Bảy Viễn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bảy Viễn
Bảy Viễn.jpg
Chân dung Bảy Viễn
Tên bản ngữ Lê Văn Viễn
Sinh Lê Văn Viễn
1904
Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn
Mất 1972
Paris,  Pháp
Quốc gia Việt Nam
Dân tộc Người Việt gốc Hoa
Quê quán Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn
Chức vị Thiếu tướng Quốc gia Việt Nam

Lê Văn Viễn tức Bảy Viễn (1904 - 1972), nguyên là một tướng cướp lừng danh trước năm 1945, về sau tham gia tổ chức Lực lượng vũ trang kháng chiến chống Pháp của Việt Minh, sau ly khai trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại làm Quốc trưởng, được phong Thiếu tướng Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ông cũng là thủ lĩnh của Lực lượng Bình Xuyên kiêm Tổng trấn Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1955, ông chỉ huy lực lượng này chống lại Chính phủ và bị Thủ tướng Ngô Đình Diệm dẹp tan, nên phải đào thoát và lưu vong sang Pháp.

Thân thế và cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Bảy Viễn sinh năm Giáp Thìn 1904 tại quận Cần Giuộc - Tỉnh Chợ Lớn (thuộc thành phố Sài Gòn) trong một gia đình điền chủ trung lưu gốc Hoa.

Tuy sinh ra trong một gia đình điền chủ khá giả, nhưng đến năm 16 tuổi, do mâu thuẫn gia đình và cảm thấy thiệt thòi trong việc chia gia tài, Bảy Viễn bỏ nhà đi bụi, tự lực cánh sinh, rồi thụ giáo ở nhiều võ đường khác nhau, nên ông rất giỏi võ. Sau này, khi trở thành một nhân vật có quyền lực nhất nhì Sài Gòn - Chợ Lớn và đã ngoại Tứ tuần, người ta vẫn nể phục ông về tài năng võ thuật, nghe đâu Bảy Viễn cũng từng lập riêng cho mình một đội Lân Sư Rồng và do chính ông lãnh đạo.

Về thể hình, Bảy Viễn to và vạm vỡ, cao trên một mét bảy. Bảy Viễn xăm hình khắp cơ thể, nguyên một con rồng đỏ chiếm trọn cả tấm lưng, đầu rồng trên cổ, đuôi rồng tận hậu môn, hai vai xăm Đầm trần truồng, bùa và đầu rắn xăm ở đầu dương vật, phía trên cổ tay trái một chút thì xăm cả một con đại bàng. Vì xăm hình khắp cùng mình và là dân anh chị nên khi đạt đến những vị thế cao trong xã hội, Bảy Viễn luôn thận trọng vận đồ chỉnh trang, vừa để thay đổi vẻ ngoài cho lịch lãm và uy nghiêm, vừa để che dấu một cách tối đa những hình xăm của mình. Về diện mạo, Bảy Viễn mặt chữ điền, góc cạnh, trán vuông và cân đối, lông mày rậm, tóc cứng và dày, đen nhánh, được cắt ngắn gọn gàng. Bảy Viễn tuy nét mặt khá dữ dằn nhưng rất điển trai và lịch thiệp nên luôn nhận được sự ngưỡng mộ từ các quý bà và lúc còn trẻ nghe bảo cũng khiến nhiều cô say mê.

Tung hoành[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1921, Bảy Viễn vào tù lần đầu với bản án 20 ngày tù giam khi mới 17 tuổi do phạm tội trộm xe đạp (Thật ra chiếc xe đạp ấy vốn của gia đình ông, nhưng sau vì bà mẹ của ông đem bán cho nhà bà con nào đấy mà ông không hề hay biết, đến khi chợt phát hiện chiếc xe đạp của gia đình đang nằm ở nhà người ta thì ông mang đem về, rốt bị hàm oan). Ban đầu Bảy Viễn làm bảo kê ở chợ Phạm Thế Hiển, sau chuyển sang chợ Bình Đông, cuối cùng mới vào trung tâm thành phố Chợ Lớn. Đến năm 1927 thì ông phạm tội hành hung người khác (Lúc ấy Bảy Viễn đương làm việc cho một ông chủ sòng bạc người Tàu ở Chợ Lớn, nhưng vì mâu thuẫn mà nện cho ông chủ ấy một trận), rồi bị bắt khi đang tá túc tại nhà tình nhân và bị phạt giam 2 tháng tù.

Năm 1936, ông bị chính quyền Nam Kỳ tuyên án 12 năm khổ sai đày đi Côn Đảo do tội cướp có vũ trang ở trung tâm thành phố Sài Gòn. Tuy nhiên, đến năm 1940, ông vượt ngục thành công về đất liền. Trong khoảng thời gian ngồi khám lần đầu này, nghe bảo Bảy Viễn đã hạ được một tay trùm du đãng gốc Khmer để trở thành ông vua du đãng mới, rồi còn cưa đổ cô vợ của một tên Thầy chú (Cai ngục), cô này rất mến mộ con người tánh tình anh hùng đào hoa của Bảy Viễn nên sẵn sàng giúp đỡ và hỗ trợ ông, vì thế Bảy Viễn có những lợi thế nhất định so với những tù nhân khác.

Năm 1941, Bảy Viễn bị bắt cùng Mười Trí, một người bạn mới quen, trong vụ tổ chức cướp xưởng mộc Bình Triệu (Mười Trí, tức Huỳnh Văn Trí cũng là "dân giang hồ", giỏi võ, vì bất mãn xã hội mà lập nên một nhóm cướp gây chấn động cả một vùng Sài Gòn - Chợ Lớn, nhờ thế cả hai người mới có cơ duyên gặp nhau và kết thân). Tòa án tuyên phạt Bảy Viễn 12 năm khổ sai cộng thêm 8 năm còn thiếu trước đây là 20 năm. Sau lại vượt ngục thành công. Nhưng máu "đi hát" (Tức đi cướp) vẫn còn âm ỉ nên ông và Mười Trí lại tổ chức đi cướp lần nữa, rồi lại bị bắt đày ra Côn Đảo. Sau khoảng thời gian chuẩn bị chu đáo nhưng dài hơi vì vợ chồng Thầy chú đã được triệu hồi về đất liền, Bảy Viễn và Mười Trí cùng vài người bạn thân lại tổ chức vượt ngục thành công lần cuối cùng. Lịch sử nhà tù Côn Đảo chỉ tầm 10 cuộc vượt ngục thành công thì Bảy Viễn đã chiếm đến 3, xem ra cũng là ý Trời.

Tham gia kháng chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 1945, ông tập hợp lực lượng du đãng tại Sài Gòn hợp tác với Trần Văn Giàu tham gia Kháng chiến chống Pháp và trở thành Chi đội trưởng Chi đội 9 thuộc Liên khu Bình Xuyên bản doanh đặt tại Phú Lâm, Chợ Lớn do Ba Dương (Tức Dương Văn Dương) làm Tổng chỉ huy. Đơn vị của ông tuy tuân thủ chỉ thị quân sự của cấp trên nhưng luôn từ chối tiếp nhận những chính trị viên do cấp trên cử xuống[1]. Tháng 10 năm này, ông đưa đơn vị rời Phú Lâm rút về mật khu Rừng Sác. Cuối tháng 11 cùng năm, ông được Uỷ ban Hành chính Lâm thời cử làm Tư lệnh tối cao các Lực lượng Kháng chiến Sài Gòn - Chợ Lớn (Kiêm Chỉ huy trưởng Khu Sài Gòn - Chợ Lớn). Đồng thời ông cũng là sáng lập viên của Mặt trận Quốc gia Thống nhất.

Ngày 4 tháng 3 năm 1946, Tổng chỉ huy Ba Dương hy sinh trong một trận chống càn của Pháp ở Bến Tre khi chỉ huy một bộ phận quân Bình Xuyên vượt sông Soài Rạp từ Rừng Sác về cứu nguy cho mặt trận An Hóa - Giao Hòa. Sau khi Ba Dương hy sinh, ông vận động để nắm chức Tư lệnh Bình Xuyên nhưng một số cán bộ chỉ huy trưởng các chi đội Bình Xuyên đã không tán thành.

Ngày 12 tháng 4 năm 1946, ông Nguyễn Bình, Tư lệnh các lực lượng vũ trang Nam bộ ký quyết định phong cho Năm Hà (tức Dương Văn Hà em cùng cha khác mẹ với Dương Văn Dương) làm Tư lệnh lực lượng Bình Xuyên thay cho Ba Dương. Tháng 7 cùng năm, Nguyễn Bình ký quyết định phong cho ông làm Khu bộ phó chiến khu 7 với ý định tách ông ra khỏi vị trí trực tiếp chỉ huy Lực lượng Bình Xuyên và để ông không từ bỏ kháng chiến về hợp tác với Pháp và Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Trung tuần tháng 12 cuối năm, ông chính thức được giữ chức vụ Tư lệnh phó Khu 7. Đồng thời cũng trong tháng này Đại úy Savani (Phòng nhì Pháp, một cơ quan tình báo quốc phòng hải ngoại của Pháp) cho người bí mật tiếp xúc với ông để chuẩn bị lập Chiến khu Quốc gia Rừng Sác.

Bảy Viễn trước khi đọc diễn văn

Đầu năm 1948, Bảy Viễn đồng ý đi Đồng Tháp gặp Nguyễn Bình (Nguyễn Bình cho mời Huỳnh Văn Nghệ hay còn gọi là Tám Nghệ đi Rừng Sác để thuyết phục Bảy Viễn vì biết Bảy Viễn rất nể trọng Huỳnh Văn Nghệ dù ông tướng này không phải dân giang hồ) để tham gia cuộc họp quan trọng (Do Nguyễn Bình chủ trì với mục đích phong Bảy Viễn chức Khu trưởng khu 7 đồng thời giải quyết những mâu thuẫn đang tồn tại giữa bộ đội Bình Xuyên Bảy Viễn và bộ đội Nguyễn Bình). Tại cuộc họp, Bảy Viễn đã trả lời khá rắn chắc và đanh thép những chất vấn của Nguyễn Bình về những mâu thuẫn nội bộ và tỏ ý nghi ngờ, lưỡng lự trong việc nhận chức Khu trưởng khu 7 mà trước đó Bảy Viễn cho rằng người xứng đáng nhận chức này phải là Huỳnh Văn Nghệ vì chiến công của bộ đội Tám Nghệ vượt xa những chiến công của bộ đội Bảy Viễn, mặc cho nhiều người có ý bênh vực Bảy Viễn khi cho rằng Bảy Viễn phù hợp hơn vì dù gì trong giới giang hồ kháng chiến nói riêng và thủ lĩnh gốc dân Nam Kỳ nói chung, Bảy Viễn là một trong số ít người đi tiên phong (Cũng có thể vì họ muốn làm giảm đi những căng thẳng xung đột). Sau vì Bảy Viễn từ chối chức Khu trưởng khu 7 và tỏ vẻ ngoan cố, bất hợp tác nên Trung tướng Nguyễn Bình quyết định giải tán các đơn vị thuộc Bình Xuyên, phiên chế thành các đơn vị Vệ Quốc Đoàn để phá tan âm mưu chia rẽ các Lực lượng Quốc gia và Việt Minh của Phòng nhì Pháp. Thế nhưng rất nhiều những lãnh đạo chủ chốt bên phía Lực lượng Bình Xuyên phản đối quyết định này (Bao gồm cả Mười Trí, một trong những thủ lĩnh chính của Lực lượng Bình Xuyên). Bảy Viễn phản đối quyết liệt đồng thời tố cáo tướng Nguyễn Bình muốn thiết lập chế độ đảng trị và củng cố uy quyền cá nhân nên đã sát hại Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ và hai lần ám sát ông nhưng bất thành.[1]

Bảy Viễn đọc diễn văn

Về thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy cũng phản đối quyết định giải tán các đơn vị Lực lượng Bình Xuyên, nhưng Mười Trí luôn trung thành và ở lại phục vụ quân đội kháng chiến Việt Minh. Rạng sáng ngày 27 tháng 5 năm 1948, sau khi Bảy Viễn âm thầm rút quân rời chiến khu Đồng Tháp đã được Mười Trí mời đến tổng hành dinh đồng thời cũng là nhà của ông ở Đông Thành (Chi đội 4) để tá túc một đêm, nhằm thuyết phục Bảy Viễn suy nghĩ kỹ trước khi quyết định. Đêm ấy, cả hai anh em được bà vợ của Mười Trí đãi mâm cơm khá thịnh soạn. Mười Trí vì tình bạn, tình anh em, tình đồng chí từng cùng Bảy Viễn vào sanh ra tử, cùng đi cướp, cùng ngồi khám Côn Đảo, cùng vượt ngục, cùng nhau thề nguyền kết huynh đệ đời đời kiếp kiếp, cùng tham gia kháng chiến, cùng chia sẻ mọi khó khăn cũng như hạnh phúc, đã khuyên Bảy Viễn nên nghĩ kỹ và ở lại với Cách mạng (Mặc dầu địa bàn Rừng Sác của ông ta đã bị Nguyễn Bình xoá sổ, tảo thanh) để làm lại cuộc đời, và cam đoan sẽ bảo lãnh và giúp đỡ Bảy Viễn hết lòng và hết khả năng, thậm chí nếu vì việc đó mà Mười Trí có bị liên luỵ, bị nghi ngờ, bị kiểm điểm hay kiểm soát thì Mười Trí cũng cam lòng, điều đó cho thấy tình bạn giữa Mười Trí và Bảy Viễn sâu đậm đến mức nào. Nhưng Bảy Viễn vì ân oán cá nhân, vì tánh ngoan cố không muốn để ai kiểm soát hay chỉ huy mình và vì thất vọng rất nhiều về những gì đã xảy ra nên dù rất cảm kích tấm lòng của bạn, ông vẫn một mực muốn ra đi. Nửa đêm, sau khi Bảy Viễn đã say giấc, Mười Trí âm thầm bảo cấp dưới thông báo với các lực lượng Bình Xuyên nên cảnh giác, quân ở đâu ở yên đấy, không được rời đi khi chưa có lệnh của Mười Trí nhằm giảm thiểu tối đa số quân lính đi theo Bảy Viễn, hạn chế tối đa thiệt hại cho quân kháng chiến Việt Minh. Sáng hôm sau, sau khi hai người cùng nhau dùng bữa cơm gia đình thân mật cuối cùng, Bảy Viễn thông báo đã suy nghĩ rất kỹ càng, ông quyết định dứt áo ra đi, về thành Sài Gòn vì không thể sống chung với những người mà ông xem là xảo quyệt, bất công. Mười Trí đã tiên liệu trước, nên dù rất thất vọng về Bảy Viễn và về sự bất lực của mình trong việc thuyết phục, ông vẫn đồng ý tiễn Bảy Viễn đi một đoạn dài đến tận xã Hưng Long thuộc quận Bình Chánh. Sau khi tiễn biệt nhau, buổi tiễn đưa đầy cảm động và đau lòng, từ đấy hai người trở thành hai con người khác chiến tuyến (Mười Trí tiếp tục theo Cách mạng, sau ra Bắc học tập thêm, sau ngày Việt Nam thống nhất, ông trở về miền Nam và được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VI, đại diện cho tỉnh An Giang, trong khi Bảy Viễn theo Tây và thăng tiến liên tục trong giới quân sự cũng như dân sự trong chính quyền miền Nam cho đến ngày bị Ngô Đình Diệm đánh bại, buộc phải lưu vong sang Pháp).

Vào lúc 13 giờ trưa ngày 12 tháng 6 năm 1948, qua sự trung gian móc nối của Đại úy Savani Trưởng phòng nhì Pháp cùng Thiếu úy Cistisni. Bảy Viễn và tên cố vấn Lai Hữu Tài của ông tại một địa điểm cách đồn An Phú khoảng 2 cây số thuộc quận Cần Giuộc họp với 2 sĩ quan Pháp bàn việc trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia. Ngày 13 tháng 6, mở cuộc hành quân để tái chiếm Rừng Sát nhưng không thành vì tướng Nguyễn Bình đã chiếm vào ngày 19 tháng 5 trước đó và củng cố chiến khu này rất chặt chẽ.

Ngày 17 tháng 6, ông tuyên bố Lực lượng Bình Xuyên trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia, cùng mang theo 280 vũ khí đủ loại đặt bản doanh tại số 31 đường Canton. Sau khi về hợp tác với Pháp và Chính phủ Quốc gia, ngày 1 tháng 8 năm này ông được Tướng De La Tour gắn lon Đại tá và thuộc quyền Tổng trấn Nam phần.

Ngày 1 tháng 1 năm 1951, ông đứng ra mở sòng bạc của khách sạn Casino Cloche d’Or (Sau cải danh thành Kim Chung). Bảy Viễn được Quốc trưởng Bảo Đại phong chức Nam Tước của Hoàng Gia và nhận làm em muôi mặc dù Bảo Đại nhỏ tuổi hơn Bảy Viễn nhiều. Vào thời đó, người ta cho rằng đấy là một niềm vinh hạnh lớn cho Bảy Viễn, khi mà một tướng cướp võ biền xuất thân giang hồ lại được một cựu Hoàng đế nhận làm em nuôi, kết tâm giao, nhưng ai cũng biết, vì Bảo Đại là người tiêu tiền như nước không bao giờ là đủ khi đồng lương Pháp trả không là gì so với cuộc sống xa hoa Đế vương của ông ta, mà Bảy Viễn đã trở thành đại phú hào, đại tư sản nhờ việc kinh doanh các sòng bạc lớn, một người vì tiền, một người vì quyền lực nên việc giao hảo là việc ai cũng biết và thấy trước nó sẽ đến và phải đến.

Ngày 22 tháng 4 năm 1952, Quốc trưởng Bảo Đại phong cho ông lên cấp Thiếu tướng (Major-général) Quân đội Quốc gia và bổ nhiệm vào chức vụ Tổng trấn Sài Gòn - Chợ Lớn[2].

Bằng thế lực của mình, ông thâu tóm các sòng bài Đại Thế giới (Casino Grand Monde), Kim Chung (Casino Cloche d’Or) đồng thời làm ngơ cho khu mại dâm Bình Khang hoạt động công khai. Nhiều tài liệu còn cho thấy ông móc nối với người đảo Corse (Thuộc nước Pháp) để buôn thuốc phiện và ma tuý công khai. Theo nhiều tài liệu còn lưu lại trong Cục lưu trữ Sài Gòn thì Lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn có mặt trong hầu hết các ngành khai thác, kinh doanh béo bở khắp Nam Kỳ, nhưng đồng thời Lực lượng Bình Xuyên do ông thủ lĩnh vẫn là một đơn vị độc lập.

Bảy Viễn tại tư gia

Trong khoảng thời gian huy hoàng, vàng son khi nắm trong tay quyền lực to lớn, thao túng mọi hoạt động kinh doanh, buôn bán, Bảy Viễn dường như là một trong những người giàu có, đại tư sản và quyền lực nhất Đông Dương, thậm chí là toàn cõi Đông Nam Á lúc bấy giờ. Trong giới giang hồ miền Nam ngày xưa thì Bảy Viễn là người thành công nhất về quyền lực, sự giàu sang cũng như đạt đến đỉnh cao của danh vọng.

Bảy Viễn đang thương thảo với Ngô Đình Diệm tại Dinh Độc Lập

Tháng 9 năm 1954, Bảy Viễn từ chối lời mời của Thủ tướng Ngô Đình Diệm về việc sát nhập Lực lượng Bình Xuyên vào Quân đội Quốc gia (Dù đã từng cùng Nguyễn Văn HinhNguyễn Văn Xuân vào Dinh Độc Lập để thương thảo với Ngô Đình Diệm).

Bị trấn áp và lưu vong[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 3 năm 1955, ông chỉ huy quân Bình Xuyên tấn công vào các Lực lượng của Chính phủ Quốc gia nhưng bị các đơn vị Nhảy dù Quân đội Quốc gia do Đại tá Đỗ Cao Trí chỉ huy sau năm ngày đã đánh bật lực lượng của ông ra khỏi Sài Gòn - Chợ Lớn. Sau đó, Thủ tướng Diệm quyết định đóng cửa các sòng bài do Bình Xuyên điều hành, giải tán khu mại dâm Bình Khang, cho quân đội tấn công quân Bình Xuyên và các giáo phái. Đồng thời đặt ông và các thuộc cấp là Lai Văn Sang và Lai Hữu Tài ra ngoài vòng pháp luật. Ông cùng các thuộc cấp thân tín rút về mật khu Rừng Sát ẩn náu. Ngày 21 tháng 5, ông và các thuộc cấp bị truy tố trước Tòa án Quân sự về các tội danh phá hoại và phản quốc. Ngày 21 tháng 9, Thủ tướng Diệm tổ chức Chiến dịch Hoàng Diệu do Đại tá Dương Văn Minh chỉ huy để truy kích tàn quân của Bình Xuyên đang cố thủ tại mật khu Rừng Sát. Ông và các thuộc cấp được Pháp giải thoát và đưa sang Pháp bằng phi cơ. Kể từ đây ông bắt đầu cuộc sống lưu vong tại nước người.

Ngày 13 tháng 1 năm 1956, ông và các thuộc cấp (đã lưu vong) bị Tòa án Quân sự tuyên án tử hình khiếm diện về tội danh phá hoại và phản quốc, tước binh quyền và tịch thu tài sản.

Năm 1972, ông từ trần tại Paris, Pháp. Hưởng thọ 67 tuổi.

Gia đình và giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Bảy Viễn là người Hoa lai (Cha người Hoa, mẹ người Việt). Thân phụ là cụ Lê Văn Dậu (Người gốc Triều Châu, Trung Quốc). Cụ Dậu vốn là một trong những đàn anh lớn của tổ chức Thiên Địa Hội chi nhánh Chợ Lớn - Việt Nam (Mang tinh thần phù Minh diệt Thanh) thuộc nhóm Nghĩa Hoà Đoàn (Triều Châu) ở Chợ Lớn thời đó kể từ khi cụ di cư sang Việt Nam lập nghiệp. Tuy là tay anh chị giang hồ nhưng cụ tánh tình cương trực, nghĩa hiệp, luôn giúp đỡ bà con hàng xóm và những người khốn khó nên rất được mọi người kính nể. Nghe kể rằng thuở nhỏ Bảy Viễn rất nghịch ngợm, tánh ương ngạnh nên thường bị cụ Dậu rầy la và dạy dỗ rất nghiêm khắc. Tánh giang hồ hảo hán của cụ Dậu có ảnh hưởng rất lớn đến Bảy Viễn.

Theo các nguồn tin chính thống (Đáng tin cậy) cũng như không chính thống thì Bảy Viễn có năm người vợ cùng nhiều con cái, nhưng chỉ có ba người là được ông đón sang Pháp.

Trong số các bà vợ, theo thông tin từ Cục lưu trữ ở Sài Gòn hiện nay, có bà tên Huỳnh Thị Lộc, có thể bà Lộc là con gái của Huỳnh Đại, một thương gia Hoa kiều vốn là một mạnh thường quân từng giúp đỡ Bảy Viễn rất nhiều thời còn túng quẫn. Theo nhà văn Nguyên Hùng - Tác giả cuốn "Bảy Viễn - Thủ lĩnh Bình Xuyên", thì Huỳnh Đại chính là chủ nhân của nhà hàng Đại La Thiên, một trong những nhà hàng sang trọng nhất nhì Chợ Lớn (Nằm ở đường Phạm Bân - Chợ Lớn, nay không còn), và cũng là cha vợ Bảy Viễn, nếu cả hai nguồn thông tin này trùng hợp không phải ngẫu nhiên và có thể chắc chắn, thì Huỳnh Đại chính là cha của bà Huỳnh Thị Lộc. Nghe rằng Huỳnh Ðại cũng là đồng hương với Bảy Viễn khi xuất thân từ Quảng Ðông (Cũng là người Tiều vì Triều Châu thuộc tỉnh Quảng Ðông) sang Sài Gòn với chiếc đòn gánh và hai cái thúng, cả ngày lặn lội mua ve chai sinh sống. Có chút vốn nên chuyển sang bán kẹo bánh trước các trường học, lần hồi làm ăn khắm khá, mở quán cà phê hủ tíu vùng ngoại ô, dọc kênh Tàu Hủ, chính lúc ấy, Bảy Viễn được Huỳnh Ðại cưu mang.

Theo nhà văn Nguyên Hùng thì Bảy Viễn có một bà vợ tên Lúa, cô con gái rượu của ông Hội đồng Ðống. Lúc ấy là những ngày đầu kháng chiến, Cách mạng, Bảy Viễn đương là Uỷ viên quân sự, đã biết và say mê cô Lúa, nên bày mưu cưới cô. Ban đầu, Bảy Viễn hữu ý bảo Mười Trí lấy cớ vì việc nước, vì kháng chiến xin dân ủng hộ nên cùng đi gặp ông Hội đồng đặng bàn chuyện quốc gia đại sự, nhưng đã tỏ ý muốn cưới con gái ông Hội đồng. Biết tánh bạn nên Mười Trí cũng đành chịu thua, Bảy Viễn bày mưu trong lúc Mười Trí tiếp chuyện và nhậu với ông Hội đồng (Lúc ấy ông Mười vẫn còn thích nhậu và chưa bỏ hẳn việc đánh chén), Bảy Viễn sẽ giả vờ xuống bếp mồi thuốc lá để làm quen và tán tỉnh cô Lúa. Sau đó vài ngày, Bảy Viễn gửi tặng ông Hội đồng Đống khẩu súng Colt mới toanh và rất oai vì biết ông này rất mê súng lục, muốn có một khẩu đeo cho oách với dân làng và với tụi quan Tây. Vài phút đầu khi nhận quà thì ông Hội đồng rất thích, nhưng sau đó vài giây thì phát hiện trong hộp quà còn có một tờ giấy, do chính Bảy Viễn viết, rằng "Cháu xin cưới cô Lúa và đây là sính lễ đầu tiên kính dâng Bác" thì ông mới vỡ lở. Sau khi rặng hỏi cô Lúa về việc hôm trước, cô cũng thú nhận đúng là Bảy Viễn có xuống bếp gặp cô. Ông Hội đồng hỏi ý con gái thế nào, thì cô Lúa đáp rằng thật ra cô cũng say mê tánh anh hùng của Bảy Viễn, và cũng phải lòng ông, thế nên cô đồng ý. Điều này cũng đã là may mắn với ông Hội đồng lắm rồi vì nếu cô Lúa không chịu, thì ông này khó mà sống yên ổn (Nghe bảo ông Hội đồng chỉ lớn hơn Bảy Viễn 1 tuổi). Sau này, nghe bảo bà Lúa là người góp công rất lớn trong việc đưa ra chủ ý và bày vẽ cho Bảy Viễn lập tuyến xe Sài Gòn - Vũng Tàu, là tuyến xe đi thẳng ra Vũng Tàu mà không cần quá cảnh nhiều chuyến khác, cùng các dịch vụ nhà hàng - Khách sạn mới vừa được sang nhượng cho Bảy Viễn và đã được tân trang đàng hoàng đặng phục vụ khách hàng (Trước đó tuyến đường Sài Gòn - Vũng Tàu bị các Lực lượng du kích quân Việt Minh đốn cây san lấp và lập phòng tuyến đánh chặn, khiến quân đội chính quyền Nam Kỳ bị thiệt hại và thương vong lớn, sau mới được người con trai trưởng của Bảy Viễn là Lê Paul từng bước giải phóng và dẹp tan).

Cũng theo nhà văn Nguyên Hùng và một số thông tin đáng tin cậy từ Cục lưu trữ Sài Gòn hiện nay, thì Bảy Viễn còn có một người vợ nữa là bà Hà Thị Tám, theo nhà văn Nguyên Hùng thì đây là một câu chuyện duyên phận định mệnh khi Bảy Viễn sau khi trở về Sài Gòn hợp tác với người Pháp, đã cùng các chiến hữu hữu ý săn các "người đẹp" ở các khu cờ bạc ở Đại Thế giới. Sau khi cá cược về việc ai săn được "người đẹp" đầu tiên sẽ đãi chầu nước, Bảy Viễn nhanh chóng tìm được một cô nàng hợp ý, đó là bà Hà Thị Tám. Ông theo dõi và đến giúp đỡ cô này đánh bạc, gỡ gạc và tìm lãi trong các cuộc sát phạt tại gian Tài Xỉu, sau đó mời cô cùng ông đến dãy hàng nước phía đối diện đánh dấu ngày gặp gỡ. Rốt bà Tám trở thành vợ của ông. Bà Hà Thị Tám là một người sắc nước hương trời, lúc gặp Bảy Viễn nghe đâu vừa tròn ba mươi, nhưng vóc dáng vẫn còn rất trẻ trung và đầy đặn. Bà Tám vốn là nhân viên kế toán của hãng thuốc lá MIC mà sau đó Bảy Viễn trở thành Sếp lớn cho đến ngày ông thất thế (Mặc dù ông không làm chủ). Theo một nguồn tin chính thống và đáng tin cậy, thì người con trai của Bảy Viễn với bà Hà Thị Tám sau này ở Pháp đã có một đứa cháu nội trai kháu khỉnh, tức cháu chắt của Bảy Viễn, vậy hậu duệ trực hệ dòng nam của Bảy Viễn vẫn còn được tiếp nối và duy trì ở Pháp đến hiện nay.

Bảy Viễn có thể còn khá nhiều con cháu còn ở Việt Nam do cả mẹ và con không được đón sang Pháp đoàn tụ, nhưng thông tin về những người này là rất ít và rất hiếm, chủ yếu là từ những người được xem là hàng xóm hoặc bà con xa gần của họ thuật lại trên các diễn đàn mạng không chính thức, nên rất khó để tin tưởng và cung cấp thông tin.

Cố nghệ sĩ cải lương Út Bạch Lan nghe bảo khi còn nhỏ cũng từng là con nuôi của Bảy Viễn.[cần dẫn nguồn]

Cố nghệ sĩ cải lương Ba Xây (Cũng là người gốc Hoa) từng là thông dịch viên tiếng Hoa cho Bảy Viễn (Dù là người gốc Hoa, nhưng Bảy Viễn có thể không nói rành hoặc không biết tiếng Hoa, có thể vì là người Tiều, chỉ nói tiếng Tiều hoặc có thể vì gia đình đã mất gốc nên Bảy Viễn không thể nói tiếng Hoa Quảng Đông khi phần lớn các đại thương gia ở Chợ Lớn khi ấy là người gốc Quảng Đông hoặc từ Hồng Kông mới đến).

Trong phim truyền hình dài tập "Dưới cờ đại nghĩa - Người Bình Xuyên" được chuyển thể từ tác phẩm Người Bình Xuyên của nhà văn Nguyên Hùng, người thủ vai Bảy Viễn là nam diễn viên Trương Minh Quốc Thái.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2001). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Người Bình Xuyên, tác giả Nguyên Hùng
  • Bảy Viễn, Thủ lĩnh Bình Xuyên, tác giả Nguyên Hùng
  • BayVien, Le Maître de Cholon, tác giả Pierre Darcourt
  • Dưới cờ đại nghĩa, Hãng phim TFS

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]