Bảy Viễn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
LÊ VĂN VIỄN
Tiểu sử
Biệt danh Bảy Viễn
Sinh

1904

Long An, Việt Nam
Mất

1971 (67 tuổi)

Paris, Pháp
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Quốc gia Việt Nam
Thuộc Flag of Binh Xuyen Army.svg Quân đội Bình Xuyên
Năm tại ngũ 1948-1955
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị Flag of Binh Xuyen Army.svg Lực lượng Bình Xuyên
Chỉ huy Flag of Binh Xuyen Army.svg Quân đội Bình Xuyên
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia

Lê Văn Viễn tức Bảy Viễn (1904-1971), nguyên là tên của một tướng cướp lừng danh trước năm 1945. Về sau tham gia tổ chức Lực lượng vũ trang kháng chiến chống Pháp, sau ly khai trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Hoàng thân Bảo Đại làm Quốc trưởng, được phong cấp bậc Thiếu tướng Quân đội Quốc gia. Ông cũng là Thủ lĩnh của Lực lượng Bình Xuyên kiêm Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn. Năm 1955, ông chỉ huy lực lượng này chống đối lại Chính phủ và bị Thủ tướng Ngô Đình Diệm dẹp tan. Ông phải đào thoát và sau đó lưu vong sang Pháp

Thân thế và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm Giáp Thìn 1904 tại Phong Đước, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay là Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh).

Tung hoành ngang dọc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1921, ông bị vào tù lần đầu với bản án 20 ngày tù giam khi mới 17 tuổi do phạm tội trộm xe đạp. Đến năm 1927 ông phạm tội hành hung người khác và bị phạt giam 2 tháng tù.

Năm 1936, ông bị chính quyền Nam Kỳ tuyên án 12 năm khổ sai đày đi Côn Đảo do tội cướp có vũ trang. Tuy nhiên, đến năm 1940, ông vượt ngục thành công về đất liền sau 4 lần thất bại.

Năm 1942, ông bị bắt trong vụ tổ chức cướp xưởng mộc Bình Triệu. Tòa án tuyên phạt 12 năm khổ sai cộng thêm 8 năm còn thiếu trước đây là 20 năm.

Tham gia kháng chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 1945, ông tập hợp lực lượng du đãng tại Sài Gòn hợp tác với Trần Văn Giàu tham gia kháng chiến chống Pháp và trở thành Chi đội trưởng Chi đội 9 thuộc Liên khu Bình Xuyên bản doanh đặt tại Phú Lâm, Chợ Lớn do Ba Dương (tức Dương Văn Dương) làm Tổng chỉ huy. Đơn vị của ông tuy tuân thủ chỉ thị quân sự của cấp trên nhưng luôn từ chối tiếp nhận những chính trị viên do cấp trên cử xuống[1]. Tháng 10 năm này, ông đưa đơn vị rời Phú Lâm rút về mật khu Rừng Sác. Cuối tháng 11 cùng năm, ông được Uỷ ban Hành chính Lâm thời cử làm Tư lệnh tối cao các Lực lượng Kháng chiến Sài Gòn-Chợ lớn (kiêm Chỉ huy trưởng Khu Sài Gòn-Chợ Lớn). Đồng thời ông cũng là sáng lập viên của Mặt trận Quốc gia Thống nhất.

Ngày 4 tháng 3 năm 1946, Tổng chỉ huy Ba Dương hy sinh trong một trận chống càn của Pháp ở Bến Tre khi chỉ huy một bộ phận quân Bình Xuyên vượt sông Soài Rạp từ Rừng Sác về cứu nguy cho mặt trận An Hóa-Giao Hòa. Sau khi Ba Dương hy sinh, ông vận động để nắm chức Tư lệnh Bình Xuyên nhưng một số cán bộ chỉ huy trưởng các chi đội Bình Xuyên đã không tán thành.

Ngày 12 tháng 4 năm 1946, ông Nguyễn Bình, Tư lệnh các lực lượng vũ trang Nam bộ ký quyết định phong cho Năm Hà (tức Dương Văn Hà em cùng cha khác mẹ với Dương Văn Dương) làm Tư lệnh lực lượng Bình Xuyên thay cho Ba Dương. Tháng 7 cùng năm, Tư lệnh Nguyễn Bình ký quyết định phong cho ông làm Khu Bộ phó chiến khu 7 với ý định tách ông ra khỏi vị trí trực tiếp chỉ huy Lực lượng Bình Xuyên và để ông không từ bỏ kháng chiến về hợp tác với Pháp và Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Trung tuần tháng 12 cuối năm, ông chính thức được giữ chức vụ Tư lệnh phó Khu 7. Đồng thời cũng trong tháng này Đại úy Savani (phòng nhì Pháp) cho người bí mật tiếp xúc với ông để chuẩn bị lập Chiến khu Quốc gia Rừng Sác.

Đầu năm 1948, tại cuộc họp chi bộ của Lực lượng kháng chiến, Trung tướng Nguyễn Bình quyết định giải tán các đơn vị thuộc Bình Xuyên, phiên chế thành các đơn vị Vệ Quốc Đoàn để phá tan âm mưu chia rẽ các Lực lượng Quốc gia và Việt Minh của Phòng nhì Pháp. Ông phản đối quyết liệt đồng thời tố cáo tướng Nguyễn Bình muốn thiết lập chế độ đảng trị và củng cố uy quyền cá nhân nên đã sát hại Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ và hai lần ám sát ông nhưng bất thành.[1]

Về thành[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1948, vào lúc 13 giờ trưa ngày 12 tháng 6, qua sự trung gian móc nối của Đại úy Savani Trưởng phòng nhì Pháp cùng Thiếu úy Cistisni. Ông và Bí thư Lai Hữu Tài tại một địa điểm cách đồn An Phú khoảng 2 cây số thuộc quận Cần Giuộc họp với 2 sĩ quan Pháp bàn việc trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia. Ngày 13 tháng 6, mở cuộc hành quân để tái chiếm Rừng Sát nhưng không thành vì tướng Nguyễn Bình đã chiếm vào ngày 19 tháng 5 trước đó và củng cố chiến khu này rất chặt chẽ.

Rạng sáng ngày 27 tháng 5 năm 1948, ông đã âm thầm rút quân Bình Xuyên rời chiến khu Đồng Tháp đến Đông Thành nơi Chi đội 4 của Mười Trí (bạn thân Bảy Viễn) đóng quân và cho bạn biết ý định về hợp tác với Pháp. Ngày 17 tháng 6, ông tuyên bố Lực lượng Bình Xuyên trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia, cùng mang theo 280 vũ khí đủ loại đặt bản doanh tại số 31 đường Canton phía nam Chợ Lớn. Sau khi về hợp tác với Pháp và Chính phủ Quốc gia, ngày 1 tháng 8 năm này ông được Tướng De la Tour gắn lon Đại tá và thuộc quyền Tổng trấn Nam phần.

Ngày 1 tháng Giêng năm 1951, ông đứng ra mở sòng bạc của khách sạn Grand Monde (sau cải danh thành Kim Chung). Được Quốc trưởng Bảo Đại phong chức Nam Tước của Hoàng Gia.

Ngày 22 tháng 4 năm 1952, Quốc trưởng Bảo Đại phong cho ông lên cấp Thiếu tướng (Général de Brigade) Quân đội Quốc gia và bổ nhiệm vào chức vụ Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn[2].

Bằng thế lực của mình, ông thâu tóm các sòng bài Đại Thế giới (Casino Grand Monde), Kim Chung (Casino Cloche d’Or) đồng thời làm ngơ cho khu mại dâm Bình Khang hoạt động công khai.[2]. Đồng thời Lực lượng Bình Xuyên do ông Thủ lãnh vẫn là một đơn vị độc lập.

Tháng 9 năm 1954, ông từ chối lời mời của Thủ tướng Ngô Đình Diệm về việc sát nhập Lực lượng Bình Xuyên vào Quân đội Quốc gia.

Bị trấn áp và lưu vong[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 3 năm 1955, ông chỉ huy quân Bình Xuyên tấn công vào các Lực lượng của Chính phủ Quốc gia nhưng bị các đơn vị Nhảy dù Quân đội Quốc gia do Đại tá Đỗ Cao Trí chỉ huy sau 5 ngày đã đánh bật lực lượng của ông ra khỏi Sài Gòn-Chợ Lớn. Sau đó, Thủ tướng Diệm quyết định đóng cửa các sòng bài do Bình Xuyên điều hành, giải tán khu mại dâm Bình Khang, cho quân đội tấn công quân Bình Xuyên và các giáo phái. Đồng thời đặt ông và các thuộc cấp là Lai Văn Sang (cựu Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an) và Bí thư Lai Hữu Tài ra ngoài vòng pháp luật. Ông cùng các thuộc cấp thân tín rút về mật khu Rừng Sát ẩn náu. Ngày 21 tháng 5, ông và các thuộc cấp bị truy tố trước Tòa án Quân sự về các tội danh phá hoại và phản quốc. Ngày 21 tháng 9, Thủ tướng Diệm tổ chức Chiến dịch Hoàng Diệu do Đại tá Dương Văn Minh chỉ huy để truy kích tàn quân của Bình Xuyên đang cố thủ tại mật khu Rừng Sát. Ông và các thuộc cấp được Pháp giải thoát và đưa sang Pháp bằng phi cơ. Kể từ đây ông bắt đầu cuộc sống lưu vong tại nước người.

Ngày 13 tháng Giêng năm 1956, ông và các thuộc cấp (đã lưu vong) bị Tòa án Quân sự tuyên án tử hình khiếm diện về tội danh phá hoại và phản quốc, tước binh quyền và tịch thu tài sản.

Năm 1971, ông từ trần tại Paris, Pháp. Hưởng thọ 67 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Lê Văn Dậu (người gốc Minh Hương, Trung Hoa)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2001). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Người Bình Xuyên, tác giả Nguyên Hùng
  • Bảy Viễn, Thủ lĩnh Bình Xuyên, tác giả Nguyên Hùng
  • BayVien, Le Maître de Cholon, tác giả Pierre Darcourt
  • Dưới cờ đại nghĩa, Hãng phim TFS

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]