Phong Phú, Bình Chánh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Phong Phú

Khu câu cá giải trí Phương Nam thuộc Bình Chánh.jpg
Một khu du lịch câu cá tại xã Phong Phú, huyện Bình Chánh
Hành chính
VùngĐông Nam Bộ
Thành phốHồ Chí Minh
HuyệnBình Chánh
Thành lập2003[1]
Địa lý
Tọa độ: 10°42′2″B 106°39′3″Đ / 10,70056°B 106,65083°Đ / 10.70056; 106.65083Tọa độ: 10°42′2″B 106°39′3″Đ / 10,70056°B 106,65083°Đ / 10.70056; 106.65083
Diện tích18,7 km²[2]
Dân số (1999)
Tổng cộng11.840 người[2]
Mật độ633 người/km²
Khác
Mã hành chính27622[2]

Phong Phú là một thuộc huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 1976, xã Phong Phú được thành lập từ việc hợp nhất hai làng Phong Đước và An Phú. Vùng đất này gắn với hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của đất nước nói chung và của địa phương nói riêng. Những phong trào tiêu biểu thời gian đó có thể kể đến như: Phong trào Bình Tây Trương Định, tổ chức Thiên Địa Hội, Nguyễn An Ninh. Tiêu biểu cho lớp những người cộng sản đầu tiên chính là người anh hùng đồng chí Nguyễn Văn Trân, đồng chí đã tổ chức dẫn dắt lớp thanh niên ưu tú địa phương chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Năm 2011 xã Phong Phú được Chủ tịch nước trao tăng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Phong Phú nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam thành phố, có tuyến Quốc lộ 50 nối với các tỉnh miền Tây và đường Nguyễn Văn Linh kết nối với đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương; nằm liền kề với Khu đô thị Nam thành phố một khu đô thị mới, hiện đại trong tương lai.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Địa giới hành chính:

Kinh tế - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Số nhân khẩu tính đến 31/12/2011 là 23.821 nhân khẩu và 5.781 hộ; Được phân thành 5 ấp và 72 tổ nhân dân. Tổng diện tích đất tự nhiên là 1.868,11 ha; Trong đó diện tích đất phi nông nghiệp là 963,02 ha chiếm 51,6%; diện tích đất nông nghiệp là 905,09 ha chiếm 48,4%. Tuy nhiên thực tế hiện nay phần lớn diện tích đất nông nghiệp đã nằm trong quy hoạch các dự án khu dân cư, hiện tại đất nông nghiệp còn khoảng 300 ha tập trung ở khu vực Xóm Gò, ấp 1. Định hướng trong tương lai sẽ quy hoạch thành vùng cây xanh cách ly của Khu liên hợp xử lý chất thải Đa Phước.

- Về tình hình kinh tế: Tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh và hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động là 1.188 cơ sở (78,98% kinh doanh lĩnh vực thương mại – dịch vụ), có 28 cơ sở đăng ký kinh doanh mới (tăng 2,86%), và giảm 24 cơ sở (giảm 2,02%); Sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng ở mức ổn định, nhìn chung cơ cấu kinh tế giữa các ngành đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ sang ngành thương mại – dịch vụ chiếm tỷ trọng trên 70%, sản xuất nông nghiệp có tỷ lệ dưới 8%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của xã duy trì ở khoảng 15%, thu nộp ngân sách vượt hơn 10% so với chỉ tiêu đề ra.

- Về công tác quản lý ngân sách nhà nước ở địa phương: Thu ngân sách nhà nước ở địa phương các năm qua đều đạt và vượt so với chỉ tiêu đã đặt ra; Cụ thể trong năm 2011, Tổng thu ngân sách Nhà nước thực hiện 10.724 tỷ đồng/4,491 tỷ đồng, đạt 238,78% kế hoạch. Thuế Công thương nghiệp thực hiện 2,769 tỷ đồng/2,320 tỷ đồng, đạt 119,35% kế hoạch. Tổng chi ngân sách Nhà nước thực hiện 9,034 tỷ đồng/6,582 tỷ đồng, đạt 137,25%.

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Về hệ thống giao thông: Trên địa bàn xã có các tuyến đường thuộc cấp Bộ và Thành phố quản lý gồm: Quốc lộ 50, Đại lộ Nguyễn Văn Linh, đường Trịnh Quang Nghị. Các tuyến đường này có vị trí huyết mạch toàn xã và vai trò rất lớn trong giao thông cũng như góp phần phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương. Tổng số tuyến đường giao thông hiện nay của xã là 108 tuyến, tổng chiều dài: 48,79 km. Trong đó:
    • Tuyến đường trục xã, liên xã: 12,24 km – 6 tuyến. Đã được nhựa hóa, thuộc dự án: 1,4 km, đạt tỷ lệ 11,4%.
    • Tuyến đường trục ấp, liên ấp: 13,6 km – 52 tuyến. Đã được bê tông xi măng và một số tuyến được trải đá dăm đảm bảo giao thông thuận lợi: 11,5 km – 44 tuyến, đạt tỷ lệ 84,4%.
    • Các tuyến trong xóm và nội ấp: 7,5 km – 44 tuyến.
    • Các hẻm dọc trục Quốc lộ 50 đã được bê tông hóa đạt 80%.
  • Nhìn chung hệ thống giao thông ở địa phương ngày càng hoàn thiện và đồng bộ về số lượng cũng như chất lượng. Số lượng các tuyến đường trục ấp, liên ấp và đường ngõ xóm được bê-tông hóa ngày càng tăng theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm. Ngoài ra số lượng lớn các dự án quy hoạch về cơ sở hạ tầng và khu dân cư cũng góp phần vào việc hoàn thiện hơn nữa hệ thống giao thông tổng thể của địa phương.
  • Về công tác vệ sinh môi trường: Địa phương luôn quan tâm công tác tuyên truyền vận động phổ biến các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường đến toàn thể nhân dân trên địa bàn bằng nhiều hình thức khác nhau. Vận động các hộ gia đình đăng ký lấy rác đến nay tỷ lệ hộ dân đăng ký lấy rác đã đạt trên 60%. Thường xuyên kiểm tra xử phạt các cơ sở sản xuất kinh doanh có dấu hiệu gây ô nhiễm môi trường, vận động các cơ sở gây ô nhiễm di dời địa điểm sản xuất đi nơi khác. Ngoài ra xã đã tổ chức nhiều đợt ra quân có trọng tâm trọng điểm về công tác tuyên truyền cũng như dọn dẹp vệ sinh môi trường dọc tuyến Quốc lộ 50, đường Trịnh Quang Nghị, Tân Liêm và Chợ Phú Lạc.

Văn hóa, xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

  • Về cơ sở giáo dục: Hệ thống các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn xã gồm có một trường mần non, một trường tiểu học và một trường trung học cơ sở. Trong đó quy mô cụ thể mỗi trường như sau: Trường mầm non có 15 phòng học và sân chơi diện tích 1036 m2; Trường tiểu học có 32 phòng học và sân chơi diện tích 3.159 m2; Trường Trung học cơ sở có 19 phòng học và sân chơi diện tích 6.280 m2. Ngoài ra là hệ thống các cơ sở giáo dục tư thục và quốc tế gồm: 1 trường, 3 nhóm trẻ, 7 lớp mầm non tư thục và 1 trường quốc tế.

Nhìn chung trên địa bàn xã có đủ 3 cấp trường từ Mầm non đến Trung học cơ sở, cũng như các trường học trong các dự án khu dân cư sẽ xây dựng trong tương lai sẽ là điều kiện thuận lợi của xã trong phát triển sự nghiệp giáo dục, nâng cao trình độ của nhân dân. Tuy nhiên, để có thể đáp ứng nhu cầu giáo dục với tốc độ phát triển dân số nhanh của địa phương thì cần phải có những chính sách nhất định trong công tác xây dựng mới các trường học. Bên cạnh đó, các trường hiện hữu cần được nâng cấp để có thể nâng cao chất lượng dạy và học.

  • Về các trung tâm thể dục thể thao, vui chơi giải trí: Hiện nay xã đã có một khu vui chơi thiếu nhi công cộng của nhà nước quản lý với diện tích khoảng 2000 m2 được trang bị cơ sở vật chất hoàn chỉnh và một số điểm thể dục thể thao do tư nhân đầu tư trong đó nổi bật là Trung tâm thể dục – thể thao Thành Long với quy mô lớn, bao gồm: 6 sân bóng đá mini, 4 sân quần vợt, 1 phòng tập tạ, 2 hồ bơi, 6 bàn bida. Tuy nhiên các địa điểm luyện tập thể dục thể thao này mới chỉ đáp ứng một phần nhỏ về nhu cầu rèn luyện sức khỏe giải trí cho người dân. Yêu cầu đặt ra cho vấn đề này chính là sự quan tâm hơn nữa trong công tác xây dựng các các công trình công cộng phục vụ vui chơi giải trí cho cộng đồng như các công viên trong các khu dân cư, các nhà văn hóa đạt chuẩn, khuyến khích sự tham gia của xã hội vào công tác thể dục thể thao để ngày càng thu hút nhiều người dân tham gia vào các hoạt động thể dục thể thao lành mạnh tránh xa các tệ nạn xã hội.
  • Về các hoạt động tín ngưỡng: Hiện tại xã Phong Phú có 4 ngôi đình gồm: đình Tân Thị, Phú Lạc, An Phú, Tân Liêm. Trong đó đình Phú Lạc và An Phú thường diễn ra các hoạt động sinh hoạt tôn giáo cộng đồng.

Diện tích, dân số và lao động[sửa | sửa mã nguồn]

1. Diện tích tự nhiên:

  • Tổng diện tích tự nhiên: 1.868,11 ha, chia ra:
    • Đất nông nghiệp: 905,09 h, chiếm 48,4%, trong đó:
      • Đất sản xuất nông nghiệp: 585.9 ha
    • Đất lâm nghiệp: 0 ha
    • Đất thủy sản: 319,19 ha
    • Đất khác: 0 ha
    • Đất phi nông nghiệp: 963,02 ha chiếm 51,6 %, trong đó:
    • Đất ở: 415,01 ha, trong đó đất ở nông thôn: 415,01 ha, đất ở đô thị: 0 ha
    • Đất chuyên dùng: 548,01 ha gồm:
      • * Đất trụ sở cơ quan công trình: 0,64 ha
      • * Đất SXKD phi nông nghiệp: 359,29 ha
      • * Đất quốc phòng, an ninh: 0 ha
      • * Đất tôn giáo, tín ngưỡng: 1,85 ha
      • * Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 3,67 ha
      • * Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: 182,56 ha
    • Đất chưa sử dụng: 0 ha, chiếm 0 %

2. Dân số và lao động:

  • Dân số toàn xã: 23.281 nhân khẩu, trong đó:
    • Dân số thường trú: 18.816 nhân khẩu
    • Dân số tạm trú: 5.005 nhân khẩu
  • Tỷ lệ tăng dân số năm 2011 là: 10,97 %
  • Mật độ dân số: 1.413 người/km2

3. Tổng số lao động trong độ tuổi lao động có khả năng lao động: 18.211 người, trong đó:

  • Lao động phi nông nghiệp: 17.691 người, chiếm 97%
  • Lao động công nghiệp, tiểu thủ CN: 9.798 người
  • Lao động nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản: 41 người
  • Lao động bưu điện, tín dụng: 32 người
  • Lao động TM, DV, DL: 7.667 người
  • Lao động hành chính sự nghiệp: 162 người
  • Lao động nông nghiệp: 520 người chiếm 3%

4. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội: 4.1. Về phát triển kinh tế:

  • Tổng thu ngân sách bình quân giai đoạn 2008-2011 đạt 11,814 tỷ đồng/năm, trong đó năm 2011 đạt 10,724 tỷ đồng.
  • Tổng giá trị sản phẩm nội địa là 541,246 tỷ đồng, tăng 29,7 % so năm 2010, trong đó:
    • Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm 54 %
    • Thương mại dịch vụ du lịch chiếm 23%
    • Nông lâm nghiệp thủy sản chiếm 23 %
  • Tỷ lệ hộ nghèo: 5,5%, giảm 4% so năm 2010.

4.2 Về phát triển văn hóa xã hội:

  • Hệ thống các cơ sở giáo dục, đào tạo gồm 4 trường:
    • Trường mầm non Hướng Dương
    • Trường Tiểu học Phong Phú
    • Trường Trung học cơ sở Phong Phú
    • Trường chuyên biệt Rạng Đông (thuộc hệ thống trường công lập)
  • Hệ thống trường dân lập, tư thục, quốc tế gồm có: 1 trường dân lập quốc tế giảng dạy 3 cấp từ tiểu học đến trung học phổ thông và 1 trường, 3 nhóm trẻ, 7 lớp mầm non.
  • Hệ thống cơ sở khám chữa bệnh: Trạm y tế xã diện tích 300m2, đã có phương án xây dựng mới Trạm y tế đạt chuẩn quốc gia trong thời gian tới; và 6 phòng khám chữa bệnh tây y.
  • Hệ thống các cơ sở văn hóa, thể dục, thể thao, thông tin truyền thông: Xã có 1 trung tâm học tập cộng đồng diện tích 450m2, trung tâm TDTT Thành Long có 6 sân bóng đá mini, 4 sân quần vợt, 1 phòng tập tạ, 2 hồ bơi, 6 bàn bida; 1 điểm vui chơi thiếu nhi diện tích 2000m2, và 2 điểm cử tạ thể hình, sân bóng đá mini.

5. Kết cấu cơ sở hạ tầng:

  • Trong năm 2011, địa phương đã tập trung đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật phục vụ sinh hoạt cho nhân dân cụ thể như sau: Thực hiện Bê tông hóa 15 hẻm tổng kinh phí thực hiện là 4 tỷ 620 triệu đồng, đồng thời thực hiện xây dựng 5 giếng nước sạch đưa vào sử dụng ở Xóm Gò góp phần phục vụ nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân.
  • Về hệ thống trụ sở cơ quan hành chính cơ sở bao gồm: Trụ sở UBND-HĐND xã diện tích khoảng 2000m2 được xây dựng mới sử dụng từ năm 2010, trang bị đầy đủ các phương tiện cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý; Trụ sở Ban nhân dân 5 ấp được xây dựng kiên cố với diện tích trung bình khoảng 100m2.
  • Về nhà ở của nhân dân: Tỷ lệ nhà đạt chuẩn kiên cố đạt 88 %; Tỷ lệ nhà chưa đạt chuẩn chiếm 12 %. Hàng năm địa phương luôn quan tâm tạo mọi điều kiện, vận động các mạnh thường quân giúp đỡ các hộ gia đình về vật chất cũng như chính sách để sửa chữa nâng cấp nhà có thể an tâm trong những mùa mưa bão.
  • Về cấp điện, nước phục vụ sinh hoạt nhân dân: Hiện nay hệ thống lưới điện quốc gia đã phủ kín mọi nơi trên địa bàn, đặc biệt ở khu vực như Xóm Gò ấp 1 do địa hình bao quanh là kênh rạch rất khó khăn trong giao thông nhưng với sự quyết tâm của các cấp lãnh đạo thành phố, huyện cũng như chính quyền địa phương cùng người dân đã thực hiện thành công việc kéo điện đến tất cả các hộ sinh sống trong khu vực đó. Tỷ lệ hộ dân trên địa bàn xã được sử dụng nước sạch đạt 98%, dự kiến trong thời gian tới khi dự án nhà máy nước sạch Thanh niên xung phong trên địa bàn xã đưa vào sử dụng sẽ là nguồn cung cấp nước sạch cho những dự án khu dân cư mới và nhân dân trên địa bàn xã.
  • Về xử lý nước, rác thải sinh hoạt: Hệ thống thoát nước trên các tuyến đường chính trên địa bàn xã như tuyến Quốc lộ 50, Đại lộ Nguyễn Văn Linh; Đường Trịnh Quang Nghị đều được lắp đặt hoàn chỉnh đồng bộ vào hệ thống thoát nước chung của thành phố. Các dự án khu dân cư, chung cư đều có xây dựng trạm xử lý nước thải sinh hoạt trước khi xả nước vào hệ thống thoát nước chung. Tỷ lệ rác thải sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt trên 75%; Trong thời gian tới địa phương sẽ đẩy mạnh công tác vận động tuyên truyền đến người dân để nâng cao hơn nữa tỷ lệ đăng ký lấy rác tiến tới xây dựng một đô thị sạch đẹp thông thoáng và vệ sinh.
  • Về thông tin liên lạc: Hệ thống loa phát thanh của xã được bố trí 8 điểm hợp lý trải đều trên địa bàn 5 ấp, thường xuyên thông tin kịp thời chính xác các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân. Hệ thống đường dây điện thoại cố định, di động, mạng internet đã đến được với mọi người dân tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc thông tin liên lạc.[3]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 130/2003/NĐ-CP
  2. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên MS
  3. ^ “Xã Phong Phú”. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]