Văn Bình cũng quan tâm đến các linh mục này và thường xuyên đến thăm, an ủi và cầu nguyện cho họ.[7]

Tháng 7 năm 1976, các linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris bị trục xuất khỏi Việt Nam. Nhớ đến cộng đoàn giáo dân người Việt gốc Hoa, tổng giám mục Nguyễn Văn Bình bổ nhiệm truyền khẩu, chọn linh mục Stêphanô Huỳnh Trụ làm chánh xứ và các linh mục khác quản lý 3 nhà thờ đông giáo dân gốc Hoa, tiểu chủng viện Thánh Carôlô, hai trường Công giáo người Hoa, Ký Túc xá Phú Lâm và thăm mục vụ cộng đoàn này tại các tỉnh.[7] Cũng trong năm 1976, sau khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp kiến Tân hồng y Giuse Maria Trịnh Như Khuê ngày 31 tháng 8 năm 1976, ông này liền tiếp Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình vào ngày 1 tháng 9 cùng năm, sau đó tiếp chung tổng giám mục Bình và giám mục Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang vào ngày 2 tháng 9.[28] Sau khi trục xuất các linh mục Pháp từ Hội Thừa Sai Paris, chính quyền Việt Nam tiếp quản một phần diện tích 4.000 mét vuông tại góc đường Nguyễn Du, vốn trước đó tạm cho các linh mục người Pháp mượn. Do có thể chính quyền hiểu nhầm, tổng giám mục Nguyễn Văn Bình quyết định khiếu nại với chính quyền nhưng không nhận được hồi đáp.[29][30]

Năm 1977, ngày 2 tháng 5, các giám mục Giáo tỉnh Sài Gòn họp tại Trung Tâm Công giáo. Ba ngày sau đó, Tổng giám mục Bình bổ nhiệm linh mục Louis Phạm Văn Nẫm làm Tổng Đại diện Tổng giáo phận Sài Gòn. Ngày 10 tháng 9 cùng năm, ông cùng Hồng y Trịnh Như Khuê đi tham dự Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới.[31]

Vào năm 1978, Nguyễn Văn Bình tuyên bố bị mất đi các đất đai và tài sản Giáo hội có thể là một hước lành, vì nó giúp gần gũi với người dân hơn. Ông còn lên án việc dùng vũ trang chống lại sự quản lý của chính quyền mới.[11] Ngày 13 tháng 7 năm 1979, Tổng giám mục Bình cùng Giám mục Phụ tá Louis Phạm Văn Nẫm ra thư ngỏ bày tỏ lập trường của mình về vấn đề người di cư, trong đó cũng xin sự giúp đỡ của các tổ chức nhân đạo quốc tế hỗ trợ người di cư.[32]

Nguyễn Văn Bình đến với báo Công giáo và Dân tộc, dù tờ báo không phải tiếng nói chính thức của Giáo hội, và có lời ủy lạo: “Tờ báo Công giáo và Dân tộc được ba tuổi, buổi đầu gặp rất nhiều khó khăn trở ngại. Những khó khăn này một phần là do chúng ta vẫn tiếp tục sống trong tình trạng xưa, chưa thích nghi được với thời đại mới trong Giáo hội ngày nay, kể từ Đức giáo chủ Gioan XXIII. Phần khác là vì tờ báo Công giáo và Dân tộc lúc đầu cũng phải mò mẫm tìm đường... Nhưng bây giờ, sau ba năm, tôi thấy tờ báo đã có bộ mặt khá hơn. Chúng ta tất cả phải làm sao cho tờ báo trở thành tờ báo của chúng ta” (Trích báo Công giáo và Dân tộc ngày 9 tháng 7 năm 1978).[10]

Do việc vượt biên bằng đường thủy (thuyền nhân Việt Nam) quá nhiều và có những đồn đoán liên quan đến Công giáo, ngày 21 tháng 6 năm 1979, Tòa giám mục Sài Gòn ra thông báo của Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình. Trong thư, tổng giám mục Bình bác bỏ tin đồn bà Maria hiện ra kêu gọi lên đường và tin Caritas Công giáo hỗ trợ tàu vượt biển. Ông khẳng định, đường hướng mục vụ mới là sống trong cộng đồng dân tộc. Cùng năm, ngày 13 tháng 7, Tổng giám mục Bình và giám mục phụ tá Louis Phạm Văn Nẫm gửi thư ngỏ đến các giáo dân Công giáo toàn thế giới nhằm trình bày lập trường. Trong thư nhắc đến sự cảm thông đến những người phải rời bỏ quê hương, khẳng định các giám mục miền Nam kêu gọi giáo dân ở lại xây dựng chế độ mới, lên án các nước phương Tây gây ảnh hưởng đến tình hình ở Việt Nam và kêu gọi các tổ chức nhân đạo và xã hội quốc tế trợ giúp chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.[33]

Trong thập niên 1980, nhiều lần Nguyễn Văn Bình nhờ linh mục Huỳnh Trụ liên lạc với các giám mục tại Đài Loan với mục đích tìm dịp đến thăm giáo hội Đài Loan. Nhiều lần các giám mục Đài Loan ngỏ ý mời, nhưng Tổng giám mục Bình không được phép xuất ngoại.[7] Ông đảm nhận vai trò Phó Chủ tịch ba nhiệm kỳ đầu tiên của Hội đồng Giám mục Việt Nam sau khi Việt Nam thống nhất, trong khoảng thời gian từ năm 1980 đến năm 1989.[34]

Nguyễn Văn Bình tham dự và phát biểu tại lễ ra mắt Ủy ban Vận đồng người Công giáo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh, gọi tắt là Ủy ban Vận động Công giáo thành phố, tiền thân của Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh, được tổ chức tại Nhà văn hóa Thanh niên ngày 17 tháng 1 năm 1980 và tiếp tục có mặt hầu như trong mọi sinh hoạt lớn do Ủy ban này tổ chức để trực tiếp gặp gỡ, khuyến khích những nỗ lực trong việc sống niềm tin Công giáo.[10]

Ngày 22 tháng 6 năm 1980, Phaolô Nguyễn Văn Bình cùng tất cả giám mục Việt Nam đi thăm Ad Lima (bổn phận viếng mộ các Thánh tông đồ theo luật lệ của Giáo hội Công giáo buộc các giám mục của mình cứ mỗi 5 năm phải viếng thăm một lần).[35] Các giám mục chia thành 2 đoàn, phía Nam do ông dẫn đầu, còn phía Bắc do Hồng y - Tổng Giám mục Tổng giáo phận Hà Nội Giuse Maria Trịnh Văn Căn dẫn đầu.[36][37] Đoàn giám mục do Hồng y Căn dẫn đầu khởi hành ngày 17 tháng 6, còn đoàn do Tổng giám mục Bình đi sau, vào ngày 9 tháng 9 cùng năm.[38]

Khi các Giám mục Việt Nam đến Tòa Thánh, với bức Thư Chung mục vụ 1980, một ngày nọ, ông gặp riêng Giám mục Phó Giáo phận Long Xuyên Gioan Baotixita Bùi Tuần và nói: “Tòa Thánh có dự định đưa Đức cha về Sài Gòn làm phụ tá, dự phòng cho tương lai phức tạp. Sau một thời gian cân nhắc, tôi đã trình với Tòa Thánh là theo tôi dự kiến đó không thích hợp. Vì lý do sức khỏe, Đức cha nên ở lại Long Xuyên. Vừa sẽ có lợi cho Hội Thánh, vừa sẽ có lợi cho tất cả Đất Nước. Tòa Thánh đã đồng ý rút lại dự định”. Vì thế Giám mục Tuần cho rằng Tổng giám mục Bình nhắm đến hai cái lợi. Vừa có lợi cho Hội Thánh, vừa có lợi cho đất nước.[39]

Đón tiếp các phái đoàn tôn giáo: 1981 - 1991[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng y Trịnh Văn Căn và Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình tham dự một kỳ Họp thượng Hội đồng Thế giới.

Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình và giám mục Hải Phòng Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương đi đến Mát-xcơ-va tham gia Hội nghị các nhà tôn giáo Bảo việc sử sống khỏi thảm họa hạt nhân do Giáo hội Chính thống Nga chủ trì. Tại Hội nghị này, Nguyễn Văn Bình đã đọc tham luận của mình vào ngày 10 tháng 5 năm 1982.[40] Tháng 5 năm 1983, Nguyễn Văn Bình cùng 29 hồng y, giám mục đến từ 24/25 giáo phận tại Việt Nam tham gia kỳ họp - Đại hội lần II của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Trong kỳ họp này, Hội đồng cũng bầu lại các vị trí.[41] Nhân dịp 10 năm thống nhất Việt Nam, Nguyễn Văn Bình gửi thư đến giáo dân nói về sự kiện này. Trong thư, Nguyễn Văn Bình kêu gọi giáo dân Công giáo vui lên trong dịp này, vì trong 10 năm sau giải phóng, khối Công giáo đã chứng tỏ mình là công dân đích thực của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngoài ra, ông cũng nêu lên tin tưởng về những chính sách tôn giáo của chính quyền, kể ra việc đám bảo tự do tôn giáo thông qua việc hàng giám mục liên lạc với thế giới, tham gia các sự kiện của giáo hội Hoàn vũ. Cuối thư, ông kêu gọi giáo dân đừng bi quan trước những khó khăn hiện tại, mà cần đóng góp và phấn đấu thật nhiều.[42] Đầu tháng 11 cùng năm, ông cùng Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn, giám mục Phaolô Huỳnh Đông Các đi viếng thăm hai mộ thánh PhaolôPhêrô, đồng thời yết kiến giáo hoàng Gioan Phaolô II. Ngày 13 tháng 12, trước khi các giám mục Việt Nam về nuốc, họ đã đồng tế với giáo hoàng, cầu nguyện cho Giáo hội Việt Nam và đất nước Việt Nam.[43]

Ngày 29 tháng 6 năm 1985, Nguyễn Văn Bình chọn linh mục Inhaxiô Hồ Văn Xuân làm Thư ký.[6] Tiếp đó, ngày 8 tháng 10 năm 1987, tổng giám mục Bình bổ nhiệm linh mục Huỳnh Công Minh làm chính xứ Nhà thờ chính tòa Sài Gòn.[44] Ngày 15 tháng 6 năm 1988, Lễ Ðồng tế an táng Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế Philípphê Nguyễn Kim Điền trọng thể do Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình chủ tế cùng với hầu hết các Giám mục trong Hội đồng Giám mục và rất đông các linh mục các giáo phận của 3 giáo tỉnh và của giáo phận Huế.[45]

Trong thời gian này, Nguyễn Văn Bình đại diện đón tiếp nhiều đoàn nước ngoài như đại biểu Giáo Hội Chính Thống Nga vào ngày 24 tháng 11 năm 1987, đoàn đại biểu Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ do Tổng giám mục Roger Mahony dẫn đầu vào ngày 6 tháng 1 năm 1989. đón Hồng y Roger Etchegaray đặc sứ giáo hoàng vào ngày 10 tháng 7 năm 1989 và đón Hồng y Bernard Law, Tổng giám mục Tổng giáo phận Boston ngày 28 tháng 8 năm 1991.[6]

Khi chuẩn bị bước vào tuổi 80, Nguyễn Văn Bình quyết định xúc tiến ba công việc: nâng cấp Nhà hưu dưỡng cũ và xây dựng thêm dãy tại Nhà hưu dưỡng linh mục tại Chí Hòa, xây dựng Văn phòng mục vụ và Nhà khách Tòa Tổng giám mục và xây dựng nhà nghỉ dưỡng linh mục Bãi Dâu nhằm phục phục các linh mục đau bệnh và khách hành hương tại Đền thánh Đức Mẹ Bãi Dâu.[6]

Dù đau tim chưa bình phục và được nhiều người khuyên cản, Nguyễn Văn Bình quyết tâm đi dự lễ mừng thọ giám mục Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang. Ông cho rằng cần sống tình nghĩa với mọi người.[6] Ngày 28 tháng 6 năm 1990, Nhà truyền thống Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh chính thức khánh thành. Cùng trong năm, ngày 16 tháng 9, 7 điểm giữ trẻ do các dòng tu Công giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh được cấp phép. Vào dịp thượng thọ 80 tuổi, Nguyễn Văn Bình chính thức cho xây dựng nhà hưu dưỡng các linh mục vào ngày 30 tháng 9.[46] Ngay sau khi ý tưởng này, ngày 25 tháng 1 năm 1991 thì khởi công xây dựng đến ngày 30 tháng 8 cùng năm thì Tổng giám mục Bình cử hành nghi thức khánh thành. Cùng trong năm, ngày 7 tháng 10 năm 1991, linh mục Huỳnh Công Minh được bổ nhiệm làm Tổng đại diện thứ hai của Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh.[47] Văn phòng và Nhà khách Tòa giám mục Thành phố Hồ Chí Minh được khởi công nhân dịp sinh nhật thứ 83 của Nguyễn Văn Bình.[48]

Thương thuyết tìm người kế vị, sức khỏe suy yếu: 1992 - 1995[sửa | sửa mã nguồn]

TGM Bình dịp Thượng thọ bát tuần 1990

Ngày 14 tháng 1 năm 1992, phái đoàn Toà Thánh do Đức ông C.Celli dẫn đầu đến Hà Nội để làm việc với chính phủ Việt Nam, đề nghị giải pháp toàn bộ gồm ba điểm: Một là bổ nhiệm Giám mục Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng hiện là Giám quản Tông Tòa trở thành tổng giám mục Hà Nội; hai là Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận hiện là tổng giám mục phó Thành phố Hồ Chí Minh được thuyên chuyển về làm tổng giám mục Phó Hà Nội; và ba là, Giám mục Nicôla Huỳnh Văn Nghi làm tổng giám mục phó Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, do chính phủ Việt Nam không chấp nhận Giám mục Thuận làm tổng giám mục phó Hà Nội, và Toà Thánh cho đây là biện pháp toàn bộ nên giải pháp ba điểm này bất thành, phái đoàn Toà Thánh trong lần làm việc với chính phủ năm 1994 thừa nhận đây là một sai lầm.[48]

Trong khoảng thời gian kéo dài từ năm 1977 đến 1991, song song với việc hoàn chỉnh bản dịch cuốn sách Các giờ kinh Phụng Vụ, nhóm dịch thuật tiến hành dịch Tân Ước. Việc cơ bản hoàn tất cuối năm 1986, khi có bản quay rô-nê-ô đầu tiên. Từ năm 1987, Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình gợi ý nhóm dịch thuật nên dẫn nhập và dịch chú thích cho cuốn Tân Ước. Tháng 6 năm 1993, nội dung sẵn sàng xuất bản. Tòa Tổng giám mục xin phép cho xuất bản và sách Tân Ước phát hành ngày 13 tháng 8 năm 1994 với số lượng 17 năm.[49] Tháng 8 năm 1990, Nguyễn Văn Bình đề nghị linh mục Antôn Nguyễn Ngọc Sơn cần có hoạt động cho giới trẻ. Đáp lại đề nghị này, linh mục Sơn hứa với tổng giám mục Bình sẽ viết sách về các loài hoa. Tháng 1 năm 1993, Sứ điệp loài hoa ra mắt và được đón nhận rộng rãi, hết 35.000 cuốn trong lần xuất bản và tái bản đầu tiên. Nhận thấy kết quả tốt đẹp này, Nguyễn Văn Bình viết thư xin phép Sở Văn hoá Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh cho phép tái bản lần II. Tuy vậy, dù ba lần viết thư xin phép, đề nghị này không được hồi âm. Say này, linh mục Ngọc Sơn tìm hiểu lý do không cấp phép vì sách bị liệt vào dạng sách cấm do nhắc đến hoa bất tử.[50]

Sau đó, cuộc gặp từ ngày 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1993, phái đoàn Toà Thánh đưa ra giải pháp toàn bộ mới, trong đó giảm đi đề nghị đầu tiên so với năm 1992, vẫn giữ nguyên 2 đề nghị sau về các giám mục Huỳnh Văn Nghi và Nguyễn Văn Thuận. Nhưng chính phủ Việt Nam chỉ đồng ý đề nghị thứ hai về phần Giám mục Nghi mà không chấp nhận Giám mục Thuận ra Hà Nội. Vì Tòa Thánh cho đây là một giải pháp toàn bộ, Toà Thánh không bổ nhiệm Giám mục Nghi làm Tổng giám mục Phó như đã định.[51] Tổng giám mục Celli được cho là cố gắng linh động nhằm chọn được các giám mục kế vị ở Hà Nội để kế vị Hồng y Tổng giám mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn cũng như ở Sài Gòn để kế vị Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình.[52] Tổng giám mục Bình có khoảng thời gian dài mong muốn nghỉ hưu, nhưng Tòa Thánh và chính quyền Việt Nam không đồng thuận phương án chọn người kế vị ông.[11]

Mùa hè năm 1992, sức khỏe Nguyễn Văn Bình đột nhiên suy yếu nhiều. Tháng 8 năm 1993, ông mắc bệnh nhũn não, nằm liệt giường trong vòng một tháng tại bệnh viện Thống Nhất.[53] Từ năm 1993 cho đến khi qua đời ông đã gần 10 lần cấp cứu, lần nào cũng đều nguy hiểm đến tính mạng.[6] Trước tình hình này, ngày 10 tháng 8 năm 1993, Tòa Thánh bổ nhiệm giám mục Huỳnh Văn Nghi làm Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh. Nhận được tin này, ngày 25 tháng 8, Uỷ ban Mặt Trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh cùng Ban Tôn giáo Thành phố này có cuộc gặp trực tiếp với giám mục Nghi và đưa ra tuyên bố việc bổ nhiệm này là trái với pháp luật Việt Nam, không chấp nhận việc này. Ngày 5 tháng 9, Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhắc nhở giám mục Nghi dừng các hoạt động tôn giáo liên quan tại Thành phố và 10 ngày sau đó thì ra thông báo chính thức bác bỏ việc bổ nhiệm này.[51] Với việc bổ nhiệm này, vai trò quản lý giáo phận và danh hiệu Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh của giám mục Bình chỉ còn trên danh nghĩa.[18]

Ngày 19 tháng 4 năm 1994, Nguyễn Văn Bình từ Vũng Tàu về Toà Tổng giám mục để gặp người chị kết nghĩa là Mẹ Têrêsa. Trên đường về Thành phố, ông xảy ra đau tim nhưng không nghiêm trọng và cuộc gặp diễn ra suôn sẻ. Lần cuối Nguyễn Văn Bình gặp nữ tu này là vào ngày 26 tháng 3 năm 1995, một ngày trước dịp kỷ niệm 58 năm thụ phong linh mục của ông.[6] Trong khoảng thời gian sức khỏe suy kiệt dần, Nguyễn Văn Bình nhiều lần an dưỡng tại Vũng Tàu. Xen lẫn những lần về Thành phố, ông thường dõi theo các hoạt động thể thao, giải trí của các chủng sinh Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn và cử hành các nghi thức huấn đức cũng như trò chuyện. Khoảng hai năm cuối đời, ông chuyển về sống tại Đại Chủng viện.[54]

Xuân 1995, Nguyễn Văn Bình viết thư cảm ơn và tâm tình đầu xuân gửi Giáo hội Công giáo tại thành phố ngày 25 tháng 1 năm 1995, có thể được xem như ước nguyện và lời trăn trối của ông, trong thư có đoạn:[10] “Tôi nguyện chúc cho nền kinh tế của chúng ta năm mới này tiếp tục phát triển, nhưng không phải chỉ dành cho một số người được hưởng và phung phí mà là cho phúc lợi của mọi người, đặc biệt là cho người già và trẻ em; tôi cầu xin cho đất nước chúng ta không chỉ đạt được mức tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, mà còn thực sự phát triển ngày càng toàn diện, có nghĩa là làm sao để phẩm giá cao quý của con người, nền đạo đức tinh túy của dân tộc luôn được trân trọng, bảo vệ và không ngừng phát huy”.

Nhân dịp 20 năm ngày thống nhất Việt Nam, báo Sài Gòn Giải Phóng có bài phỏng vấn Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình. Nói về việc ông nghĩ gì khi thực hiện sinh hoạt trong 20 năm dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Nguyễn Văn Bình nhận định, ông cảm thấy 20 năm này như là phần dài nhất của cuộc đời, khi trông mong Việt Nam hùng mạnh và thịnh vượng, giáo hội phát triển và tự do tôn giáo một cách hoàn toàn. Khi được hỏi sau 20 năm làm việc dưới chế độ cộng sản, ông có còn sợ hãi không, Nguyễn Văn Bình cho biết ông vẫn sợ, do các chính sách tại các cấp trung ương luôn dễ dàng nhưng gặp nhiều vấn đề khó khăn tại các cấp địa phương. Nguyễn Văn Bình cho rằng có những vấn đề nên giải quyết một lượt hay vì dần dà từng phần, như việc khai mở các lớp đào tạo chủng sinh. Nói về Tổng giáo phận, Nguyễn Văn Bình cho biết không có vấn đề nào nổi cộm, tuy vậy vấn đề bổ nhiệm một Giám quản Tông Tòa hoặc vị kế vị đã kéo dài một thời gian nhưng không có bất kỳ giải pháp nào. Nói về quan điểm các hoạt động tôn giáo trong tương lai, Tổng giám mục Bình cho biết ông mong Đảng và Nhà nước giải quyết các vấn đề không chính đáng trong các chính sách tôn giáo đã kéo dài hàng chục năm.[55] Nói thêm về vấn để Uỷ ban Đoàn kết Công giáo, thời gian ban đầu Nguyễn Văn Bình có phát biểu được đánh giá là ủng hộ và cho các linh mục tham gia. Trong cuộc phỏng vấn này, Nguyễn Văn Bình đề nghị linh mục, tu sĩ rút dần ra khỏi Uỷ ban này, và nhận định Uỷ ban cần có thành phần nòng cốt là giáo dân và các linh mục tu sĩ chỉ góp mặt có chừng mực.[56]

Dưới thời kỳ quản lý của Nguyễn Văn Bình, các linh mục, tu sĩ và giáo dân miền Bắc di cư dần hòa nhập với sinh hoạt của giáo phận. Cơ sở Trung Tâm hành hương Fatima Bình Triệu được hình thành, Nhóm “Phiên dịch các giờ kinh phụng vụ” được tổ chức, nhiều hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế do người Công giáo điều hành dần xúc tiến và thành hình, lan đến nhiều giáo phận khác.[8]

Sinh hoạt cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Thời điểm tháng 3 năm 1975, trong Tòa tổng giám mục Sài Gòn có hai chiếc xe hơi Peugeot 404 và một chiếc Toyota. Tổng giám mục Bình cho rằng thời điểm lúc đó dân nghèo và khó khăn nên không dùng xe đẹp. Linh mục Huỳnh Trụ nhân dịp này tặng giám mục Bình chiếc xe hơi La Dalat của nhà xứ, và từ đó Nguyễn Văn Bình sử dụng phương tiện này trong các dịp cử hành thánh lễ cũng như tham gia hội nghị với các quan chức nhà nước cho đến khi qua đời. Khi đến thăm các giáo xứ nhỏ hoặc thăm viếng giáo dân, Nguyễn Văn Bình được chở trên chiếc Honda 50. Nhận thấy việc này, ông Võ Văn Kiệt tặng giám mục Bình một chiếc xe Volga, tuy vậy lại không sử dụng do quá sang trọng. Nhà nước lại tặng Nguyễn Văn Bình xe Lada Niva và ông chỉ sử dụng khi đi dự hợp hay thăm quan chức nhà nước.[7]

Trong quá trình làm Tổng giám mục, Nguyễn Văn Bình luôn có bài huấn đức hàng năm cho các linh mục, bài nói chuyện này được chuẩn bị kỹ lưỡng. Về nguyên tắc, khi có thư tố cáo linh mục nặc danh, Nguyễn Văn Bình không hề xem thư, chỉ khi có tên người tố cáo mới xem và giải quyết. Sau thống nhất Việt Nam, Nguyễn Văn Bình tìm các phương kế đến thăm các linh mục bị tù và thương lượng với chính quyền để xin cho một số linh mục được tha. Đối với các dòng tu sau năm 1975 đều gặp khó khăn. Chính vì thế, Tổng giám mục Bình thường đến thăm viếng các nữ tu, đặc biệt chở máy video và TV đến với Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm, dòng tu ở địa điểm xa trung tâm và có tài chính khó khăn nhất. Ông cũng có dịp đến chơi lô-tô với các nữ tu để họ giảm đi sự buồn chán khi ở lại trông coi tài sản Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán trong mùa Tết Nguyên Đán. Hành lang tại Tòa Tổng giám mục thời ông quản lý chưa có cửa, những người nghèo và bệnh tật dễ dàng tiếp cận tổng giám mục Bình để nhận hỗ trợ.[18]

Qua đời và tang lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Phần mộ Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình tại Nhà nguyện Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 29 tháng 6 năm 1995, Tổng giám mục Bình căn dặn linh mục Inhaxiô Hồ Văn Xuân và linh mục Antôn Mạnh chu tất công trình nhà hành hương Bãi Dâu nhằm phục vụ cho linh mục và giáo dân hành hương.[57] Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình qua đời ngày 1 tháng 7 sau đó, hưởng thọ 85 tuổi, được an táng tại nhà nguyện Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn.[16] Tuy không để lại di chúc, nhưng ông căn dặn các linh mục rằng không muốn được chôn cất tại Nhà thờ chính tòa, và muốn an táng tại Nhà nguyện của Tiểu chủng viện cũ, vì lý do đó là nơi khởi đầu quá trình tu học của ông.[57] Tòa Thánh Vatican đánh điện thư chia buồn, tái xác nhận việc bổ nhiệm Giám quản Tông Tòa Huỳnh Văn Nghi.[51]

Linh mục Inhaxiô Hồ Văn Xuân, sau này là Tổng đại diện Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh kể về lúc ông qua đời: Linh mục Hồ Văn Xuân là Giuse Mai Thanh Tùng đưa Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình trong tình trạng hôn mê rời bệnh viện Thống Nhất vào lúc lúc 4 giờ 30 sáng và về đến Tòa Tổng giám mục 15 phút sau đó. Một giờ sau khi về đến Tòa Tổng giám mục, lúc 5 giờ 45 phút, Tổng giám mục Bình qua đời. Giây phút lâm chung của cố Tổng giám mục được chứng kiến bởi em gái ông - nữ tu Nguyễn Thị Sanh, linh mục Thư ký Hồ Văn Xuân, hai nữ tu Tổng phụ trách Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán và Gò Vấp và nữ tu Lucia Năng, chăm sóc sức khỏe riêng cho cố tống giám mục. Về phía y bác sĩ có vợ chồng bác sĩ Trương Quang Nhơn, phó giám đốc bệnh viện Thống Nhất, đồng thời là bác sĩ riêng của Nguyễn Văn Bình.[9]

Ngày 5 tháng 7, lễ an táng của ông cử hành tại quảng trường trước Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn với sự tham dự của 23 giám mục, trong đó có Hồng y Tổng giáo phận Hà Nội Phaolô Giuse Phạm Đình TụngSứ thần Tòa Thánh tại Thái Lan, khoảng 30.000 giáo dân, 400 linh mục. Linh cữu ông sau đó chôn cất tại Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn theo di chúc của ông.[58][8] Việc tang lễ gặp nhiều khó khăn khi Giám quản Nicôla Huỳnh Văn Nghi không được chính quyền chấp nhận, Tổng đại diện Huỳnh Công Minh đến Pháp chữ bệnh, linh mục Hồ Văn Xuân phải nhờ cậy Giám mục Emmanuel Lê Phong Thuận, giám mục chính tòa giáo phận Cần Thơ - Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam và Giám mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm giúp dàn xếp một số vụ việc trong nội bộ Tổng giáo phận, để việc tổ chức tang lễ dù các lãnh đạo thành phố tạo mọi điều kiện thuận lợi. Linh mục Xuân cũng nhắc nhớ đã cộng tác chặt chẽ với linh mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm, rồi họ cùng linh mục Giuse Đinh Tất Quý thực hiện cuốn băng video “Giã biệt một Người Cha” cho phổ biến rộng rãi.[9]

Tưởng nhớ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân dịp giỗ 100 ngày của ông năm 1995, vào tháng 10, báo Công giáo và Dân tộc ra sách Đức Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình.[58] Hướng đến ngày kỷ niệm 100 năm sinh nhật Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình (1 tháng 09 năm 1910 – 1 tháng 09 năm 2010), Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức các hoạt động tưởng niệm những chặng đường cuộc đời ông:[16]

Tháng 5 năm 2010, Tòa Tổng giám mục Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh ra thông cáo “Thực hiện quyển sách về Đức Cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình” và mời gọi “quý cha, quý Bề trên, quý tu sĩ và anh chị em giáo dân cùng đóng góp bài viết về Đức Cố Tổng Phaolô”. Thông cáo nêu rõ nội dung chính của công trình biên soạn này là “Phác thảo chân dung vị Tổng Giám mục tiên khởi nhiều công trạng của Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, nêu bật hình ảnh, tính cách của ngài luôn sống tinh thần Công Đồng Vatican II. Tất cả nhằm chứng minh rằng, nơi ngài không có sự đối nghịch giữa niềm tin, lòng yêu mến Giáo hội với lòng yêu quê hương, gắn bó dân tộc. Phân tích tinh thần Phaolô Nguyễn Văn Bình, trên cơ sở tinh thần, đường lối xuyên suốt của Giáo hội”.[16]

Ngày 7 tháng 8 năm 2010, Ban Đối thoại liên tôn của Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức chuyến viếng thăm Thánh thất Cao Đài tưởng nhớ cố Tổng giám mục Phaolô Bình, người khởi xướng cuộc đối thoại liên tôn tại TGP. Trong chuyến thăm, phái đoàn Công giáo tặng các chức sắc Cao Đài bức hình chụp cố Tổng giám mục Phaolô và các chức sắc Cao Đài tại Tòa Tổng giám mục vào năm 1963.[16]

Trong hai ngày 27 và 28 tháng 08 năm 2010, tại Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình (Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh), diễn ra cuộc tọa đàm với chủ đề “Chân dung một vị Mục tử” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình.[16]

Tên của ông được đặt cho một đường phố tại quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Đường Nguyễn Văn Bình nằm bên cạnh Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Thời Pháp thuộc, đường mang tên Hồng Công. Từ 1897, đổi tên thành đường Cardis và đến năm 1955 đổi thành Nguyễn Hậu. Ngày 7 tháng 4 năm 2000, đường có tên mới theo tên cố Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình. Đường Nguyễn Văn Bình dài khoảng 100m, ngày nay được chọn làm đường sách Thành phố Hồ Chí Minh.[5]

Câu nói[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một bài viết của mình, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã trích dẫn lời của ông:

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lễ an táng, bài giảng của giám mục Giáo phận Vĩnh Long Giacôbê Nguyễn Văn Mầu có đoạn:[60]

Trong bài viết Tổng Giám mục Phao lô Nguyễn Văn Bình nhân vật của những thời điểm lịch sử, Giáo sư - Tiến sĩ Đỗ Quang Hưng, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Tôn giáo đưa ra nhận định về Nguyễn Văn Bình:[15]

Linh mục Ihaxiô Hồ Văn Xuân, nay là Tổng Đại diện Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, có thời gian là Thư ký của Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình có nhận định:

Trong bài viết Tổng Giám mục Phao lô Nguyễn Văn Bình nhân vật của những thời điểm lịch sử, Giáo sư - Tiến sĩ Đỗ Quang Hưng, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Tôn giáo nhận định:[15]

Hình ảnh khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Tiên khởi
Đại diện Tông Tòa
Hạt Đại diện Tông Tòa Cần Thơ (Địa phận Cần Thơ)

1955 - 1960
Kế nhiệm:
Chức vụ bãi bỏ
Philipphê Nguyễn Kim Điền
(Giám mục chính tòa)
Tiền nhiệm:
Thomas John Feeney, S.J.
Giám mục Hiệu tòa Agnus, Ai Cập[61]
1955 - 1960
Kế nhiệm:
Michel-Louis Vial
Tiền nhiệm:
Chức vụ thiết lập
Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền
(Đại diện Tông Tòa)
Tổng Giám mục Tổng giáo phận Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh
1960 - 1995
Kế nhiệm:
Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn
Tiền nhiệm:
'
Chủ tịch Ủy ban Giáo dân - Công giáo Tiến Hành
Hội đồng Giám mục Việt Nam (miền Nam)

1961 - ?
Kế nhiệm:
'
Tiền nhiệm:
'
Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam (miền Nam)
1966 - 1980
Kế nhiệm:
Chức vụ bãi bỏ
Tiền nhiệm:
Tiên khởi
Philípphê Nguyễn Kim Điền
Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam
1980 - 1989
Kế nhiệm:
Phaolô Huỳnh Đông Các
Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang

Thứ tự bổ nhiệm - tấn phong giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần XI
Phêrô Maria Khuất Văn Tạo
Ngày 7 tháng 5 năm 1955
Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần XII
Phaolô Nguyễn Văn Bình
Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền

20 tháng 9 năm 1955
Kế nhiệm:
Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần XIII
Tiền nhiệm:
Giám mục người Việt thứ 10 được tấn phong
Giuse Trương Cao Đại
19 tháng 3 năm 1953
Giám mục người Việt thứ 11 được tấn phong
Phaolô Nguyễn Văn Bình
Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền

30 tháng 11 năm 1955
Kế nhiệm:
Giám mục người Việt thứ 13 được tấn phong
Phêrô Maria Khuất Văn Tạo
7 tháng 2 năm 1956

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn

  1. ^ “Danh sách các Giám mục người Việt Nam”. Hội đồng Giám mục Việt Nam. Bản gốc lưu trữ Ngày 14 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 4 năm 2019. 
  2. ^ “Metropolitan Archdiocese of Thành-Phô Hô Chí Minh, Vietnam”. GCatholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 14 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 4 năm 2019. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h “Lich Sử GPCT tr 10-19”. Giáo phạn Cần Thơ. Bản gốc lưu trữ Ngày 15 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 15 tháng 4 năm 2019. 
  4. ^ “Những gương mặt tiêu biểu trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc”. Việt Nam Exodus trích từ Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 16 tháng 4 năm 2019. 
  5. ^ a ă “Những con đường gần gũi với người Công giáo Sài Gòn”. Báo Công giáo và Dân tộc. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 16 tháng 4 năm 2019. 
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k “Nhớ Về Một Người Cha”. Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 18 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 18 tháng 4 năm 2019. 
  7. ^ a ă â b c d “Vị Cha Chung Bình Dị, Hiền Lành và Khiêm Nhường”. Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 18 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 18 tháng 4 năm 2019. 
  8. ^ a ă â b c “Các Giám mục tuổi Tuất từ đầu thế kỷ 20 đến nay”. Công giáo và Dân tộc. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 16 tháng 4 năm 2019. 
  9. ^ a ă â b c d đ e ê ““Nhớ về một người cha” - Nhân lễ giỗ lần thứ 20 của Đức cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình”. Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập Ngày 16 tháng 4 năm 2019. 
  10. ^ a ă â b c d đ “Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình, tổng giám mục đầu tiên của Sài Gòn”. báo Sài Gòn giải phóng. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 18 tháng 4 năm 2016. 
  11. ^ a ă â b “Obituary: Archbishop Paul Nguyen Van Binh”. Independent. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015. 
  12. ^ a ă “Archbishop Paul Nguyên Van Binh † Archbishop of Thành-Phô Hồ Chí Minh (Hôchiminh Ville), Viet Nam”. Catholic Hierachy. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 16 tháng 4 năm 2019. 
  13. ^ Ngày nay, tòa nhà này nằm dưới sự quản lý của Dòng Mến Thánh Giá Cần Thơ.
  14. ^ Từ năm 1967, giám mục Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang trao cho Dòng Con Đức Mẹ Bình Thủy sử dụng làm Tu viện của dòng. Trung tâm Mục vụ Giáo phận Cần Thơ cũng được xây cắt trên mảnh đất này vào năm 2014.
  15. ^ a ă â b c “Tổng Giám mục Phao lô Nguyễn Văn Bình nhân vật của những thời điểm lịch sử”. Ban Tôn giáo Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 16 tháng 4 năm 2019. 
  16. ^ a ă â b c d “Sài Gòn: Những hoạt động kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Đức cố TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình”. Hội đồng Giám mục Việt Nam. Truy cập Ngày 16 tháng 4 năm 2019. 
  17. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 307
  18. ^ a ă â “Người cha hiền đáng kính”. Tổng giáo phận Sài Gòn. Truy cập Ngày 20 tháng 4 năm 2019. 
  19. ^ “Tìm hiểu Đan Viện Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương Lâm Đồng”. Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 19 tháng 4 năm 2019. 
  20. ^ “Dấu lặng giữa dòng đời”. Báo Công giáo và Dân tộc. Bản gốc lưu trữ Ngày 19 tháng 5 năm 2019. Truy cập Ngày 19 tháng 5 năm 2019. 
  21. ^ “Ðức Cha Cassaigne Sanh, Giám mục Người Cùi Việt Nam”. Giáo xứ Việt Nam Paris. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2016. 
  22. ^ “Tiểu Sử Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận”. Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 19 tháng 4 năm 2019. 
  23. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 105
  24. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 106
  25. ^ “Đức Hồng Y đáng kính người Việt Nam”. Conggiao.info. Bản gốc lưu trữ Ngày 18 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 18 tháng 4 năm 2019. 
  26. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 108
  27. ^ “Một kinh nghiệm dấn thân xã hội”. Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 19 tháng 4 năm 2019. 
  28. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 109
  29. ^ “ĐHY Phạm Minh Mẫn khiếu nại với Chính quyền về đất đai của ĐCV Thánh Giuse Saigòn”. Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 19 tháng 4 năm 2019. 
  30. ^ “Đài Vatican: Nhà nước pháp quyền hay tổ chức tội phạm?”. Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 19 tháng 4 năm 2019. 
  31. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 110
  32. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 112
  33. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 112-113
  34. ^ “Nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của Hội đồng Giám mục Việt Nam qua 13 kỳ đại hội”. Ban Tôn giáo Chính phủ, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 16 tháng 4 năm 2019. 
  35. ^ “Viet nam”. MEP. Truy cập Ngày 16 tháng 3 năm 2016. 
  36. ^ “ASIE/VIETNAM - Chronique de l'Eglise catholique au Vietnam”. Agenize Fides news. Ngày 25 tháng 1 năm 2016. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. 
  37. ^ “Thêm những bước tiến trong tiến trình quan hệ Việt Nam - Vatican”. Ban Tôn giáo nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 19 tháng 1 năm 2016. 
  38. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 114
  39. ^ “Tâm tình về đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình”. Công giáo và Dân tộc. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 18 tháng 4 năm 2016. 
  40. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 117
  41. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 117-118
  42. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 119-120
  43. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 121
  44. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 123
  45. ^ “Lời Chứng của Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý về Ðức Tổng Giám mục Nguyễn Kim Ðiền”. Taiwan Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 16 tháng 4 năm 2019. 
  46. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 127
  47. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 129
  48. ^ a ă Trương Bá Cần 1996, tr. 131
  49. ^ “Phỏng Vấn Lm Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh”. Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 19 tháng 4 năm 2019. 
  50. ^ “Truyện kể về Đức Giêsu qua sứ điệp loài hoa”. Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 19 tháng 4 năm 2019. 
  51. ^ a ă â Trương Bá Cần 1996, tr. 134
  52. ^ “Vatican softens stance on communist states The Irish Times”. Irish Times. Ngày 1 tháng 11 năm 1996. Truy cập ngày 11 tháng 07 năm 2015. 
  53. ^ “Hay Là Sự Bỏ Mình - Nhân Giỗ Lần Thứ 13 Đức TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình”. Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 20 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 20 tháng 4 năm 2019. 
  54. ^ “Tưởng Nhớ Ðức Tổng Giám Mục Saigon Phaolô Nguyễn Văn Bình (1.9.1910- 01.7.1995)”. Taiwan Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 19 tháng 4 năm 2019. 
  55. ^ “Saigon Archbishop Nguyen Van Binh Interviewed”. Taiwan Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 19 tháng 4 năm 2019. 
  56. ^ “Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo bao giờ đến hồi kết?”. Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 20 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 20 tháng 4 năm 2019. 
  57. ^ a ă “Lm Tổng Đại diện TGP TPHCM và Lm Chánh Văn phòng HĐGM chia sẻ về sự ra đi của ĐTGM Phaolô Bùi Văn Đọc”. Tổng Giáo phận Sài Gòn. Truy cập Ngày 16 tháng 4 năm 2019. 
  58. ^ a ă Trương Bá Cần 1996, tr. 138
  59. ^ “Nhân mùa Giáng sinh 2005: Người Công giáo "gặp Chúa trong lòng dân tộc". Báo Thanh Niên. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập 22 tháng 1 năm 2016. 
  60. ^ “Người Kiến Tạo Hoà Bình”. Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 17 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 17 tháng 4 năm 2019. 
  61. ^ “Titular Episcopal See of Agnus Egypt”. GCatholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 16 tháng 4 năm 2019. 

Sách

  • Trương Bá Cần (1996), Công giáo Việt Nam sau quá trình 50 năm (1945 - 1995), Thành phố Hồ Chí Minh: Công giáo và dân tộc 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]