Tổng giáo phận Huế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tổng giáo phận Huế

Archidioecesis Hueensis
Phu Cam2.JPG
Vị trí
Quốc giaViệt Nam
Địa giớiThừa Thiên - Huế, Quảng Trị
Giáo tỉnhGiáo tỉnh Huế
Thống kê
Khu vực9.773 km2 (3.773 sq mi)
Dân số
- Địa bàn
- Giáo dân
(tính đến 2017)
2.100.000
72.210 (3.44%)
Giáo hạt5 (2017)
Giáo xứ85 (2017)
Thông tin
Giáo pháiCông giáo Rôma
Nghi lễNghi lễ Công giáo Latinh
Thành lập27 tháng 8 năm 1850
Toà giám mục6 Nguyễn Trường Tộ, Huế và 69 Phan Đình Phùng, Huế.
Linh mục đoàn182 (2017)
Linh mục triều132 (2017)
Linh mục dòng50 (2017)
Giáo lý viên1.001 (2017)
Lãnh đạo giáo phận hiện tại
Giáo hoàngGiáo hoàng Phanxicô
Trưởng giáo tỉnhTổng giám mục.png Giuse Nguyễn Chí Linh
Tổng giám mụcTổng giám mục.png Giuse Nguyễn Chí Linh
Tổng Đại diệnAntôn Dương Quỳnh
Tổng giám mục danh dựGiám mục trống tòa.png Stêphanô Nguyễn Như Thể
Giám mục trống tòa.pngPhanxicô Xaviê Lê Văn Hồng
Bản đồ
Roman Catholic Diocese of Hue in Vietnam.jpg

Tổng giáo phận Huế (tiếng Latin: Archidioecesis Hueensis) là một tổng giáo phận của Giáo hội Công giáo Rôma ở miền trung Việt Nam.

Tính đến năm 2017, Tổng Giáo phận Huế có diện tích 9.773 km² (tương ứng các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế), với 72.210 giáo dân (3,44% dân số), 182 linh mục và 85 giáo xứ[1].

Tổng giám mục đương nhiệm là Giuse Nguyễn Chí Linh từ 29 tháng 10 năm 2016.

Lược sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Huế thuộc Địa phận Đàng Trong (1659-1844)[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hoàng Alexanđê VII (1655-1667) ban Sắc chỉ Apostolatus Officium, ký ngày 29 tháng 7 năm 1658 bổ nhiệm linh mục François Pallu làm Giám mục hiệu tòa Heliopolis và linh mục Pierre Lambert de la Motte làm Giám mục hiệu tòa Berythe, đều là Giám mục “trong phần đất dân ngoại” ở Việt Nam - Đại Việt.

Hơn một năm sau, ngày 9 tháng 9 năm 1659, Giáo hoàng Alexandre VII lại công bố Sắc chỉ Super Cathedram phân chia “phần đất dân ngoại” ở Việt Nam - Đại Việt rõ ràng: Giám mục Pallu coi sóc giáo phận Đàng Ngoài và Giám mục Lambert coi sóc giáo phận Đàng Trong.

Huế thuộc Địa phận Đông Đàng Trong (Quy Nhơn) (1844-1850)[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Taberd, vị Giám mục chính thứ 10 Giáo phận Đàng Trong qua đời năm 1840 và Giám mục Etienne-Théodore Cuénot kế nhiệm triệu tập Hội nghị Gò Thị tháng 10 năm 1841 chuẩn bị cho việc xin Tòa Thánh chia tách và thành lập 2 giáo phận mới.

Đến tháng 9 năm 1844, Tòa Thánh đã quyết định thành lập hai Hạt Đại diện Tông Tòa mới: Hạt Đại diện Tông Tòa Tây Đàng TrongHạt Đại diện Tông Tòa Đông Đàng Trong.

Địa phận Bắc Đàng Trong (1850)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1850, Tòa Thánh lại chia Đàng Trong thành bốn địa phận: Đông Đàng Trong (Quy Nhơn) vẫn do Giám mục Cuénot Thể coi sóc; Tây Đàng Trong (Sài Gòn) do Giám mục Lefèbvre đảm trách; Nam Đàng Trong (Nam Vang) do Giám mục Michel điều hành; Bắc Đàng Trong (Huế) do Giám mục Pellerin cai quản.

Ngày 28 tháng 8 năm 1850, Giáo hoàng Piô IX ban hành Sắc chỉ Postulat Apostolici, Hồng y A. Picchiani thừa lệnh ký tên, đóng dấu ấn Ngư phủ, chấp thuận thành lập giáo phận mới có danh xưng là Bắc Đàng Trong (Giáo phận Huế) với diện tích khoảng 12.227 km2. Ranh giới phía Ðông là biển Ðông. Phía Tây là biên giới Việt-Lào. Phía Bắc là dòng sông Gianh - Nguồn Son, có huyện địa đầu Bố Trạch (từ năm 2005, khu vực nam sông Gianh - sông Son được chuyển giao cho giáo phận Vinh, nay khu vực này thuộc giáo phận Hà Tĩnh). Phía Nam từ Thiên hạ đệ nhất hùng quan của đèo Hải Vân trở ra, thuộc huyện Phú Lộc, phủ Thừa Thiên. Nhân sự gồm có 2 thừa sai Pháp Jean Paul GalyJoseph Sohier, 12 linh mục người Việt, 2 chủng viện Di LoanKẻ Sen, 6 tu viện Mến Thánh Giá Nhu Lý, Di Loan, Dương Sơn, Phủ Cam, Kẻ Bàng, Mỹ Hương, 24.000 giáo dân. Tháng 12 năm 1856, Giám mục François-Marie Pellerin rời Huế vào Đà Nẵng và lên tàu La Capricieuse của Hải quân Pháp đi Hương Cảng rồi đi Pháp. Tháng 11 năm 1860, giám mục này đi Penang và bàn giao công việc điều hành Hạt đại diện Tông Tòa trong tay Giám mục phó Joseph-Hyacinthe Sohier (tấn phong giám mục ngày 17 tháng 8 năm 1851 tại Di Loan).

Địa phận Huế (1924)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1924, Địa phận Huế có 44 thừa sai, 83 linh mục, 35 sư huynh, 500 nữ tu, 68.000 giáo dân.

Năm 1925, Giáo hoàng Piô XI lập Tòa Khâm Sứ Ðông Dương. Vị khâm sứ đầu tiên là Giám mục Constantino Ajuti, người Ý, được bổ nhiệm ngày 25 tháng 5 năm 1925. Quan Thượng thư Nguyễn Hữu Bài đã đề nghị và giúp đỡ xây cất Tòa Khâm Sứ tại Huế, cạnh nhà thờ chính tòa Phủ Cam và khánh thành năm 1925. Năm 1951, Tòa Khâm Sứ được dời ra Hà Nội. Hiện nay, tòa nhà ở Huế là trụ sở của cộng đoàn Mến Thánh Giá Huế.

Năm 1941, Công đồng Đông Dương đã họp tại Toà khâm mạng Phủ Cam, Giáo phận Huế lớn mạnh với số giáo dân 74.904 người, 25 thừa sai Paris, 102 linh mục người Việt Nam.

Năm 1950, Hạt Đại diện Tông Tòa Huế kỷ niệm 100 năm thành lập Địa phận, số giáo dân là 78.500.

Tổng giáo phận Huế (1960)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Giáo hoàng Gioan XXIII ra Tông Thư “Venerabilium Nostrorum” thiết lập Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam với 3 Giáo tỉnh: Hà Nội, HuếSài Gòn. Ngày 8 tháng 12 năm 1960, tông thư này chính thức công bố tại Việt Nam. Cùng với việc nâng cấp Hạt Đại diện Tông Tòa Huế thành Tổng giáo phận, Giáo hoàng còn ra quyết định bổ nhiệm Giám mục Địa phận Vĩnh Long Phêrô Martinô Ngô Đình Thục làm Tổng Giám mục đô thành Tiên khởi, Trưởng giáo tỉnh Huế. Tính đến năm 1962, Tổng Giáo phận Huế có 162 linh mục (112 linh mục triều, 50 linh mục dòng) và 100.225 tín hữu. Số giáo xứ có linh mục là 85 và giáo họ không có linh mục là 264.

Các danh địa trong tổng giáo phận[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ chính tòa và Tòa Tổng giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ chính tòa Phủ Cam, tên chính thức là Nhà thờ Trái tim Cực sạch Đức Mẹnhà thờ chính tòa của Tổng Giáo phận[2].

Thánh địa hành hương[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà thờ và tu viện lớn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, Huế
  • Dòng Thánh Tâm Chúa Giê -su TGP Huế
  • Đan Viện Thiên An Huế
  • Cộng đoàn sư huynh La -san
  • Dòng con Đức Mẹ đi viếng
  • Dòng thánh Phao lô
  • Dòng con Đức mẹ vô nhiễm
  • Dòng nữ Cát Minh
  • Dòng Mến Thánh Giá Huế

Các giáo hạt và giáo xứ[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng giáo phận Huế có 5 giáo hạt, 85 giáo xứ.

Thừa Thiên - Huế[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hạt Thành phố Huế
  2. Hạt Hương Phú
  3. Hạt Hương Quảng Phong
  4. Hạt Hải Vân

Quảng Trị[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hạt Quảng Trị

Danh sách các giáo xứ

Các đời giám mục quản nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên Thời gian quản nhiệm Ghi chú
Hạt Đại diện Tông tòa Bắc Đàng Trong
1 † François-Marie Pellerin Phan Giám mục phụ tá.png 1850-1862
2 † Joseph-Hyacinthe Sohier Bình Giám mục phụ tá.png 1850-1876
3 † Martin-Jean Pontvianne Phong Giám mục phụ tá.png 1877-1879
4 † Marie-Antoine Caspar Lộc Giám mục phụ tá.png 1880-1907
5 † Eugène-Marie Allys Giám mục phụ tá.png 1908-1924
Hạt Đại diện Tông tòa Huế
5 † Eugène-Marie Allys Giám mục phụ tá.png 1924-1931
6 † Alexandre Paul Marie Chabanon Giáo Giám mục phụ tá.png 1930-1936
7 † François Arsène Jean Marie Eugène Lemasle Lễ Giám mục phụ tá.png 1937-1946
8 † Jean-Baptiste Urrutia Thi Giám mục phụ tá.png 1948-1960
Tổng Giáo phận Huế
9 † Phêrô Martinô Ngô Đình Thục Tổng giám mục.png 1960-1968
10 † Philipphê Nguyễn Kim Điền Tổng giám mục.png phó 1964-1968
Tổng giám mục.png 1968-1988
11 Stêphanô Nguyễn Như Thể Tổng giám mục.png phó 1975-1983
12 † Giuse Maria Trịnh Văn Căn Giám mục trống tòa.png 1988-1990 Hồng y, Giám quản Tông tòa
13 † Giacôbê Lê Văn Mẫn Giám mục trống tòa.png 1990-1994 Thực tế điều hành Tổng giáo phận từ năm 1988, chính thức được công nhận là Giám quản Tổng giáo phận từ năm 1990 với tư cách được công bố là Linh mục Tổng Đại diện
14 Stêphanô Nguyễn Như Thể Giám mục trống tòa.png 1994-1998
Tổng giám mục.png 1998-2012
Giám quản Tông tòa
Tổng giám mục
15 Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng Giám mục phụ tá.png 2005-2012
Tổng giám mục.png 2012-2016
16 Giuse Nguyễn Chí Linh Tổng giám mục.png 2016-nay

Ghi chú:

  • Hồng y.png: Hồng y
  • Tổng giám mục.png: Tổng giám mục
  • Tổng giám mục.png phó: Tổng giám mục phó
  • Giám mục phụ tá.png: Giám mục phụ tá hoặc Đại diện tông tòa
  • Giám mục trống tòa.png: Giám quản tông tòa

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]