Tổng giáo phận Hà Nội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tổng giáo phận Hà Nội

Archidioecesis Hanoiensis
CathedraleSTJosephHanoi.jpg
Vị trí
Quốc gia Việt Nam
Địa giới phần lớn Hà Nội
Hà Tây
Hà Nam
Nam Ðịnh (nửa thành phố Nam Ðịnh, huyện Mỹ Lộc, huyện Vụ Bản, huyện Ý Yên)
Hòa Bình: 4 huyện
Hải Hưng chỉ có một xứ thuộc huyện Kim Thi.
Giáo tỉnh Giáo tỉnh Hà Nội
Thống kê
Khu vực 7.000 km2 (2.700 sq mi)
Dân số
- Địa bàn
- Giáo dân
(tính đến 2017)
8.500.000
314.246 (3.7%)
Giáo hạt 6
Giáo xứ 148
Thông tin
Giáo phái Công giáo Rôma
Nghi lễ Nghi lễ Latinh
Thành lập 9 tháng 9 năm 1659
Nhà thờ chính tòa Nhà thờ Lớn Hà Nội
Nhà thờ chính tòa cũ Vương cung thánh đường Sở Kiện
Toà giám mục 40 Nhà Chung
Linh mục đoàn 164 (2017)
Linh mục triều 145 (2017)
Linh mục dòng 19 (2017)
Tổng số Tu sĩ 542 (2017)
Nam Tu sĩ 13 (2017)
Nữ Tu sĩ 529 (2017)
Giáo lý viên 1.430 (2017)
Lãnh đạo giáo phận hiện tại
Giáo hoàng Giáo hoàng Phanxicô
Tổng giám mục Tổng giám mục.png Giuse Vũ Văn Thiên
Giáo phận trực thuộc Giáo phận Hải Phòng
Giáo phận Hưng Hóa
Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng
Giáo phận Bắc Ninh
Giáo phận Thái Bình
Giáo phận Phát Diệm
Giáo phận Bùi Chu
Giáo phận Thanh Hóa
Giáo phận Vinh
Giáo phận Hà Tĩnh
Chưởng ấn Anphongsô Phạm Hùng
Nguyên giám mục Giám mục trống tòa.png Lôrensô Chu Văn Minh
Tổng giám mục danh dự Giám mục trống tòa.png Giuse Ngô Quang Kiệt
Hồng y.png Phêrô Nguyễn Văn Nhơn
Bản đồ
Khu vực Tổng giáo phận Hà Nội quản lý.
Khu vực Tổng giáo phận Hà Nội quản lý.
Trang mạng
https://tonggiaophanhanoi.org/

Tổng Giáo phận Hà Nội (tiếng Latin: Archidioecesis Hanoiensis) [1] là một Tổng giáo phận Công giáo quản lý giáo dân vùng Hà Nội và một số tỉnh phụ cận [2].

Tổng diện tích lãnh thổ Giáo luật của Tổng giáo phận Hà Nội xấp xỉ 7.000 km²,[3] bao gồm địa phận Hà Nội, Hà Nam, một phần các tỉnh Nam Định, Hưng YênHoà Bình.[4]

Hiện nay quản lý giáo phận là Tổng giám mục Giuse Vũ Văn Thiên (từ 2018).[5]

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 1659 đến 1679[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1659, đã có nhiều hoạt động truyền giáo trên lãnh thổ Đại Việt, chủ yếu do các giáo sĩ Dòng Tên thực hiện.

Ngày 9 tháng 9 năm 1659, Giáo hoàng Alexanđê VII phân chia Giáo phận Ma Cao, với phần lãnh thổ thuộc Đại Việt thành 2 Hạt Đại diện Tông tòa và giao cho 2 giám mục Hội Thừa sai Paris làm giám quản:

Giai đoạn 1679 đến 1845[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1678, Giáo hoàng Innôcentê XI tôn phong Thánh Giuse làm Thánh Bảo trợ Việt Nam và các nước lân cận.

Ngày 24 tháng 7 năm 1678, Tòa Thánh Rôma cho tách Hạt Đại diện Tông Tòa Đàng Ngoài thành hai Hạt đại diện Tông Tòa mới, lấy sông Hồng làm ranh giới:

  • Giám mục Jacques de Bourges M.E.P. giai đoạn từ ngày 25 tháng 11 năm 1679 đến ngày 9 tháng 8 năm 1714.[6]
  • Giám mục Edme Bélot kế vị và cai quản đến ngày 2 tháng 1 năm 1717.
  • Giám mục François-Gabriel Guisain, từ ngày 3 tháng 10 năm 1718 đến ngày 17 tháng 11 năm 1723.
  • Giám mục Louis Néez, M.E.P, từ ngày 08 tháng 10 năm 1738 đến ngày 19 tháng 10 năm 1764.
  • Giám mục Bertrand Reydellet, M.E.P, kế vị và cai quản đến ngày 27 tháng 7 năm 1780.
  • Giám mục Jean Davoust, M.E.P, từ ngày 18 tháng 7 năm 1780 đến ngày 17 tháng 8 năm 1789.
  • Giám mục Jacques-Benjamin Longer Gia, M.E.P, kế vị và cai quản đến ngày 8 tháng 2 năm 1831.
  • Giám mục Joseph-Marie-Pélagie Havard Du, M.E.P, kế vị và cai quản đến ngày 5 tháng 7 năm 1838.
  • Thánh Linh mục Pierre Dumoulin-Borie Cao, M.E.P, kế vị và cai quản đến 24 tháng 11 năm 1838.
  • Giám mục Pierre-André Retord Liêu, M.E.P, cai quản từ ngày 24 tháng 11 năm 1839 đến ngày 22 tháng 10 năm 1858.

Giai đoạn 1846 đến 1894[sửa | sửa mã nguồn]

Các linh mục công giáo Bắc Kỳ thế kỷ XIX

Ngày 17 tháng 3 năm 1846, Giáo hoàng Grêgôriô XVI đã tách các giáo khu thuộc Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và một phần Quảng Bình, của Hạt Đại diện Tông Tòa Tây Đàng Ngoài để thành lập Hạt Đại diện Tông Tòa Nam Đàng Ngoài và giao cho Giám mục Jean Denis Gauthier [7] (tên Việt là Ngô Gia Hậu) cai quản.

Giai đoạn 1895 đến 1900[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 4 năm 1895, Giáo hoàng Lêô XIII đã tách các giáo khu thuộc Sơn Tây, Hưng HóaTuyên Quang của Hạt Đại dện Tông Tòa Tây Đàng Ngoài để thành lập Hạt Đại diện Tông Tòa Đoài, còn gọi là Hạt Đại diện Tông toà Thượng du Bắc Kỳ (Tonkin Supérieur), và giao cho Giám mục Paul Marie Raymond [8] (tên Việt là Lộc), Dòng thừa sai, cai quản.

Giai đoạn 1901 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 4 năm 1901, Tòa Thánh tách các giáo khu thuộc Thanh Hóa và Ninh Bình của Hạt Đại diện Tông Tòa Tây Đàng Ngoài để thành lập Hạt Đại diện Tông Tòa Duyên hải Bắc kỳ, giao cho Giám mục Jean Pierre Marcou [9] (tên Việt là Thành), Dòng thừa sai, cai quản.

Ngày 3 tháng 12 năm 1924, Giáo hoàng Piô XI đã cho đổi tên một loạt các Hạt Đại diện Tông Tòa tại Việt Nam theo địa bàn hành chính nơi đặt toà giám mục. Theo đó, Hạt Đại diện Tây Đàng Ngoài đổi tên thành Hạt Đại diện Tông Tòa Hà Nội.

Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Giáo hoàng Gioan XXIII cho thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam và chính thức nâng Hạt Đại diện Tông Tòa Hà Nội lên hàng Tổng Giáo phận đô thành, Tổng giáo phận Hà Nội.

Các địa danh trong tổng giáo phận[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ chính tòa và Tòa Tổng giám mục Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh địa hành hương[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà thờ và tu viện lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Các đời giám mục quản nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Các đời giám mục ở giáo phận Hà Nội qua các thời kỳ được liệt kê [10] như sau:

STT Tên Thời gian quản nhiệm Ghi chú
Hạt Đại diện Tông tòa Đàng Ngoài
1 † François Pallu Giám mục phụ tá.png 1658-1680
Hạt Đại diện Tông tòa Tây Đàng Ngoài
2 † Jacques de Bourges Gia Giám mục phụ tá.png 1679-1714
3 † Edme Bélot Giám mục phụ tá.png 1696-1719
4 † François-Gabriel Guisain Giám mục phụ tá.png 1718-1723
5 † Louis Néez Giám mục phụ tá.png 1738-1764
6 † Louis-Marie Deveaux Giám mục phụ tá.png 1745-1756
7 † Edmond Bennetat Giám mục phụ tá.png 1758-1761
8 † Bertrand Reydellet Giám mục phụ tá.png 1762-1780
9 † Jean Davoust Giám mục phụ tá.png 1771-1789
10 † Jacques-Benjamin Longer Gia Giám mục phụ tá.png 1787-1831
11 † Charles La Mothe Hậu Giám mục phụ tá.png 1793-1816
12 † Jean-Jacques Guérard Đoan Giám mục phụ tá.png 1816-1823
13 † Jean-François Ollivier Giám mục phụ tá.png 1824-1827
14 † Joseph-Pélagie Havard Du Giám mục phụ tá.png 1828-1838
15 † Pierre-Ursule Borie Cao Giám mục phụ tá.png 1836-1838
16 † Pierre-André Retord Liêu Giám mục phụ tá.png 1838-1858
17 † Jean-Denis Gauthier Hậu Giám mục phụ tá.png 1839-1846
18 † Charles-Hubert Jeantet Khiêm Giám mục phụ tá.png 1846-1866
19 † Joseph-Simon Theurel Chiêu Giám mục phụ tá.png 1859-1868
20 † Paul-François Puginier Phước Giám mục phụ tá.png 1866-1892
21 † Pierre-Marie Gendreau Đông Giám mục phụ tá.png 1887-1924
Hạt Đại diện Tông tòa Hà Nội
Pierre-Marie Gendreau Đông Giám mục phụ tá.png 1924-1935
22 † François Chaize Thịnh Giám mục phụ tá.png 1925-1949
23 † Giuse Maria Trịnh Như Khuê Giám mục phụ tá.png 1950-1960
Tổng Giáo phận Hà Nội
Giuse Maria Trịnh Như Khuê Tổng giám mục.png 1960-1978
Hồng y.png 1976-1978
24 † Giuse Maria Trịnh Văn Căn Tổng giám mục.png phó 1963-1978
Tổng giám mục.png 1978-1990
Hồng y.png 1979-1990
Tổng giám mục phó
Tổng giám mục
Hồng y
25 † Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang Giám mục phụ tá.png 1981-1990
26 † Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng Giám mục trống tòa.png 1990-1994
Tổng giám mục.png 1994-2005
Hồng y.png 1994-2009
Giám quản Tông tòa
Tổng giám mục
Hồng y
27 † Phaolô Lê Đắc Trọng Giám mục phụ tá.png 1994-2006
28 Giuse Ngô Quang Kiệt Giám mục trống tòa.png 2003-2005
Tổng giám mục.png 2005-2010
Giám quản Tông tòa
Tổng giám mục
29 Lôrensô Chu Văn Minh Giám mục phụ tá.png 2008-2019
30 Phêrô Nguyễn Văn Nhơn Tổng giám mục.pngphó 2010
Tổng giám mục.png 2010-2018
Hồng y.png 2015-nay
31 Giuse Vũ Văn Thiên Tổng giám mục.png 2018-nay

Ghi chú:

  • Hồng y.png: Hồng y
  • Tổng giám mục.png: Tổng giám mục (phó)
  • Giám mục phụ tá.png: Giám mục phụ tá, Đại diện tông tòa
  • Giám mục trống tòa.png: Giám quản tông tòa

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]