Tađêô Lê Hữu Từ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Giám mục
 
Tađêô Anselmô Lê Hữu Từ O.Cist
Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Phát Diệm (1945–1959)[1]
Giám quản Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Bùi Chu (1948–1950)
Bishop Thaddeus Le Huu Tu, PhatDiem, Vietnam.jpg
Giáo hộiCông giáo Rôma
Chức vụ chính yếu
Giám quản Tông Tòa Địa phận Bùi Chu
Bổ nhiệmNăm 1948
Hết nhiệmNgày 3 tháng 2 năm 1950
Kế nhiệmLm. Giuse Maria Phạm Năng Tĩnh
Đại diện Tông Tòa Địa phận Phát Diệm
TòaHiệu tòa Daphnusia
Bổ nhiệmNgày 11 tháng 7 năm 1945[2]
Tựu nhiệmNgày 28 tháng 10 năm 1945[3]
Hết nhiệmNăm 1959[1]
Tiền nhiệmGioan Maria Phan Ðình Phùng
Kế nhiệmPhaolô Bùi Chu Tạo
Các chức khácGiám mục Hiệu tòa Daphnusia (1945–1967)
Truyền chức
Thụ phongNgày 23 tháng 12 năm 1928
Tấn phongNgày 28 tháng 10 năm 1945[3]
Thông tin cá nhân
SinhNgày 28 tháng 10 năm 1897
Di Loan, Quảng Trị
MấtNgày 24 tháng 4 năm 1967
Sài Gòn
Nơi an tángNghĩa trang Nhà hưu dưỡng Phát Diệm, Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
Khẩu hiệu"Tiếng kêu trong hoang địa"
Cách xưng hô với
Tađêô Lê Hữu Từ
Huy hiệu GM Lê Hữu Từ.jpg
Danh hiệuĐức Giám mục
Trang trọngĐức Giám mục, Đức Cha
Thân mậtCha
Khẩu hiệu"Tiếng kêu trong hoang địa"
TòaHiệu tòa Daphnusia

Tađêô Lê Hữu Từ (1897–1967) là một giám mục Công giáo của Việt Nam, với khẩu hiệu giám mục là "Tiếng kêu trong hoang địa" ("Vox Clamantis" Mt 3:3). Ông từng là Giám mục Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Phát Diệm, được xem là người thành lập và lãnh đạo lực lượng Tự vệ Công giáo chống Cộng tại Bùi ChuPhát Diệm trong giai đoạn 1950–1954. Ông cũng được xem là lãnh đạo tinh thần của những người Công giáo di cư vào miền Nam trong suốt giai đoạn 1954–1967.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Lê Hữu Từ sinh ngày 28 tháng 10 năm 1897 tại Di Loan, nay thuộc thị trấn Cửa Tùng, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị[4] Một số tài liệu khác cho rằng là ngày 29 tháng 10[5] hoặc ngày 27 tháng 10.[4] Lê Hữu Từ sinh trưởng trong một gia đình Công giáo với tên thánh là Tađêô (Tadeus hoặc Thaddaeus).[6] Cha là ông Lê Hữu Ý, thường gọi là ông Trùm Ý, do đảm nhiệm chức danh Trùm trong ban điều hành giáo phận,[gc 1] mẹ là bà Inê Dưỡng. Gia đình ông có 10 anh chị em, gồm tám nam và hai nữ, trong đó có hai người sớm qua đời.[9] Trong số các người này, ngoài Lê Hữu Từ sau là giám mục, còn có hai linh mục và hai nữ tu. Tất cả những giáo sĩ và tu sĩ là anh em Lê Hữu Từ đều thuộc Tổng giáo phận Huế.[9]

Thời kỳ tu học[sửa | sửa mã nguồn]

Do có thói nghịch ngợm, song thân không đánh giá cao khả năng tu trì của cậu bé Từ so với những người con khác.[9] Tháng 9 năm 1911, cậu bé Lê Hữu Từ bắt đầu con đường tu học bằng việc theo học ở Tiểu chủng viện An Ninh (Cửa Tùng), Quảng Trị. Mười năm sau đó, tháng 9 năm 1921, chủng sinh Từ tiếp tục theo học tại Đại chủng viện Phú Xuân, Huế. Chủng sinh Từ lần lượt được lãnh nhận các nghi thức như cắt tóc, bốn chức nhỏ và chức năm, chức sáu trong giai đoạn từ năm 1922 đến năm 1926.[4]

Sau khi lãnh nhận chức Phó tế, ngoài dự đoán của gia đình là Lê Hữu Từ trở thành linh mục triều, thuộc Địa phận Huế, Phó tế Từ quyết định gia nhập dòng Phước Sơn, tọa lạc phía Tây Bắc Huế. Đây là dòng khổ tu và các tu sĩ tự lực mưu sinh.[9] Ngày 15 tháng 9 năm 1928, Lê Hữu Từ gia nhập Dòng Xitô Phước Sơn tại núi Phước, Huế bằng nghi thức nhận áo dòng, trở thành thỉnh sinh của dòng.[4]

Linh mục[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 12 năm 1928, phó tế Lê Hữu Từ được truyền chức linh mục bởi giám mục chủ phong Marcou Thành, giám mục Địa phận Phát Diệm, thay thế giám mục Allys của Địa phận Huế gặp vấn đề về thị lực. Hơn một năm sau khi được truyền chức linh mục, ông chính thức cử hành nghi thức khấn dòng Xitô và nhận tên thánh thứ hai là Anselmô năm 1930. Năm 1931, ông chính thức giữ vai trò phụ trách Nhà Tập (Tập sư nhà tập).[4] Từ năm 1933, Phước Sơn chính thức sáp nhập vào dòng Xitô, Lê Hữu Từ được chọn làm đan viện phó (bề trên II).[4][9] Ông cũng kiêm nhiệm vai trò Tập sư nhà tập trong giai đoạn này. Ông thực hiện nghi thức vĩnh khấn ngày 20 tháng 8 năm 1933.[4]

Đầu năm 1936, giám mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng gửi thư xin Bề trên Dòng Xitô Phước Sơn lập chi dòng trong địa phận Phát Diệm.[4] Nhận lời giám mục Tòng, ngày 12 tháng 7 cùng năm, Hội dòng Phước Sơn bầu chọn linh mục Lê Hữu Từ làm bề trên tiên khởi với mục đích dẫn đoàn sáng lập dòng tu khổ hạnh Châu Sơn tại Nho Quan, Ninh Bình.[10] Ngày 8 tháng 9 năm 1936, ông chính thức nhận nhiệm vụ Bề trên Dòng Xitô Châu Sơn.[4] Khi đặt chân đến vùng Châu Sơn còn hoang sơ, linh mục Từ chỉ mang theo hành lý là một cây thánh giá, một tràng hạt, 12 đồng bạc Việt Nam và đồng hành có 12 tu sĩ. Nhóm tu sĩ này đã cải tạo tự nhiên để tiến đến nghi lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng thánh đường Xitô Nho Quan giữa tháng 2 năm 1937. Cùng sống đời sống khổ tu, Đan viện trưởng Lê Hữu Từ cũng không ngoại lệ, ông cũng lao động cực nhọc, thường đi chân đất chỉ trừ lúc cử hành thánh lễ Công giáo (đi dép).[9] Năm 1944, một số tu sĩ đầu tiên của dòng mới thực hiện nghi thức tuyên khấn. Giám mục Địa phận Phát Diệm Gioan Maria Phan Đình Phùng đến chủ sự nghi lễ và qua đời tại tu viện.[4]

Việc chọn lựa tân giám mục địa phận được giám mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, Giám quản Địa phận gấp rút tiến hành. Nhận thấy linh mục Lê Hữu Từ thông thạo về địa phận với kinh nghiệm 10 năm và là người đứng đầu dòng Xitô, giám mục Tòng tiến cử linh mục Từ lên Tòa Thánh.[4]

Thời kỳ giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Mục vụ Địa phận Phát Diệm trước 1954[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 7 năm 1945, linh mục Lê Hữu Từ được Giáo hoàng Piô XII bổ nhiệm làm Giám mục Hiệu tòa Daphnusia với chức vị Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Phát Diệm.[2][gc 2] Nhận được tin bổ nhiệm ngày 19 tháng 7, giám mục tân cử cùng một thầy tháp tùng đi xe đạp 800 km vào Huế gặp Khâm sứ Tòa Thánh Antoine Drapier. Sau khi trở về đan viện, giám mục tân cử đã đón phái đoàn chúc mừng từ giáo phận Phát Diệm, gồm ba linh mục. Họ đã bàn thảo về chương trình lễ tấn phong, vốn đã ấn định ngày 29 tháng 10 cùng năm.[9]

Giám mục Lê Hữu Từ chỉ mời các giám mục người Việt tham gia lễ tấn phong. Khi vị phụ phong là Giám mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục bị mật thám Pháp cản trở tham dự lễ, Giám mục Từ đã từ chối Giám mục Địa phận Hải Phòng đến tham dự và làm phụ phong trong nghi thức truyền chức.[11] Lễ tấn phong được cử hành vào ngày 28[3] hoặc 29 tháng 10 cùng năm tại Nhà thờ chính tòa Phát Diệm, với phần nghi thức truyền chức do chủ phong là giám mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng và phụ phong là giám mục Đa Minh Maria Hồ Ngọc Cẩn, giám mục Địa phận Bùi Chu. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cử phái đoàn đến dự lễ và chúc mừng. Phái đoàn gồm các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huy Liệu và cựu hoàng Bảo Đại. Hiện diện trong lễ tấn phong còn có Thượng toạ Thích Trí Dũng và Đại đức Thích Tâm Châu. Phái đoàn chính phủ trao thư chúc mừng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tân Giám mục Lê Hữu Từ, trong thư có đoạn:[9]

Nhân ngày tấn phong Giám mục của Giám mục Lê Hữu Từ (28 tháng 10 năm 1945), các linh mục Tổng Đại diện và các đại biểu là giáo dân ở các địa phận miền Bắc và miền Trung Việt Nam tiến hành họp hội nghị thành lập Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam[gc 3] với châm ngôn: Thiên Chúa và Tổ Quốc.[4][gc 4]

Suốt trong gần một thập niên trực tiếp quản lý địa phận Phát Diệm, Giám mục Lê Hữu Từ không bao giờ cho đóng cửa các chủng viện và không hạn chế những người muốn đi theo con đường tu trì trong các hội dòng. Tính đến năm 1953, Giám mục Từ đã truyền chức 43 linh mục, đại chủng sinh tăng từ 40 lên 80. Trong thời kỳ này, có khi Đại chủng viện Phát Diệm trở thành nơi đào tạo các chủng sinh từ các địa phận (hạt Đại diện Tông Tòa) khác như Hưng Hóa, Thanh Hoá, Hà NộiKon Tum. Ông phát triển Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm và thống nhất các chi nhánh Dòng Mến Thánh Giá trên lãnh thổ Việt Nam.[9]

Về lĩnh vực giáo dục, Giám mục Lê Hữu Từ cho duy trì trường Trần Lục và 48 trường Công giáo, tổng số học sinh vào khoảng 10.000 người.[9] Tháng 10 năm 1953, ông cho 48[gc 5] người gồm linh mục, chủng sinh, nữ tu và giáo dân đi du học Rôma.[4] Địa phận có một nhà in và một tờ báo là tuần báo Tiếng Kêu, về sau đổi tên gọi trở thành nguyệt san Đời Sống. Do có uy danh, khu vực Phát Diệm có an ninh cao hơn khi chiến tranh tái diễn và do đó nhiều nạn nhân chiến tranh đến Phát Diệm sinh sống. Trong số 60.000 người đến Phát Diệm, có một nửa trong số đó sống cạnh Tòa giám mục. Giám mục Lê Hữu Từ đình chỉ việc xây Đại chủng viện và kiến thiết Trường Trần Lục nhằm lấy hai mảnh đất và dựng 600 căn nhà cho các gia đình tản cư. Ông cũng dành kinh phí tài chính sửa chữa đê Cồn Thoi, nhằm đảm bảo mùa màng và có lương thực nuôi sống chủng sinh, dân tị nạn.[9]

Trong hoàn cảnh khó khăn, giám mục Từ vẫn tổ chức các hoạt động tôn giáo: đi kinh lý, giảng tĩnh tâm, tuần đại phúc và quan tâm trò chuyện với giáo dân. Ông tổ chức cách trọng thể việc rước tượng Đức Mẹ Fatima tại Địa phận. Tổng cộng, ông đã viết 90 thư luân lưu cho giáo dân. Ngoài các vấn đề thuần túy tôn giáo, ông cho thành lập trại tiếp cư, hỗ trợ đồng bào không phân biệt tôn giáo là nạn nhân chiến tranh.[4]

Các hoạt động trong chiến tranh Việt–Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 25 tháng 1 năm 1946, chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòaHồ Chí Minh đến thăm Phát Diệm và đề nghị giám mục Lê Hữu Từ đảm nhận chức Cố vấn Tối cao cho chính phủ.[4][gc 6] Hồ Chí Minh nhiều lần gọi ông là “người bạn thân thiết”, “người bạn quý mến”… Ông thường thư từ với Hồ chủ tịch và cộng tác với chính phủ Việt Nam Cộng hòa khi cử linh mục đi uý lạo đồng bào miền Nam Trung Bộ đầu năm 1949. Ông cũng được ghi nhận đã cho huy động giáo dân phá cầu Trì Chính để cản đường quân Pháp hành quân năm 1949.[11]

Thư chung ngày 23 tháng 3 năm 1947, Lê Hữu Từ kêu gọi giáo sĩ Công giáo đoàn kết chống Pháp: Các cha biết rằng, một vài người cộng tác của chúng ta và nhiều giáo dân đã bị bắt và giam giữ nhiều ngày, vì họ bị nghi ngờ là đảng viên của các đảng phái chống chính phủ. Nhiều người bị bắt do ông Huệ, một thày giảng của địa phận Thanh Hoá ẩn núp trong địa phận chúng ta, tung ra những tin đồn lung tung và thậm chí mạo danh tôi để đánh lừa dân chúng. Các cha đừng để nó tự do qua lại trong các họ đạo của mình và nếu phát hiện thì hãy bắt và nạp giải cho tôi. Kẻ nào tiếp tục liên hệ với ông ấy, hoặc che giấu nó, thì đừng phân bua rằng mình vô tội khi bị cảnh sát làm khó dễ. Hơn bao giờ hết, toàn dân phải một lòng đoàn kết, chiến đấu chống lại bọn xâm lược. Hãy để vấn đề đảng phái sang một bên, đừng bận tâm tới. Tôi đã nói đi nói lại nhiều lần với các cha, lần này nữa, tôi xin các cha hãy nghe lời tôi”.[11]

Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, chính phủ Việt Minh dời lên Việt Bắc. Dưới sự kích động của người Pháp, cùng với sự quá khích của dân chúng, một số cuộc xung đột đã nổ ra giữa lương dân và giáo dân. Để xoa dịu những xung đột và tránh những ảnh hưởng bất lợi, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thư cũng như gửi các đặc phái viên để giải quyết xung đột, cố gắng tranh thủ sự ủng hộ của Giám mục Lê Hữu Từ cũng như giới Công giáo.[12]

Trong cùng một thư đó, giám mục đã bảo các linh mục chớ nói đến chính trị trong các nhà thờ và cũng hãy cảnh giác đối với những người lạ mặt thường lảng vảng vào các xứ đạo để thám thính hay tuyên truyền ủng hộ Pháp. Ông gọi đó là những tên phản quốc. Ông liên tục chỉ đạo mở rộng các đội vũ trang, từ những trung đội "Vệ sĩ Công giáo" (1946), thành "Đoàn Cựu chiến binh Công giáo" (1947), rồi các đoàn "Dũng sĩ Công giáo" (1948)... Giáo khu Phát Diệm được tổ chức thành 3 khu quân sự là khu Phát Diệm, khu Phúc Nhạc và khu Gia Khánh, Gia Viễn, Nho Quan. Tất cả đều được đặt dưới quyền chỉ huy chung của "Tổng bộ Tự vệ Công giáo", do linh mục Hoàng Quỳnh làm Tổng chỉ huy.

Từ tháng 11 năm 1948, sau khi Giám mục Bùi Chu là Giuse Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn qua đời, Tòa Thánh chỉ định ông kiêm Giám quản Tông tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Bùi Chu. Ảnh hưởng và tổ chức của ông tiếp tục lan ra đến Bùi Chu[13]. Cả một khu vực Bùi Chu – Phát Diệm trở thành khu tự trị Công giáo với 40 vạn giáo dân, dưới sự cai quản của ông, ngoài quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thư ngày 25 tháng 1 năm 1949, Giám mục Lê Hữu Từ lên án Pháp:Quân lính Pháp, với một sự dã man tột độ, đã phá huỷ tất cả, không trừ một thứ gì, kể cả nhà thờ. Trong vòng một năm, gần 300 nhà thờ đã bị bom đánh phá. Ông đã bị Pháp xếp vào hàng ngũ là loại người có đầu óc quốc gia hơn hết và là linh hồn của cuộc kháng chiến chống Pháp. Chính vì vậy, thực dân Pháp dùng cách chia rẽ giám mục Từ với khả năng kháng chiến. Thư chung ngày 20 tháng 10 cùng năm, Giám mục Lê Hữu Từ bác bỏ thông từ từ hãng truyền thông AFP cho rằng cuộc hành quân của Pháp được tiến hành vì chính quyền Bảo Đại nhận được lời đề nghị của Giám mục Lê Hữu Từ. Ông tuyên bố Tôi không bao giờ có ý nghĩ xin bọn lính Pháp can thiệpTôi chưa hề có quan hệ với Chính phủ Bảo Đại….[11]

Lập trường của Giám mục Lê Hữu Từ là chống cả Pháp lẫn Việt Minh. Tuy vậy, do Việt Minh là tổ chức đang cầm quyền kháng chiến chống Pháp, người Công giáo "phải lựa chọn những gì mình không muốn lựa chọn", theo tác giả linh mục Trương Bá Cần, viết trên báo Công giáo và Dân tộc.[4] Sự chuyển hướng của Giám mục Lê Hữu Từ, theo Tiến sĩ Nguyễn Huy Thông là kết quả của sự đối đầu loại trừ nhau của vấn đề ý thức hệ mà cả đạo và đời lúc này chưa dễ vượt qua. Có thể thấy rõ qua câu nói của ông này với Chủ tịch Hồ Chí Minh khi gặp nhau ở Phát Diệm đầu năm 1946:[gc 7] "Tôi và dân Công giáo Phát Diệm đoàn kết và triệt để ủng hộ Cụ trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập tự do cho Tổ quốc nhưng nếu Cụ là cộng sản thì tôi chống Cụ từ giờ phút này".[14]

Di cư và công việc mục vụ tại miền Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Bia mộ Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ

Ngày 30 tháng 6 năm 1954, Giám mục Từ cùng với 143 linh mục và 80.000 giáo dân Phát Diệm thực hiện cuộc di cư vào Nam.[15][16] Một sĩ quan Việt Minh trẻ là Vũ Ngọc Nhạ đã giúp đỡ ông trong việc tổ chức di cư này.

Cuối tháng 6 năm 1954, làn sóng di cư từ Phát Diệm khởi sự. Giám mục Lê Hữu Từ cho tập trung giáo dân địa phận thành từng khối nhằm hỗ trợ lẫn nhau và cho họ định cư tại các vùng Bình Xuyên, Gia Kiệm, Phương Lâm, Bảo Lộc, Cần Thơ. Ông cho xây dựng tiểu chủng viện tại Phú Nhuận, Dòng Mến Thánh Giá tại Gò Vấp ngay sau khi di cư để tiếp tục các chương trình mục vụ. Thập niên 1960, Giám mục Từ cho xây nhà hưu dưỡng Phát Diệm tại Gò Vấp và xây dựng cơ sở tại Roma nhằm tạo phương tiện tài chính để giúp đỡ địa phận Phát Diệm.[9]

Tại miền Nam Việt Nam, giám mục Lê Hữu Từ hỗ trợ giáo dân và linh mục tìm kiếm nơi định cư. Sau khi tình hình ổn định, ông cho mở lại các hoạt động sinh hoạt tôn giáo. Vài năm sau đó, giám mục Từ được Hội đồng Giám mục miền Nam cử giữ chức Giám đốc Trung tâm Công giáo Việt Nam mới thành lập và làm Tổng Tuyên úy Quân đội Việt Nam Cộng hòa.[4] Ông giữ các chức vụ này trong thời gian ngắn trước khi tham gia Công đồng Vatican II. Trong thời gian tham gia Công đồng, ông sinh sống tại trụ sở Phát Diệm tại Rôma, kiến thiết phát triển cơ sở mà sau này là Foyer Phát Diệm. Giám mục Lê Hữu Từ cũng đến Thụy Sĩ thăm các đan sĩ Dòng Xitô Việt Nam (L’Ordre de Cîteaux) và nhận tin mắc bệnh ung thư.[9] Do sức khỏe suy yếu, ông hưu dưỡng tại tu viện Châu Sơn Đơn Dương, một chi nhánh của dòng Xitô Phước Sơn. Sau đó ông đến hưu dưỡng tại nhà An dưỡng Phát Diệm ở Gò Vấp.[4]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Lê Hữu Từ qua đời ngày 24 tháng 4 năm 1967 tại An dưỡng viện Linh mục Phát Diệm tại (Xóm Mới, Gò Vấp) Sài Gòn, sau 6 tháng bị ung thư phổi, hưởng thọ 71 tuổi.[9] Sau khi qua đời, thi hài cố giám mục được quàn tại đây trong hai ngày và ngày thứ ba được di chuyển đến Vương cung Thánh đường Đức Bà Sài Gòn. Lễ an táng được cử hành ngày 27 tháng 4 năm 1967, do Tổng giám mục Sài Gòn Phaolô Nguyễn Văn Bình làm chủ tế. Tham gia tang lễ có một số lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa như ông Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy Ban Lãnh đạo Quốc gia và ông Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Ủy Ban Hành pháp Trung ương (như Thủ tướng),… Đây là một tang lễ có số lượng người tham dự và số phương tiện trong đoàn đưa tang rất đông vào thời kỳ này. Mộ phần cố giám mục được xây dựng tại An dưỡng viện linh mục Phát Diệm (Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh).[9]

Tông truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ được tấn phong giám mục năm 1945, thời Giáo hoàng Piô XII, bởi:[1]

Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ là giám mục truyền chức linh mục cho:[1]

Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ đóng vai trò chủ phong trong nghi thức truyền chức cho giám mục:[1]

Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ đóng vai trò phụ phong trong nghi thức truyền chức cho các giám mục:[1]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Tiến sĩ Phạm Huy Thông viết trong bài viết Cách mạng Tháng Tám với các Giám mục người Việt đăng tải trên website Ban Tôn giáo Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam:[11]

Tóm tắt chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Daniel Llorente y Federico
Giám mục Hiệu tòa Daphnusia, Thổ Nhĩ Kỳ[17]
1945 –1967
Kế nhiệm:
Trống tòa
Tiền nhiệm:
Gioan Maria Phan Ðình Phùng
Đại diện Tông Tòa
Hạt đại diện Tông Tòa Phát Diệm

1945–1959[1]
Kế nhiệm:
Chức vị bãi bỏ
Phaolô Bùi Chu Tạo
Giám mục Tiên khởi Giáo phận Phát Diệm
Tiền nhiệm:
Tiên khởi
Giám quản Tông Tòa
Hạt đại diện Tông Tòa Bùi Chu[18]

1948–1950
Kế nhiệm:
Giuse Maria Phạm Năng Tĩnh

Thứ tự bổ nhiệm – tấn phong giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần IV
Gioan Maria Phan Ðình Phùng
28 tháng 5 năm 1940
Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần V
Tađêô Lê Hữu Từ

14 tháng 6 năm 1945
Kế nhiệm:
Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần VI
Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi
3 tháng 2 năm 1950
Tiền nhiệm:
Giám mục người Việt thứ 4 được tấn phong
Gioan Maria Phan Ðình Phùng
3 tháng 12 năm 1940
Giám mục người Việt thứ 5 được tấn phong
Tađêô Lê Hữu Từ

29 tháng 10 năm 1945
Kế nhiệm:
Giám mục người Việt thứ 6 được tấn phong
Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi
4 tháng 8 năm 1950

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ông Trùm là người đứng đầu ban Quới chức (Hội đồng Mục vụ Giáo xứ), theo Giáo luật Công giáo phải là người có uy tín và có khả năng qui tụ người khác.[7][8] Các ông trùm họ lo việc hỗ trợ các hành động mục vụ tôn giáo như đọc kinh nghiệm, phát triển cơ sở vật chất,... Các ông này có vai trò quan trọng họ đạo khi họ đạo không có linh mục.
  2. ^ Một số tài liệu ghi nhận là ngày 14 tháng 6 năm 1945.[5][1]
  3. ^ Liên đoàn hoạt động với mục đích:[4]
  4. ^ Về phía giáo quyền, bản điều lệ của tổ chức mới này được Khâm sứ Tòa thánh Drapier đệ trình lên Tòa Thánh và được Hồng y Bộ trưởng Bộ Truyền giáo đã tán thành trong thư trả lời vào tháng 5 năm 1946. Về phía chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho phép Liên đoàn hoạt động với tư cách pháp nhân được công nhận là một "hội" do Nghị định số 305 NV/DC ấn ký bởi Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng vào tháng 10 năm 1946. Liên đoàn hoạt động song hành với tổ chức Việt Nam Công Giáo Cứu Quốc, một thành viên của Mặt trận Việt Minh nhưng nhanh chóng dừng hoạt động trừ địa bàn Địa phận Vinh do Pháp nhảy dù chiếm đóng các thành thị. Tại địa phận Phát Diệm, vai trò của tổ chức này bị lu mờ bởi Tổng Bộ Tự Vệ Phát Diệm.[4]
  5. ^ Có nguồn tin là 50 người.[4]
  6. ^ Có tài liệu ghi nhận ngày 20 tháng 1 năm 1946.[11]
  7. ^ Thông tin có thể chưa chính xác về thời gian.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e “Bishop Thaddée Anselme Lê Hữu Từ, O. Cist. † Vicar Apostolic Emeritus of Phát Diêm, Viet Nam - Titular Bishop of Daphnusia”. Catholic Hierarchy. Bản gốc lưu trữ Ngày 6 tháng 7 năm 2020. Truy cập Ngày 6 tháng 7 năm 2020. 
  2. ^ a ă Văn phòng Báo chí Tòa Thánh 1945, tr. 387
  3. ^ a ă â Antôn Nguyễn Ngọc Sơn 2016, tr. 248
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q “Nhân Vật Công Giáo Việt Nam (tập 4) - Các Vị Giám Mục Một Thời Đã Qua (1933-1995) - Chương BẨY:Giáo phận Phát Diệm”. Dũng Lạc. Truy cập Ngày 8 tháng 7 năm 2019. 
  5. ^ a ă “Ðức Cha Tađêô Lê Hữu Từ Nguyên Giám mục Giáo phận Phát Diệm”. Catholic. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2019. 
  6. ^ Còn gọi là Thánh Giuđa (hoặc Judas), con của ông Giacôbê (James), không phải Judas Iscariot "Kẻ phản bội", là một trong 12 thánh tông đồ.
  7. ^ “TU CHỈNH HỘI ĐỒNG MỤC VỤ GIÁO XỨ THEO GIÁO LUẬT”. Giáo luật Công giáo. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 5 năm 2020. Truy cập Ngày 16 tháng 5 năm 2020. 
  8. ^ “Điều Lệ Quới Chức Gp Vĩnh Long”. Giáo phận Vĩnh Long. Bản gốc lưu trữ Ngày 16 tháng 5 năm 2020. Truy cập Ngày 16 tháng 5 năm 2020. 
  9. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m “Chân dung tiểu sử Đức Cha Anselmô Tađêô Lê Hữu Từ”. Giáo phận Phát Diệm. Bản gốc lưu trữ Ngày 23 tháng 6 năm 2020. Truy cập Ngày 23 tháng 6 năm 2020. 
  10. ^ “Những đan sĩ âm thầm phục vụ”. Công giáo và Dân tộc. Bản gốc lưu trữ Ngày 9 tháng 7 năm 2017. Truy cập Ngày 6 tháng 7 năm 2020. 
  11. ^ a ă â b c d “Cách mạng Tháng Tám với các Giám mục người Việt”. Ban Tôn giáo Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Truy cập Ngày 6 tháng 7 năm 2020. 
  12. ^ Các thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Giám mục Lê Hữu Từ đề ngày 23 tháng 1, ngày 1 tháng 2 và ngày 2 tháng 3 năm 1947).
  13. ^ Ông giữ nhiệm vụ này cho đến ngày 3 tháng 2 năm 1950, khi Giám mục hiệu tòa Sozopolitana ở Haemimonto Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi nhậm chức Giám quản Tông tòa Bùi Chu.
  14. ^ “Cách mạng Tháng Tám với các giám mục người Việt”. Văn hóa Nghệ An. Bản gốc lưu trữ Ngày 6 tháng 7 năm 2020. Truy cập Ngày 6 tháng 7 năm 2020. 
  15. ^ Số liệu theo thống kê các hạt đại diện tại miền Bắc Việt Nam, do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện cuối năm 1955.
  16. ^ Cùng di cư vào Nam với ông còn có các Giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi (Giáo phận Bùi Chu), Giuse Trương Cao Đại (Hạt Đại diện Tông Tòa Hải Phòng). Lúc bấy giờ, cả miền Bắc chỉ còn ba giám mục là Giuse Maria Trịnh Như Khuê (Hạt Đại diện Tông Tòa Hà Nội, Đa Minh Hoàng Văn Đoàn (Hạt Đại diện Tông Tòa Bắc Ninh) và Gioan Baotixita Trần Hữu Ðức (Hạt Đại diện Tông Tòa Vinh).
  17. ^ “Titular Episcopal See of Daphnusia, Turkey”. G Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 6 tháng 7 năm 2020. Truy cập Ngày 6 tháng 7 năm 2020. 
  18. ^ “Diocese of Bùi Chu, Vietnam”. G Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 6 tháng 7 năm 2020. Truy cập Ngày 6 tháng 7 năm 2020. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]