Phêrô Maria Nguyễn Năng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Giám mục
 Phêrô Maria Nguyễn Văn Năng
Giám mục chính tòa Giáo phận Vinh
(1971 - 1978)
Gm Phêrô Maria Nguyễn Năng.png
Giáo hộiCông giáo Rôma
Giáo tỉnhGiáo tỉnh Hà Nội
Giáo phậnGiáo phận Vinh
TòaGiáo phận Vinh
Bổ nhiệm5 tháng 1 năm 1971
Tựu nhiệm12 tháng 3 năm 1971
Hết nhiệm6 tháng 7 năm 1978
Tiền nhiệmGioan Baotixita Trần Hữu Ðức
Kế nhiệmPhêrô Gioan Trần Xuân Hạp
Truyền chức
Thụ phong23 tháng 12 năm 1941
Tấn phong12 tháng 3 năm 1971
Thông tin cá nhân
Tên khai sinhNguyễn Văn Năng
Sinh1910
Nghệ An, Việt Nam
Mất6 tháng 7 năm 1978
Quốc tịchViệt Nam Việt Nam
Hệ pháiCông giáo
Cha mẹÔng Nguyễn Văn Đang (Cha)
Bà Nguyễn Thị Vừa (mẹ)
Con cáiKhông
Nghề nghiệpTu sĩ Công giáo
Alma materTiểu chủng viện Xã Đoài
(1924 – 1931)
Đại chủng viện Xã Đoài
(1935 – 1941)
Khẩu hiệu"Vâng lời Thầy, con thả lưới"
Cách xưng hô với
Phêrô Maria Nguyễn Năng
180px
Danh hiệuĐức Giám mục
Trang trọngĐức Giám mục, Đức Cha
Thân mậtCha
Khẩu hiệu"Vâng lời Thầy, con thả lưới"
TòaGiáo phận Vinh

Phêrô Maria Nguyễn Năng (tên đầy đủ là Phêrô Maria Nguyễn Văn Năng) (1910 - 1978) là một giám mục của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam. Ông nguyên là giám mục chính tòa của Giáo phận Vinh. Khẩu hiệu Giám mục của ông là "Vâng lời Thầy con thả lưới"[1].

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế và tu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Phêrô Maria Nguyễn Năng sinh năm 1910 tại xứ Kẻ Gai, hạt Xã Đoài, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, Giáo phận Vinh, là là con thứ năm trong gia đình thuần nông. Cha Giám mục Năng tên là Nguyễn Văn Đang, qua đời năm 1957 tại Kẻ Gai thọ 89 tuổi và mẹ là bà Nguyễn Thị Vừa, chết năm 1964 cũng tại Kẻ Gai thọ 84 tuổi. Ông có một người chị ruột tên là Nguyễn Thị Hợi đã chết và hai người em trai: Nguyễn Hảo chết tại quê và em trai thứ hai là Nguyễn Xuân Lập, sau đổi tên là Nguyễn Thiết Thạch.[2]

Lúc còn nhỏ,ông đi học chữ Hán và chữ Quốc ngữ và luôn đã tỏ ra là một người nết na, đức hạnh. Năm 1921, linh mục Kiên (Nguyễn Đồng Quê) quản xứ Lưu Mỹ, hạt Bảo Nham nhận làm nghĩa tử được hai năm thì linh mục Kiên qua đời. Linh mục Giuse Dy từng quen biết và phụ giúp linh mục Kiên nhận ông và cho đi học tại Chủng viện Xã Đoài vào năm 1924. Suốt thời gian học tại Chủng viện, ông được Giám đốc Chủng viện tên Văn (Père Le Gourierec), và các linh mục giáo sư chủng viện như Gioan Baotixita Trần Hữu Ðức, Phaolô Trần Đình Nhiên, các thầy giáo và anh em đồng hương yêu mến phục vì đức độ nết na và chăm chỉ học hành.[2]

Tháng 5 năm 1931, mãn Tiểu Chủng viện, Giám mục Eloy Bắc sai ông về giúp Sở Quản lý của Cố Laygue Kính đặc trách nhà Lẫm, coi sóc vấn đề lúa má, tài sản Nhà chung Xã Đoài.[2]

Tháng 8 năm 1935 hết hạn thực tập, ông được gọi về Đại chủng viện Xã Đoài, ông lần lượt lãnh nhận chức vụ và cuối cùng được thụ phong linh mục do Giám mục Eloy Bắc thụ phong tại nhà thờ chính tòa Xã Đoài vào ngày 23 tháng 12 năm 1941.[2]

Linh mục[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một tháng nghỉ ngơi sau khi thụ phong linh mục, ông được sai phụ trách Giáo xứ Voi (Hưu Lễ) hạt Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Nhận giáo xứ đầu tiên trong đời linh mục, vì nhận thấy đói nghèo, ông đi xin khắp nơi lương thực đem về cứu đói đồng bào, không phân biệt lương giáo. Vì Lạc Sơn là giáo họ thuộc Giáo xứ Voi, giáo dân tuy đông mà chưa có nhà thờ nên ông tìm cách và kiến tạo được một nhà thờ cho giáo họ này.[2]

Vì phải lăn lộn vất vả phục vụ, ông trở nên già yếu, màu da hoá ra xám đen, đều làm mọi người thương xót. Vì thế, năm 1944, ông được đổi đi phụ trách Giáo xứ Dũ Yên cũng trong hạt Kỳ Anh. Khi biết nhà xứ sụp nát, ông bỏ ra hai năm, kiếm tìm phương tiện, vận động tiền của, nhân công, để làm mới nhà xứ Dũ Yên.[2]

Năm 1946 ông làm linh mục Quản hạt Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Đến nhiệm sở tại đây không cần lo về lương thực, vật chất, tuy thế phải lo giải quyết êm đẹp các công việc với chính quyền. Năm 1952, khắp nơi trong Giáo phận, Công giáo bị ghét bỏ, các linh mục bị bách hại tù đày. Linh mục Cát, nguyên Quản lý Giáo phận bị bắt, Giám mục Giám quản đành đem ông về thay thế và ông xoay xở đóng tô nộp thuế cho chính quyền...[2]

Giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Đang lúc Giáo phận chịu nhiều khó khăn thì Giám mục chính tòa Trần Hữu Đức qua đời vào ngày ngày 5 tháng 1 năm 1971,[3]. Cùng ngày hôm đó, Tòa Thánh loan tin chọn linh mục Nguyễn Năng làm Giám mục chính tòa Kế vị. Tân giám mục sau đó được tấn phong tại Hà Nội ngày 12 tháng 3 năm 1971.[1] Giám mục Chủ phong cho ông là Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội Giuse Maria Trịnh Như Khuê, phụ phong có giám mục Phêrô Khuất Văn Tạo, giám mục chính tòa Giáo phận Hải Phòng và Tổng giám mục Phó Tổng giáo phận Hà Nội Giuse Maria Trịnh Văn Căn.[3] Cũng như vị tiền nhiệm, ông cai quản giáo phận Vinh trong hoàn cảnh hoang tàn.[2]

Năm 1976 với sự yêu cầu của các linh mục và giáo dân cùng một phần hỗ trợ tượng trưng của nhà nước, ông đồng ý cho chương trình tái thiết nhà thờ Chính Toà Xã Đoài. Với sự cộng tác của linh mục Quản lý Phaolô Maria Cao Đình Thuyên, công trình đã được khởi đầu năm 1977. Công việc đã hoàn thành và được cung hiến ngày 3 tháng 3 năm 1979 và khánh thành sau một ngày vào dịp lễ tấn phong tân Giám mục Phêrô Gioan Trần Xuân Hạp.[2]

Thời gian ông quản nhiệm gắn liền với thời kỳ khó khăn nhất của Giáo phận Vinh di cư, sơ tán, hồi cư, bom đạn tan hoang vật chất và tinh thần. Ông được đánh giá là một người Cha dịu hiền, yêu thương con cái, khiêm tốn tột bậc đối với mọi người.[2]

Ông qua đời ngày 6 tháng 7 năm 1978, thọ 68 tuổi, làm Giám mục 7 năm.[2]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia. “Ðức Cha Phêrô Maria Nguyễn Năng”. Vietnamese Missionaries in Asia. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2013. 
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h ĐỨC GIÁM MỤC PHÊRÔ NGUYỄN NĂNG
  3. ^ a ă Bishop Pierre Marie Nguyen Van Nang †

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]