Stêphanô Nguyễn Như Thể

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Tổng giám mục
 
Stêphanô Nguyễn Như Thể
Tổng giám mục Trưởng Giáo tỉnh Huế
(1998 – 2012)
Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế
(1998 – 2012)
Archbishop Nguyen Nhu The, Emeritus Archbishop of Hue, Vietnam.jpg
Giáo hộiCông giáo Rôma
Chức vụ chính yếu
Trưởng Giáo tỉnh Huế
Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế
Giáo tỉnhGiáo tỉnh Huế
TòaTổng giáo phận Huế
Bổ nhiệmNgày 1 tháng 3 năm 1998
Tựu nhiệmNgày 9 tháng 4 năm 1998
Hết nhiệmNgày 18 tháng 8 năm 2012
Tiền nhiệmPhilípphê Nguyễn Kim Điền
Kế nhiệmPhanxicô Xaviê Lê Văn Hồng
Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Huế
Giáo tỉnhGiáo tỉnh Huế
Tổng giáo phậnTổng giáo phận Huế
TòaHiệu tòa Tipasa in Mauretania
Bổ nhiệmNgày 23 tháng 3 năm 1994
Tựu nhiệmNgày 12 tháng 5 năm 1994
Hết nhiệmNgày 1 tháng 3 năm 1998
Tiền nhiệmGiacôbê Lê Văn Mẫn
Kế nhiệmKhuyết vị
Tổng giám mục phó Tổng giáo phận Huế
Giáo tỉnhGiáo tỉnh Huế
Tổng giáo phậnTổng giáo phận Huế
TòaHiệu tòa Tipasa in Mauretania
Bổ nhiệmNgày 7 tháng 9 năm 1975
Tựu nhiệmNgày 7 tháng 9 năm 1975
Hết nhiệmNgày 23 tháng 11 năm 1983
Tiền nhiệmTiên khởi
Kế nhiệmKhuyết vị
Đối khángGiám mục Hiệu tòa Tipasa in Mauretania (1975 – 1998)
Truyền chức
Thụ phongNgày 6 tháng 1 năm 1962
Tấn phongNgày 7 tháng 9 năm 1975
Thông tin cá nhân
Sinh1 tháng 12, 1935 (85 tuổi)
Hải Thọ, Hải Lăng, Quảng Trị, Việt Nam
Khẩu hiệu"Để cho trần gian được sống"
Cách xưng hô với
Stêphanô Nguyễn Như Thể
Huy hiệu TGM Nguyễn Như Thể.JPG
Danh hiệuĐức Tổng Giám mục
Trang trọngĐức Giám mục, Đức Tổng
Thân mậtCha, Đức Cha
Khẩu hiệu"Để cho trần gian được sống"
TòaTổng giáo phận Huế

Stêphanô Nguyễn Như Thể (sinh 1935) là một Giám mục Công giáo Việt Nam, nguyên Tổng Giám mục Giáo phận Huế (1998 - 2012). Khẩu hiệu Giám mục của ông làː Để cho trần gian được sống.[1]

Nguyễn Như Thể sinh tại Quảng Trị năm 1935 trong một gia đình có truyền thống Công giáo lâu đời. Với sự động viên từ hai người họ hàng là linh mục, cậu bé Thể theo đuổi con đường tu trì kể từ năm 12 tuổi. Sau 15 năm đi theo con đường tu học, theo học các chủng viện tại Huế cũng như Sài Gòn, ông được phong chức linh mục năm 1962.

Suốt giai đoạn linh mục, linh mục Nguyễn Như Thể chỉ tham gia mục vụ quản lý các giáo xứ trong tổng thời gian kéo dài chưa đến một năm. Phần lớn thời gian, ông đảm trách cương vị giáo sư chủng viện và sau này là Giám đốc Chủng viện. Ông từng du học Pháp và tốt nghiệp văn bằng Thạc sĩ Thần học Tín lý.

Sau biến cố năm 1975, linh mục Nguyễn Như Thể được bổ nhiệm chức Tổng giám mục phó Tổng giáo phận Huế và nhanh chóng được tấn phong vào tháng 9 năm 1975 bởi chủ phong là Tổng giám mục Philípphê Nguyễn Kim Điền. Sau thời gian 8 năm đồng quản lý giáo phận, vì lý do sức khỏe, ông từ nhiệm chức Tổng giám mục phó năm 1983.

Sau cái chết của Tổng giám mục Điền và nhiều đời giám quản liên tiếp, Tổng giám mục Thể được chọn làm Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Huế năm 1994 và chính thức trở thành Tổng giám mục tổng giáo phận này vào năm 1998. Ông từ nhiệm năm 2012 vì lý do tuổi tác theo Giáo luật Công giáo.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể sinh ngày 1 tháng 12 năm 1935 tại Giáo xứ Cây Đa, thuộc địa phận xã Hải Thọ, Tổng giáo phận Huế (huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị), có nguyên quán là thôn Nho Lâm, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.[2][3] Sau khi sinh được hai ngày, cậu được chịu nghi thức Bí tích Rửa Tội.[3]

Cụ nội Tổng giám mục Nguyễn Như Thể là ông Phaolô Nguyễn Quang Lập, từng theo thân mẫn lánh nạn Văn Thân rời Nho Lâm đến lánh nạn tại khu vực mà ngày nay thuộc giáo xứ Cây Đa. Ông Lập kết hôn với bà Anna Trần Thị Long, đảm nhận chức Câu trong Ban điều hành Giáo xứ. Trong số các người con, ngoài ông Phaolô Nguyễn Như Thành là thân phụ Nguyễn Như Thể, còn có linh mục Philipphê Nguyễn Như Danh.[2]

Song thân của Nguyễn Như Thể là ông Phaolô Nguyễn Như Thành (1901-1978) và bà Catarina Nguyễn Thị Nhạn (1904-1974).[2][4] Ông Thành cũng từng đảm nhận chức Câu, đứng đầu ban điều hành giáo xứ (ban chức việc).[2] Hai ông bà sinh được 7 người con gồm 3 nam và 4 nữ. Là một gia đình giáo dân nhiệt thành, ông bà khích lệ các con đi theo con đường tu tập hiến mình cho tôn giáo. Do ảnh hưởng của cha mẹ, trong số 7 người con, đã có ba người đi theo con đường tu trì Công giáo gồm Tổng giám mục Nguyễn Như Thể, nữ tu Nguyễn Thị Tùy thuộc dòng Mến Thánh Giá, và nữ tu Nguyễn Thị Thuyết thuộc dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân Huế.[4]

Quá trình tu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Chịu ảnh hưởng từ gia đình và từ người chú ruột, linh mục Philipphê Nguyễn Như Danh (1905-1980) và cậu ruột là linh mục Đa Minh Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Như Thể từ thuở nhỏ đã có ý muốn đi theo con đường tu trì.[2][4][5] Nguyễn Như Thể nhập học Tiểu chủng viện An Ninh, Huế vào tháng 7 năm 1947. Tiểu chủng sinh Thể được lòng các chủng sinh khác cũng như các giáo sư chủng viện. Cậu có đời sống nội tâm sâu sắc, có thành tịch cao trong học tập và thường tham gia các hoạt động cộng đoàn.[5] Sau khi tốt nghiệp tốt nghiệp văn tú tài toàn phần ban Triết chương trình Pháp, chủng sinh Thể nhập học Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn tháng 8 năm 1955. Quyết định đưa các đại chủng sinh nhập học tài Sài Gòn là do Hạt Đại diện Tông Tòa Huế sắp xếp cơ sở đại chủng viện cho Tiểu chủng viện An Ninh sử dụng để tránh chiến sự. Sau đó, chủng sinh Thể và các chủng sinh được đưa đến học tại Đại chủng viện Xuân Bích Thị Nghè.[4][5]

Trong quá trình tu học, chủng sinh Nguyễn Như Thể lần lượt nhận các chức nhỏ: chức Một (20 tháng 9 năm 1958) tại Đan viện Thiên An, chức Hai (24 tháng 1 năm 1959) tại La Vang, chức Ba và Bốn (ngày 13 tháng 3 năm 1960) tại Sài Gòn và chức Năm (ngày 27 tháng 5 năm 1961) tại Phủ Cam, Huế. Một ngày sau khi lãnh chức Năm, chủng sinh Nguyễn Như Thể được phong chức Phó tế tại Nhà thờ chính tòa Phủ Cam.[5]

Thời kỳ linh mục[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ sau hơn 7 tháng lãnh chức Phó tế, ngày 6 tháng 1 năm 1962, Phó tế Nguyễn Như Thể được thụ phong linh mục tại Vương cung Thánh đường Đức Mẹ La Vang, do Giám mục Jean-Baptiste Urrutia Thi làm chủ lễ.[4][6] Sau khi thụ phong, tân linh mục được bổ nhiệm đảm trách vai trò linh mục phó giáo xứ Thạch Hãn, hỗ trợ mục vụ cho linh mục Nguyễn Như Danh, là chú ruột tân linh mục. Ông và bắt đầu thi hành mục vụ tại đây ngày 1 tháng 2 năm 1962 và đảm trách vai trò này đến ngày 1 tháng 8 cùng năm.[7]

Sau đó, linh mục Thể được bổ nhiệm đảm trách vai trò Giáo sư Tiểu Chủng viện Hoan Thiện Huế và đảm trách vai trò này đến tháng 7 năm 1972, trừ giai đoạn du học từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 8 năm 1970. Thời gian du học, linh mục Nguyễn Như Thể học tại Đại học Công giáo Paris.[4][7] Ông tốt nghiệp Thạc sĩ Thần học Tín lý tại đây.[4]

Tháng 8 năm 1972, linh mục Nguyễn Như Thể được bổ nhiệm làm Giám đốc Tiểu Chủng viện Hoan Thiện Huế và đảm nhận chức vị này cho đến tháng 4 năm 1975.[7] Các tiểu chủng sinh ghi nhận Nguyễn Như Thể là một giáo sư tài đức, có tính cách trầm tĩnh, hiền hòa nhưng nghiêm nghị cùng tính kiên nhẫn để đào tạo các linh mục tương lai. Từ tháng 6 năm 1975, ông được bổ nhiệm làm Quản xứ Phanxicô, kế nhiệm người chú là linh mục Danh. Tuy vậy, công việc quản xứ chỉ vừa tạm ổn định thì linh mục Thể được chọn làm Tổng giám mục phó.[8]

Tổng giám mục phó Tổng giáo phận Huế[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 7 tháng 9 năm 1975, Tòa Thánh công bố quyết định bổ nhiệm linh mục Stêphanô Nguyễn Như Thể làm Giám mục hiệu tòa Tipasa,[9] chức vị Tổng giám mục phó Tổng giáo phận Huế.[10] Khẩu hiệu Giám mục của ông là "Pro Mundi vita" (Để cho trần gian được sống).[3][4] Lễ Tấn phong Giám mục được cử hành ngày 7 tháng 9 năm 1975 tại nhà thờ chính tòa Phủ Cam, do Tổng giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền chủ phong, với hai Giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc ChiPhanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách phụ phong.[8][11]

Ngày 23 tháng 11 năm 1983, Tòa Thánh chấp thuận đơn xin hồi hưu vì lý do sức khỏe của Tổng giám mục phó Nguyễn Như Thể.[4][8][12] Từ năm 1984 đến năm 1994, ông nghỉ dưỡng và hoàn toàn không tham gia các sinh hoạt mục vụ Công giáo.[12] Ngày 9 tháng 1 năm 1992, Giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm Tổng giám mục Thể làm thành viên của Hội đồng Tòa Thánh về Đối thoại Liên tôn.[13] Ông là vị Giám mục đầu tiên của Việt Nam được bổ nhiệm làm Thành viên ở một cơ quan Trung ương của Tòa Thánh.[4] Ông đã tham dự khóa họp của Hội đồng diễn ra từ ngày 9 đến 13 tháng 11 năm 1992 tại Rôma.[12]

Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Huế[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Tổng giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền qua đời năm 1988, Tổng giáo phận Huế được Hồng y Tổng giáo phận Hà Nội Giuse Maria Trịnh Văn Căn làm giám quản, sau khi Hồng y Căn qua đời thì linh mục Giacôbê Lê Văn Mẫn làm Giám quản.[12][14] Ngày 23 tháng 3[gc 1] năm 1994, khi nguyên Tổng giám mục phó Stêphanô Nguyễn Như Thể được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Huế với dạng thức Giám quản Sede vacante ad nutum Sanctae Sedis (Giám quản do trường hợp khuyết vị và do Tông Tòa định đặt).[15][16] Ông chính thức nhậm chức Giám quản ngày 12 tháng 5 cùng năm tại Nhà thờ chính tòa Phủ Cam. Tham dự lễ nhậm chức có 5 giám mục đến từ các giáo phận khác và 80 linh mục Tổng giáo phận Huế và ngoài Tổng giáo phận.[12]

Sau khi chính thức nhậm chức giám quản, Tổng giám mục Nguyễn Như Thể đã khôi phục lại được sự hoạt động của Đại chủng viện Huế. Đại chủng viện mở lại tháng 11 năm 1994, chiêu sinh các chủng sinh từ ba giáo phận là Huế, Kon TumĐà Nẵng. Ông cũng đã chủ sự nghi lễ tấn phong linh mục đầu tiên kể từ năm 1976, với 5 tân linh mục được phong vào tháng 9 năm 1994. Tháng 10 năm 1994, ông sang Rôma dự phiên họp Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới với chủ đề: "Đời sống Thánh hiến và vai trò của nó trong Giáo hội và trong thế giới". Trong khuôn khổ Thượng hội đồng, ông có bài phát biểu vào ngày 7 tháng 10.[17]

Năm 1995, Tổng giám mục Nguyễn Như Thể được chọn làm Chủ tịch Uỷ ban Linh mục, Tu sĩ và Chủng sinh và giữ chức danh này trong hai nhiệm kỳ, đến năm 2001.[18][19] Với cương vị này, ông tổ chức Hội nghị 6 Đại chủng viện và khai sinh Học viện Liên Dòng nữ để đào tạo các nữ tu từ ba dòng tu: Dòng Mến Thánh Giá, Dòng Con Đức Mẹ Vô NhiễmDòng Con Đức Mẹ.[20] Trong chuyến thăm mục vụ Ad Limina năm 1996 của Hội đồng Giám mục Việt Nam có 14 giám mục tham dự,[21] Tổng giám mục Thể là một trong số các giáo sĩ này và có bài giảng trong bối cảnh giám mục đoàn cử hành lễ tại Vương cung thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành.[22]

Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 3 năm 1998, Giáo hoàng Gioan Phaolô II ấn ký tông sắc bổ nhiệm Tổng giám mục Nguyễn Như Thể làm Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế.[20][23] Quyết định này được công bố chính thức vào ngày 9 tháng 3 năm 1998 bởi bộ Truyền giáo.[20] Việc bổ nhiệm này là một trong ba bổ nhiệm đạt được sau cuộc đối thoại giữa Tòa Thánh và chính quyền Việt Nam vào tháng 2 năm 1998.[24]

Lễ nhậm chức của Tân Tổng giám mục được tổ chức vào ngày 9 tháng 4 cùng năm. Do không thể đến Rôma nhận dây pallium, nghi lễ trao dây này cho Tân Tổng giám mục Nguyễn Như Thể được tổ chức ngày 14 tháng 8 năm 1998, nhân lễ kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang, do Hồng y – Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng thực hiện nghi thức.[25]

Tổng giám mục Nguyễn Như Thể tham dự chuyến viếng thăm Ad Limina 2002 và có bài giảng lễ trong thánh lễ tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô.[26]

Tính từ khi nhậm chức Giám quản cho đến tháng 1 năm 2012, Tổng giám mục Nguyễn Như Thể đã phong chức linh mục cho 100 tân linh mục xuất thân từ các dòng tu cũng như chủng sinh linh mục triều.[17][20]

Ngày 18 tháng 8 năm 2012, văn phòng Báo chí Tòa Thánh thông báo Giáo hoàng đã chấp thuận đơn từ nhiệm Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế của Tổng Giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể và bổ nhiệm Giám mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng, Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Huế làm Tổng giám mục kế vị.[27][28][29] Tính đến năm 2019, sức khỏe của Tổng giám mục Nguyễn Như Thể đã suy yếu: ông gặp khó khăn khi đi ra khỏi phòng và khỏi Tòa giám mục Huế.[30]

Tông truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể được tấn phong giám mục năm 1975, thời Giáo hoàng Phaolô VI, bởi:[11]

Tổng giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể đóng vai trò chủ phong trong nghi thức truyền chức cho giám mục:[11]

Tổng giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể đóng vai trò phụ phong trong nghi thức truyền chức cho các giám mục:[11]

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Linh mục Bề trên Antôn Huỳnh Đầy, dòng Thánh Tâm Huế nêu quan điểm về sự trợ giúp của Tổng giám mục Nguyễn Như Thể với hội dòng này:[31]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Francisco Xavier da Piedade Rebello
Giám mục Hiệu tòa
Tipasa in Mauretania, Algeria[9]

1975 – 1998
Kế nhiệm:
Timothy Joseph Carroll, S.M.A.
Tiền nhiệm:
Tiên khởi
Tổng giám mục phó
Tổng giáo phận Huế

1975 – 1983
Kế nhiệm:
Khuyết vị
Tiền nhiệm:
Giacôbê Lê Văn Mẫn
Giám quản Tông Tòa
Tổng giáo phận Huế

1994 – 1998
Kế nhiệm:
Khuyết vị
Tiền nhiệm:
Stêphanô Nguyễn Như Thể
Uỷ ban Linh mục, Tu sĩ và Chủng sinh
Chủ tịch Uỷ ban Linh mục, Tu sĩ và Chủng sinh
Hội đồng Giám mục Việt Nam

1995 – 2001
Kế nhiệm:
Phaolô Tịnh Nguyễn Bình Tĩnh[18]
Uỷ ban Giáo sĩ và Chủng sinh.
Giuse Hoàng Văn Tiệm[19]
Uỷ ban Tu sĩ
Tiền nhiệm:
Philípphê Nguyễn Kim Điền
Tổng giám mục
Tổng giáo phận Huế

1998 – 2012
Kế nhiệm:
Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguồn sách Tạ ơn hồng ân 50 năm linh mục ghi nhận ngày bổ nhiệm là ngày 23 tháng 4

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ðức Tổng Giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể - Nguyên Tổng Giám mục Tổng Giáo Phận Huế”. Taiwan Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 3 tháng 5 năm 2020. Truy cập Ngày 3 tháng 5 năm 2020.
  2. ^ a ă â b c Antôn Nguyễn Văn Thăng, Phêrô Phan Xuân Thanh, Đa Minh Phan Hưng, Micae Phạm Ngọc Hải 2012, tr. 8
  3. ^ a ă â “TIỂU SỬ ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC GIÁO PHẬN HUẾ TÊPHANÔ NGUYỄN NHƯ THỂ”. Tổng giáo phận Huế. Bản gốc lưu trữ Ngày 4 tháng 5 năm 2020. Truy cập Ngày 4 tháng 5 năm 2020.
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g “Đức Tổng Giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể mừng 40 năm Giám mục”. Báo Công giáo và dân tộc. Bản gốc lưu trữ Ngày 4 tháng 5 năm 2020. Truy cập Ngày 4 tháng 5 năm 2020.
  5. ^ a ă â b Antôn Nguyễn Văn Thăng, Phêrô Phan Xuân Thanh, Đa Minh Phan Hưng, Micae Phạm Ngọc Hải 2012, tr. 9
  6. ^ Antôn Nguyễn Văn Thăng, Phêrô Phan Xuân Thanh, Đa Minh Phan Hưng, Micae Phạm Ngọc Hải 2012, tr. 10
  7. ^ a ă â Antôn Nguyễn Văn Thăng, Phêrô Phan Xuân Thanh, Đa Minh Phan Hưng, Micae Phạm Ngọc Hải 2012, tr. 11
  8. ^ a ă â Antôn Nguyễn Văn Thăng, Phêrô Phan Xuân Thanh, Đa Minh Phan Hưng, Micae Phạm Ngọc Hải 2012, tr. 13
  9. ^ a ă “Titular Episcopal See of Tipasa in Mauretania, Algeria”. G Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 4 tháng 5 năm 2020. Truy cập Ngày 4 tháng 5 năm 2020.
  10. ^ Văn phòng Báo chí Tòa Thánh 1975, tr. 733,734
  11. ^ a ă â b “Archbishop Étienne Nguyễn Như Thể Archbishop Emeritus of Huế, Viet Nam”. Catholic Hierarchy. Truy cập Ngày 5 tháng 5 năm 2020.
  12. ^ a ă â b c Antôn Nguyễn Văn Thăng, Phêrô Phan Xuân Thanh, Đa Minh Phan Hưng, Micae Phạm Ngọc Hải 2012, tr. 14
  13. ^ Văn phòng Báo chí Tòa Thánh 1992, tr. 270
  14. ^ Antôn Nguyễn Văn Thăng, Phêrô Phan Xuân Thanh, Đa Minh Phan Hưng, Micae Phạm Ngọc Hải 2012, tr. 19
  15. ^ Văn phòng Báo chí Tòa Thánh 1994, tr. 782
  16. ^ “Giám Quản Tông tòa và việc bổ nhiệm các chức vụ”. Giáo luật Công giáo. Bản gốc lưu trữ Ngày 9 tháng 5 năm 2020. Truy cập Ngày 9 tháng 5 năm 2020.
  17. ^ a ă Antôn Nguyễn Văn Thăng, Phêrô Phan Xuân Thanh, Đa Minh Phan Hưng, Micae Phạm Ngọc Hải 2012, tr. 15
  18. ^ a ă “GIỚI THIỆU ỦY BAN GIÁO SĨ VÀ CHỦNG SINH Trực Thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam”. Hội đồng Giám mục Việt Nam. Bản gốc lưu trữ Ngày 4 tháng 5 năm 2020. Truy cập Ngày 4 tháng 5 năm 2020.
  19. ^ a ă “Nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của Hội đồng Giám mục Việt Nam qua 13 kỳ đại hội”. Ban Tôn giáo Chính phủ, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Truy cập Ngày 3 tháng 5 năm 2020.
  20. ^ a ă â b Antôn Nguyễn Văn Thăng, Phêrô Phan Xuân Thanh, Đa Minh Phan Hưng, Micae Phạm Ngọc Hải 2012, tr. 16
  21. ^ “CÁC GIÁM MỤC VIỆT NAM "AD LIMINA" 2009 và Các Ad Limina Đã Qua”. Simon Hòa Đà Lạt. Bản gốc lưu trữ Ngày 9 tháng 5 năm 2020. Truy cập Ngày 9 tháng 5 năm 2020.
  22. ^ Antôn Nguyễn Văn Thăng, Phêrô Phan Xuân Thanh, Đa Minh Phan Hưng, Micae Phạm Ngọc Hải 2012, tr. 32-34
  23. ^ Văn phòng Báo chí Tòa Thánh 1998, tr. 301
  24. ^ “Kết quả chuyến viếng thăm Việt Nam của Phái Ðoàn Toà Thánh cuối tháng 2/1998”. Taiwan Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 10 tháng 5 năm 2020. Truy cập Ngày 10 tháng 5 năm 2020.
  25. ^ Antôn Nguyễn Văn Thăng, Phêrô Phan Xuân Thanh, Đa Minh Phan Hưng, Micae Phạm Ngọc Hải 2012, tr. 17-18
  26. ^ Antôn Nguyễn Văn Thăng, Phêrô Phan Xuân Thanh, Đa Minh Phan Hưng, Micae Phạm Ngọc Hải 2012, tr. 35-37
  27. ^ “RINUNCE E NOMINE, 18.08.2012 ● RINUNCIA DELL'ARCIVESCOVO METROPOLITA DI HUÊ (VIÊT NAM) E NOMINA DEL SUCCESSORE”. Văn phòng Báo chí Tòa Thánh. Bản gốc lưu trữ Ngày 9 tháng 5 năm 2020. Truy cập Ngày 9 tháng 5 năm 2020.
  28. ^ Văn phòng Báo chí Tòa Thánh 2012, tr. 1111
  29. ^ “Ðức Cha Lê Văn Hồng Tân Tổng Giám mục chính tòa Giáo Phận Huế”. Taiwan Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 10 tháng 5 năm 2020. Truy cập Ngày 10 tháng 5 năm 2020.
  30. ^ “Thánh lễ tạ ơn 50 năm linh mục”. Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam. Bản gốc lưu trữ Ngày 10 tháng 5 năm 2020. Truy cập Ngày 10 tháng 5 năm 2020.
  31. ^ “Đức nguyên Tổng Giám mục Stêphanô vị Đại Ân Sư”. Dòng Thánh Tâm. Bản gốc lưu trữ Ngày 9 tháng 5 năm 2020. Truy cập Ngày 9 tháng 5 năm 2020.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]