Quan hệ Tòa Thánh – Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Quan hệ ngoại giao giữa Tòa Thánh và Việt Nam (cũng có thể gọi là Quan hệ ngoại giao giữa Vatican và Việt Nam) trong lịch sử chưa bao giờ được thiết lập chính thức mặc dù Việt Nam là một quốc gia có số lượng giáo dân Công giáo lớn ở châu Á[1]. Cho tới hiện nay, cấp bậc cao nhất trong mối quan hệ giữa Tòa Thánh và Việt Nam cũng chỉ là Khâm sứ Tòa Thánh nhưng chỉ tới năm 1975.

Tuy nhiên, những năm gần đây, hai bên đã cử những đại diện ngoại giao đến viếng thăm lẫn nhau. Lần gần đây nhất, vào Tháng hai năm 2009, phái đoàn của Tòa Thánh do Thứ trưởng Ngoại giao - Đức ông Pietro Parolin (nay là Hồng y Quốc vụ khanh tức Ngoại trưởng Tòa Thánh) dẫn đầu - đã đến thăm và làm việc tại Hà Nội, cả hai bên đã quyết định thành lập các "Nhóm Công tác hỗn hợp Việt Nam - Vatican" để thảo luận vấn đề về quan hệ ngoại giao[2].

Đến năm 2011, Nhà nước Việt Nam đồng ý để Tòa Thánh bổ nhiệm một vị Đại diện không thường trú tại Việt Nam, đó là Tổng Giám mục Leopoldo Girelli.

Nền tảng ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy là Tòa Thánh có liên lạc với Việt Nam từ thời Nhà Lê sơthế kỷ 16. Người ta cho rằng, triều vua Lê Thế Tông (15721599), Việt Nam đã bắt đầu có quan hệ với Tòa Thánh, nhưng chưa có một bằng chứng thuyết phục cho lập luận này. Một quốc thư bang giao đầu tiên của Nhà Lê gửi cho Toà Thánh còn được lưu trữ[3]. Giả như, nếu Trịnh Tráng là người cho chấp bút lá thư này gửi Giáo hoàng Urbanô VIII thì lá thư đó phải được viết dưới thời vua Lê Thần Tông đang tại ngôi (1619-1643). Trịnh Tráng sau này lên kế vị cha là Trịnh Tùng trong khoảng thời gian 1623-1654.

Lá thư này được viết bằng chữ Hán, nếu không có quá nhiều sai lệch thì có thể hiểu nội dung lá thư như sau: Triều đình Việt Nam thời đó đã đón nhận hai nhà truyền giáo tinh thông địa lý và dĩ nhiên hiểu nhiều về giáo lý Công giáo, chủ yếu là lòng tin-cậy-mến đối với Thiên Chúa và con người. Các nhà truyền giáo Dòng Tên thời đó muốn làm đẹp lòng các vua chúa Việt Nam, và chinh phục thiện cảm của cộng đoàn mình tiếp xúc, thường mang theo lễ vật dâng lên các vua chúa trước khi lo việc truyền đạo. Theo đối chiếu lịch sử, người ta hiểu rằng hai vị giáo sĩ truyền đạo lúc ấy chính là linh mục Alexandre de RhodesPedro Marquez. Nhưng về phía vua chúa đất Việt, việc buôn bán được xem là chính yếu và lễ vật giao dịch thường thấy lúc đó của Việt Nam là trầm hương, vải vóc và nhãn nhục.

Năm 1922, Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài - thành viên thuộc phái đoàn vua Khải Định sang Pháp - đã đến Rôma yết kiến Giáo hoàng Piô XI để thỉnh cầu bổ nhiệm Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam và phong chức Giám mục cho các linh mục bản xứ. Vì thế, trong năm đó, Giáo hoàng Piô XI đã cử Giám mục Henri Lécroart - một giáo sĩ Dòng Tên là Giám mục giáo phận Chi Li (có tài liệu khác cho là giáo phận Thiên Tân, Trung Hoa) - làm Thanh tra Tông Tòa (tiếng Pháp: Visiteur Apostolique) đi quan sát tình hình các giáo phận ở Đông Dương, đặc biệt là về cách tổ chức các chủng viện và chương trình giáo dục. Đây chính là hoạt động đầu tiên của thời kỳ mà khu vực Đông Dương lập quan hệ với Tòa Thánh. Trong cuộc họp tại Phát Diệm với 11 Giám mục giáo phận từ ngày 4 đến 9 tháng 2 năm 1923 và tại Sài Gòn với 7 Giám mục giáo phận ngày 20 tháng 6 năm 1923, các Đại diện Tông Tòa ở vùng Đông Dương đã đề nghị Thánh Bộ Truyền giáo đổi tên các giáo phận theo tên các thành phố có đặt tòa Giám mục.

Những khúc mắc trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khúc mắc từ Thế kỷ 19 tới hết Chiến tranh Đông Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Nguyễn của Việt Nam đã có những khúc mắc với Tòa Thánh trong quá khứ. Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Hoàng đế Gia Long đã trao nhiều đặc quyền cho Tòa Thánh ở Việt Nam nhưng những đặc quyền này đã bị các giới chức Thiên chúa giáo lợi dụng để gây mâu thuẫn giữa người dân và nhà vua. Sau đó, để giữ ổn định đất nước, Hoàng đế Gia Long đã tước các đặc quyền này và ngăn chặn ảnh hưởng của châu Âu lên Việt Nam, trong đó có tôn giáo. Hoàng đế Thiệu Trị từng coi việc truyền bá Thiên chúa giáo ở Việt Nam là âm mưu xâm lược Việt Nam của các nước châu Âu. Hoàng đế đã ban hành lệnh cấm các hoạt động tôn giáo của Tòa Thánh ở Việt Nam. Các nhóm phản kháng theo đạo Thiên chúa có tư tưởng chống lại nhà vua ở Nam Kỳ được các nhà tư bản Pháp ủng hộ. Trong các trận chiến giữa Nhà Nguyễn và các nước châu Âu, nhiều người Việt theo đạo Thiên chúa đã ủng hộ, thậm chí đầu quân cho các lực lượng nước ngoài. Khi Pháp xâm lược Việt Nam, giới tăng lữ nhà thờ và những người theo đạo Thiên chúa đã được chính quyền thực dân trao cho những đặc quyền vượt trội trong xã hội về các vấn đề kinh tế, chính trị, tôn giáo. Đứng đằng sau những giới chức quân sự và dân sự của chính quyền thực dân đều có sự hiện diện của nhà thờ. Khi Việt Nam xảy ra nạn đói, nhiều người đã bị cưỡng bức cải đạo để nhận được thức ăn.[4]

Khúc mắc thời Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Phát-xít Nhật bị Việt Minh đánh bại, Hoàng đế bù nhìn (puppet) Bảo Đại thoái vị, Việt Nam trở thành một nước độc lập. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thừa nhận toàn bộ sự trợ giúp của cộng động Thiên chúa giáo trong công cuộc giành độc lập của dân tộc. Mặc dù là một người Mác-xít nhưng Hồ Chí Minh không hề quan điểm kỳ thị hay thiên vị tôn giáo do đó ngày Phật Đản và Giáng sinh đều là những ngày lễ quốc gia của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, người Pháp vẫn không từ bỏ ý định tái chiếm Việt Nam. Tới năm 1950, Hoa Kỳ công nhận chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại mặc dù trước đó Hồ Chí Minh đã gửi thư đề nghị thiết lập quan hệ ngoại giao VNDCCH-Hoa Kỳ vào năm 1946. Tới tháng 5/1950, Pháp và Hoa Kỳ đạt được thỏa thuận ủng hộ lẫn nhau trong vấn đề Triều Tiên và vấn đề Việt Nam. Tới năm 1952, Hoa Kỳ viện trợ cho Pháp 200 tầu vận tải, 222 máy bay chiến đấu, 225 tàu chiến, 1.300 ô tô tải và chi 1/3 chiến phí của Pháp tại Việt Nam. Tới năm 1954, Hoa Kỳ đã gánh 80% chiến phí của Pháp tại Việt Nam. Tuy nhiên, mọi nỗ lực của Hoa Kỳ và Pháp bị đổ bể khi Pháp bị Việt Nam đánh bại ở Điện Biên Phủ vào tháng 5/1954[5]

Để ngăn chặn Chủ nghĩa Cộng sản đang lan rộng trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, Hoa Kỳ nhận thấy vai trò không thể thiếu của tôn giáo, đặc biệt là Thiên chúa giáo. Về phía Tòa Thánh, Tòa Thánh cũng rất bất bình với những hành động nhằm phi tôn giáo hóa của Liên Xô ở các nước Đông Âu. Trước đó, trong thời kỳ trước và trong Chiến tranh Thế giới lần thứ 2, Vatican cũng đã hợp tác với Ý và Đức để thủ tiêu chủ nghĩa Cộng sản ở những nước này. Tới thời điểm những năm 1950, với mục tiêu ngăn chặn Chủ nghĩa Cộng sản ở Việt Nam, Hoa Kỳ và Vatican lại tiếp tục phối hợp với nhau.[6]

Tòa Thánh can thiệp vào Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Để ngăn chặn cuộc Tổng tuyển cử dự định được tổ chức theo Hiệp định Geneva 1954, Tổng thống Hoa Kỳ J.F. Kennedy đã tìm cách lợi dụng niềm tin tôn giáo của những giáo dân chống Cộng. Để thực hiện ý đồ này, Hoa Kỳ cần tìm ra một người phù hợp và người đó chính là Ngô Đình Diệm. Mục tiêu của Hoa Kỳ bao gồm: ngăn chặn Tổng tuyển cử, dựng lên một người sẽ lãnh đạo miền Nam Việt Nam bằng bàn tay sắt và Thiên chúa giáo hóa toàn bộ miền Nam. Ngô Đình Diệm là một người sùng đạo, có ý muốn trở thành linh mục ngay từ lúc nhỏ. Tuy nhiên, lúc trưởng thành ông phục vụ cho cả chính quyền Phong kiến lẫn chính quyền Thực dân của Pháp. Tới năm 33 tuổi, Ngô Đình Diệm ly hương trong 15 năm. Điều này đã khiến Hoa Kỳ cho rằng Ngô Đình Diệm là người phù hợp nhất cho mục tiêu dựng lên một người sẽ lãnh đạo miền Nam Việt Nam bằng bàn tay sắt.[7]

Ngô Đình Diệm đã thực hiện dúng ý đồ của Hoa Kỳ và Vatican là từ chối Tổng tuyển cử và nỗ lực xây dựng miền Nam Việt Nam thành một quốc gia độc lập khỏi miền Bắc Việt Nam. Việc Ngô Đình Diệm từ chối Tổng tuyển cử đã khiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chuyển chiến lược từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh vũ trang. Để thực hiện mục tiêu đưa miền Nam thành một quốc gia độc lập, bộ máy của Ngô Đình Diệm hướng tới ba mục tiêu, bao gồm: làm suy yếu VNDCCH, ngăn chặn sự ủng hộ của VNDCCH với phong trào Cộng sản ở miền Nam và tăng cường sự thu hút (absorption) của miền Nam với những người theo đạo Thiên chúa. Kế hoạch của Ngô Đình Diệm đã nhận được sự ủng hộ của cả Hoa Kỳ lẫn Tòa Thánh. Ngô Đình Diệm và Hoa Kỳ đều có chung nhận định khi cho rằng kế hoạch của họ sẽ thất bại nếu thiếu đi sự ủng hộ của Tòa Thánh. Trước đó, trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương, phần lớn giáo dân ở miền Bắc ủng hộ Pháp và chống Việt Minh do lo sợ viễn cảnh vể một nước Việt Nam Cộng sản phi tôn giáo. Tuy nhiên, để ngăn chặn sự chống đối của những người Thiên chúa giáo sau năm 1954, Hồ Chí Minh đã sử dụng biện pháp dung hòa, thậm chí còn bổ nhiệm một linh mục làm cố vấn cho mình. Để chống lại ý định của Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ, Tòa Thánh và Ngô Đình Diệm tuyên truyền rằng chỉ có Nhà thờ của họ mới là Nhà thờ đích thực. Họ cáo buộc chính quyền Hồ Chí Minh có những hành động ngược đãi tôn giáo. Để thực hiện ý đồ của mình, Hoa Kỳ và Ngô Đình Diệm đã cử những người phá hoại (sabotage workers) ra miền Bắc với vỏ bọc tôn giáo, đặc biệt là Thiên chúa giáo. Những người Thiên chúa giáo vào Nam được chính quyền Ngô Đình Diệm và Hoa Kỳ biệt đãi với nhà cửa, việc làm và lương thực. Kế hoạch của Ngô Đình Diệm và Hoa Kỳ khiến Giáo hoàng Pius XII rất tâm đắc. Khi đoàn thuyền chở người Thiên chúa giáo di cư cập bến miền Nam, Ngô Đình Diệm cùng anh trai là linh mục Ngô Đình Thục và Đại diện của Giáo hoàng ra tận nơi để chào đón.[8] Và đúng như những gì Hồ Chí Minh dự báo khi trao đổi trong những cuộc tiếp xúc bí mật giữa Tòa Thánh và chính quyền Hà Nội, chẳng cần miền Bắc can thiệp thì tình hình miền Nam vẫn sẽ cứ trở nên rối loạn vì chính sự thiên vị của Ngô Đình Diệm với cộng đồng Thiên chúa giáo.[9]

Quá trình Thiên chúa giáo hóa của chính quyền Ngô Đình Diệm được Hoa Kỳ và Tòa thánh ủng hộ với hai cố vấn trực tiếp là J. Dulles từ CIA và Hồng y Spellman từ Tòa Thánh. Hoa Kỳ đã chi 40 triệu USD để hỗ trợ các hoạt động của Tòa Thánh tại Việt Nam.[10] Trong suốt thời gian chiến tranh, Tòa Thánh đã có những nỗ lực nhằm ngăn cản chính quyền hai miền ngồi lại với nhau.[11]

Các chức danh Khâm sứ Tòa Thánh[sửa | sửa mã nguồn]

Khâm sứ Tòa Thánh (Apotolic Delegate) mặc dù chỉ giữ mối liên lạc giữa Giáo hội và nước bản địa về mặt tôn giáo nhưng cũng giữ một chút việc về ngoại giao.

Khâm sứ tại vùng Đông Dương (Khâm sứ tại Huế)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 25 tháng 5 năm 1925, Giáo hoàng Piô XI đã cho lập Tòa Khâm sứ Đông Dương (gồm lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia) và Thái Lan, và cử Giám mục Constantin Ajutti làm Khâm sứ Tòa Thánh tại vùng Đông Dương, nhưng chủ yếu là tại Việt Nam. Ban đầu, Khâm sứ Ayuti đặt văn phòng tạm tại Hà Nội. Nhưng vào lúc bấy giờ, dù Hà Nội có vị trí quan trọng nhưng Huế mới là kinh đô của Việt Nam. Vì vậy, sau này, trụ sở Tòa Khâm sứ ở Liên Bang Đông Dương đã được về Huế, gần Nhà thờ chính tòa Phủ Cam[12]. Trong nhiệm kỳ của mình, Giám mục Ajutti luôn xúc tiến cụ thể và tích cực việc hình thành hàng giáo phẩm người bản xứ. Kết quả cụ thể nhất là Toà Thánh đã chọn linh mục người Việt đầu tiên là Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng làm Giám mục. Ông qua đời khi đang tại nhiệm, trước khi Trụ sở Tòa Khâm sứ tại Huế được khánh thành ngày 1 tháng 5 năm 1928.

Liên tục trong 25 năm sau đó, các Khâm sứ kế vị là Giám mục Columban Dreyer (1928-1937) và Giám mục Antonin Drapier (1937-1950) đều đặt Toà Khâm sứ tại Huế.

Khâm sứ tại Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh tòa nhà 42 Nhà Chung, nơi từng được sử dụng làm trụ sở Tòa Khâm sứ tại Hà Nội.

Năm 1945, Việt Nam tuyên bố độc lập. Từ đó, Huế không còn là kinh đô của Việt Nam và Hà Nội trở thành thủ đô của Việt Nam. Năm 1950, Giáo hoàng Piô XII đã bổ nhiệm Giám mục John Dooley, người Ireland, làm Khâm sứ tại Đông Dương và ngày 18 tháng 10 năm 1951, Khâm sứ Dooley đã quyết định dời trụ sở Toà Khâm sứ từ Huế ra Hà Nội và đặt cạnh Tòa Giám mục Hà Nội.

Sau Hiệp định Genève 1954, Khâm sứ Dooley vẫn tiếp tục giữ cương vị đại diện chính thức của Tòa Thánh tại Hà Nội tới năm 1959. Năm 1954, khi Việt Nam tạm bị chia cắt thành hai vùng tập kết quân sự để chuẩn bị Tổng tuyển cử theo Hiệp định Geneva 1954, Khâm sứ Dooley vẫn ở lại Tòa Khâm Sứ tại Hà Nội cho đến năm 1959. Sau đó, Khâm sứ Dooley vì lý do sức khỏe nên đã rời Hà Nội. Người thay thế ông với cương vị Khâm sứ tạm thời (do chưa được Giáo hoàng bổ nhiệm) là Linh mục Terence O'Driscoll, nhưng sau cũng bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trục xuất khỏi Việt Nam vào tháng 9 năm 1959.[13][14]

Khâm sứ tại Sài Gòn[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Miền Bắc Việt Nam, do hoàn cảnh bị cô lập nên Khâm sứ Dooley không thể liên lạc được với các quốc gia thuộc quyền khác nên ngày 15 tháng 2 năm 1956, Tòa Thánh đã cử Giám mục Giuseppe Caprio làm Thanh tra Tông tòa tại thủ đô Sài Gòn của Việt Nam Cộng hòa. Năm 1957, Thanh tra Tông Tòa Sài Gòn được nâng lên thành Đại lý Khâm sứ tại Sài Gòn (Régent Apostolique).

Ngày 9 tháng 12 1955, Tòa Thánh chính thức công nhận chính quyền Việt Nam Cộng hòa[15] Sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trục xuất Linh mục Terence O'Driscoll khỏi Hà Nội thì Đại lý Khâm sứ tại Sài Gòn được nâng lên thành Khâm sứ Tòa Thánh tại Sài Gòn, cử Giám mục Mario Brini giữ chức khâm sứ để giữ mối liên lạc giữa Tòa Thánh ở Miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia. Giám mục Mario Brini là người có đóng góp lớn trong việc Tòa Thánh quyết định thiết lập Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam vào ngày 24 tháng 11 năm 1960. Năm 1964, trách nhiệm liên hệ giữa Tòa Thánh với Lào được chuyển giao cho Tòa Khâm sứ Bangkok còn tại Sài Gòn đảm nhận cho lãnh thổ Nam Việt Nam và Campuchia.

Ngày 17 tháng 6 năm 1964, Giáo hoàng Phaolô VI đã cho đổi Khâm sứ Tòa Thánh tại vùng Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) thành Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam và bổ nhiệm Giám mục Angelo Palmas vào chức vụ Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam, trụ sở đặt tại Sài Gòn. Ông rời Việt Nam ngày 19 tháng 4 năm 1969 để nhận chức Sứ thần Tòa Thánh tại Colombia.

Đóng cửa tòa khâm sứ và gián đoạn liên hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 14 tháng 5 năm 1975, một nhóm linh mục và giáo dân gồm có linh mục Trương Bá Cần, Huỳnh Công Minh, Vương Đình Bích, Phan Khắc Từ... kéo đến tòa khâm sứ Sài Gòn để có những hành vi kích động đòi Tổng giám mục Henri Lemaitre từ chức vì họ cho rằng ông có trách nhiệm trong việc bổ nhiệm Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận vào nhiệm vụ tổng giám mục phó Sài Gòn. Tối ngày 3 tháng 6 năm 1975, họ trở lại lần nữa và ở lỳ qua đêm tại tòa khâm sứ.[cần dẫn nguồn]

Sau đó, theo yêu cầu của chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Khâm sứ Tòa Thánh phải rời Sài Gòn vào tháng 8 năm 1975, chấm dứt sự có mặt của đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam.[16] Ngày 19 tháng 12 năm 1975, ông nhận chức Sứ thần Tòa Thánh tại Uganda.

Từ thời điểm đó cho đến thập niên 1980, quan hệ nhà nước Việt Nam với Toà Thánh Vatican thường xuyên xảy ra căng thẳng, có tính cách đối đầu hơn là xây dựng cảm thông hòa dịu. Có thể nguyên nhân sâu xa là các quan hệ và thái độ từ quá khứ: giữa Giáo hội Công giáo hoàn vũ với chủ nghĩa cộng sản và giữa thành phần Công giáo với lực lượng cộng sản trong Chiến tranh Đông DươngChiến tranh Việt Nam. Tới năm 1980, những đấu hiệu đầu tiên về tái thiết lập quan hệ bắt đầu xuất hiện khi Hội đồng Giám mục Việt Nam được thành lập gồm tất cả các giám mục giáo phận và ra Thư chung với phương châm “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào

Tới năm 1990, Việt Nam và Tòa Thánh bắt đầu có những tiếp xúc đầu tiên, đặt nền móng cho những phát triển sau này.[17] Hoạt động giao lưu, tiếp xúc giữa hai bên được đẩy mạnh từ những năm 2000 và được Ngoại trưởng Tòa Thánh, Đức Tổng Giám mục Paul Gallagher đánh giá là đang đi đúng hướng.[18]

Đàm phán nối lại quan hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Quan hệ Tòa Thánh và chính quyền Việt Nam bắt đầu được nối lại bằng những cuộc tiếp xúc trực tiếp từ năm 1990, sau khi Việt Nam bước vào giai đoạn mở cửa. Năm 1994, Campuchia và Tòa Thánh thiết lập quan hệ ngoại giao thì vị Sứ thần tại Campuchia vẫn đảm nhận liên lạc với Việt Nam một cách không chính thức.

Từ cuối thập niên 2000 trở đi, trong khuôn khổ chuyến viếng thăm nước Cộng hòa Italia (hoặc châu Âu), các giới chức cao cấp nhất của nước Cộng hòa Xã hội Việt Nam cũng đã đến hội kiến các vị giáo hoàng đương nhiệm tại Vatican. Ngày 25 tháng 1 năm 2007, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã viếng thăm Vatican, hội kiến Giáo hoàng Biển Đức XVIHồng y Quốc vụ khanh Tarcisio Bertone. Đây là vị thủ tướng đầu tiên của Việt Nam đến Vatican hội kiến Giáo hoàng, kể từ sau năm 1975.[19]

Đầu năm 2009, trong bài trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Công giáo UCA sau Cuộc viếng thăm Ad Limina, Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn (Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, cuộc đàm phán thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Tòa Thánh và Việt Nam hiện nằm ở phía chính quyền Việt Nam, và "Tòa Thánh đã sẵn sàng để thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam trong một thời gian dài. Những vấn đề then chốt hiện nay nằm ở chính quyền Việt Nam"[20].

Ngày 11 tháng 12 năm 2009, Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết hội kiến với Giáo hoàng Biển Đức XVI và Hồng y Tarcisio Bertone tại Vatican[21][22]. Đây là vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên của Việt Nam đến Vatican hội kiến Giáo hoàng, kể từ sau năm 1975. Ngày 8 tháng 1 năm 2011, Hồng y Ivan Dias, Bộ trưởng Bộ Truyền giáo Tòa thánh Vatican với vai trò Đặc sứ của Giáo hoàng sang dự lễ bế mạc Năm Thánh 2010 tại La Vang và đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp.

Ngày 22 tháng 1 năm 2013, một phái đoàn quan chức cấp cao do Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu đã đến thăm Tòa thánh Vatican. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có cuộc tiếp kiến trong vòng 30 phút với Giáo hoàng Biển Đức XVI tại Tòa thánh Vatican. Ông đã tặng Giáo hoàng bức sơn mài có hình chùa Một Cột ở Hà Nội, và được Giáo hoàng tặng một bức tranh hình một phông ten trong nội thành Vatican. Giới quan sát nhận định, đây là điều ít khi xảy ra, vì giáo hoàng thông thường chỉ tiếp các nguyên thủ quốc gia, các thủ tướng hoặc các lãnh đạo chính trị tiếng tăm thế giới,[23] ít khi tiếp một lãnh đạo chính đảng. Đoàn Việt Nam cũng đã hội kiến với Hồng y Tarcisio Bertone, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, với sự hiện diện của Tổng Giám mục Dominique Mamberti, Ngoại trưởng Tòa Thánh, cùng với một số chức sắc thuộc Bộ ngoại giao Tòa Thánh. Thông báo của Phòng Báo chí Tòa Thánh cho biết "Đây là lần đầu tiên một vị Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam gặp Đức Giáo hoàng và các vị lãnh đạo cấp cao của Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Trong các cuộc nói chuyện thân mật các vị đã bàn về những vần đề có quan hệ đối với Việt Nam và Tòa Thánh, đồng thời bày tỏ ước muốn một số tình trạng còn tồn đọng sớm được giải quyết và sự cộng tác phong phú hiện nay có thể được củng cố". Một trong những kết quả của quan hệ này phía là Nhà nước Việt Nam đồng ý để Tòa Thánh bổ nhiệm một vị Đại diện không thường trú tại Việt Nam, đó là Tổng Giám mục Leopoldo Girelli hồi năm 2011, việc bổ nhiệm này đã cho phép Đức Tổng Giám mục có thể đi thăm một số giáo phận, giáo xứ, dòng tu ở Việt Nam.

Ngày 22 tháng 3 năm 2014: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng hội kiến Giáo hoàng Phanxicô.

Trong thời gian qua, Ủy ban làm việc chung giữa Tòa Thánh và Nhà nước Việt Nam vẫn gặp gỡ hàng năm để thảo luận về quan hệ hai bên.

Vòng thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên họp vòng hai của Nhóm Công tác Hỗn hợp Việt Nam - Vatican đã diễn ra trong hai ngày 23 và 24 tháng 6 năm 2010 tại Vatican để tiếp nối các công việc của phiên họp vòng một đã diễn ra ngày 17 tháng 2 năm 2009 tại Hà Nội. Đồng chủ tọa các vòng họp là Đức ông Ettore Balestreto, Thứ trưởng Thánh Bộ Quan hệ với các quốc gia của Tòa Thánh và ông Nguyễn Quốc Cường - Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam. Cuộc họp kết thúc bằng một thỏa thuận rằng, Vatican sẽ có một đại diện không thường trú của họ đến Việt Nam do Giáo hoàng bổ nhiệm[26]. Ngày 13 tháng 1 2011, Giáo hoàng Biển Đức XVI đã bổ nhiệm Tổng Giám mục Leopoldo Girelli - Sứ thần Tòa Thánh tại Singapore, Malaysia, Brunei kiêm chức Đặc phái viên không thường trú cho Tòa Thánh tại Việt Nam.

Vòng thứ ba[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng thứ tư[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng đàm phán lần thứ 4 diễn ra từ ngày 13 đến 14 tháng 6 năm 2013 trong tại Vatican. Phái đoàn Vatican do Đức ông Antoine Camilleri - thứ trưởng ngoại giao Tòa Thánh dẫn đầu, Thứ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn dẫn đầu phái đoàn Việt Nam.[27] Vòng đàm phán này, phía Tòa Thánh nhấn mạnh mong muốn tiếp tục phát triển quan hệ Việt Nam - Tòa Thánh và việc cần thiết sớm có Đặc phái viên thường trú của Vatican tại Việt Nam để phục vụ cho lợi ích của các bên,[28] còn Chính phủ Việt Nam khuyến khích Giáo hội Công giáo tham gia đầy đủ trong sự phát triển của dân tộc Việt Nam.[29]

Vòng thứ năm[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc gặp gỡ lần thứ năm của Nhóm làm việc chung đã diễn ra vào các ngày 10 và 11 tháng 9 năm 2014 tại Hà Nội. Phái Đoàn Tòa Thánh đã đánh giá cao phía chính quyền Việt Nam các cấp dành cho Giáo hội Công giáo tại Việt Nam để thi hành sứ mạng của mình, ghi nhận những tiến triển trong chính sách tôn giáo được phản ánh trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013, tạo điều kiện dễ dàng cho các cuộc viếng thăm công tác của Tổng giám mục Leopoldo Girelli - Đặc phái viên không thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam và tái khẳng định rằng Tòa Thánh coi trọng việc phát triển quan hệ với Việt Nam nói riêng, và với Á châu nói chung và mong tiến tới mục tiêu thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, và cùng với Giáo hội Công giáo tại nước này góp phần tích cực hơn nữa vào việc phát triển đất nước trong các lãnh vực mà Giáo hội Công giáo có thế mạnh như y tế, giáo dục, từ thiện và các hoạt động nhân đạo. Phái Đoàn Tòa Thánh nhấn mạnh rằng Giáo hoàng Phanxicô quan tâm theo dõi những tiến triển gần đây trong quan hệ giữa Tòa Thánh và Việt Nam và ông khích lệ cộng đồng Công giáo tại Việt Nam tiếp tục góp phần đẩy mạnh các mục tiêu chính của đất nước. Phía Việt Nam thì tái khẳng định chính sách nhất quán của Nhà nước và Đảng trong việc tôn trọng tự do tôn giáo và tín ngưỡng của mọi người, và trong việc hỗ trợ Giáo hội Công giáo tại Việt Nam tích cực tham gia vào việc phát triển đất nước về mặt xã hội và kinh tế.[30]

Vòng thứ sáu[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27/10/2016, hai bên ra thông cáo chung về kết quả vòng đàm phán thứ sáu. Theo đó, phía Việt Nam tái khẳng định sự cải tiến liên tục và cụ thể trên bình diện lập pháp và chính trị liên hệ tới sự thăng tiến và bảo vệ tự do tín ngưỡng và tôn giáo của các công dân, cũng như sự khuyến khích và liên tục tạo điều kiện dễ dàng cho sự dấn thân tích cực của Giáo Hội Công Giáo trong chính nghĩa quốc gia phát triển xã hội và kinh tế và Tòa Thánh bày tỏ sự hài lòng với chính phủ Việt Nam vì đã quan tâm đến các nhu cầu của Giáo Hội Công Giáo, như việc khánh thành Học Viện Công Giáo mới đây và giúp tổ chức các buổi lễ và các biến cố quan trọng của Giáo Hội. Giáo hoàng Phanxicô nồng nhiệt quam tân đến sự phát triển các quan hệ giữa Việt Nam và Tòa Thánh, Tòa Thánh cầu mong cộng đồng Công Giáo có thể tiếp tục cống hiến sự đóng giúp quí giá bằng cách cộng tác với các nhân tố khác trong xã hội Việt Nam, và phù hợp với luật pháp có liên quan, để phát triển đất nước và thăng tiến công ích.[31] Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đánh giá quan hệ hai bên thời gian qua tiếp tục phát triển tích cực thể hiện qua nhiều cuộc tiếp xúc cấp cao và việc duy trì các cơ chế trao đổi thường xuyên giữa Việt Nam và Toà thánh Vatican và đề nghị Toà thánh cũng như Đặc phái viên không thường trú của Toà thánh quan tâm, khuyến khích Giáo hội Công giáo Việt Nam sống tốt đời đẹp đạo, động viên chức sắc và giáo dân Công giáo tại các giáo phận đồng hành cùng đất nước, tham gia đóng góp một cách tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và ở từng địa phương.Thứ trưởng Ngoại giao Toà thánh Vatican Antoine Camilleri cảm ơn sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam dành cho Giáo hội Công giáo Việt Nam, đánh giá cao việc các cơ quan chính quyền Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho Đặc phái viên không thường trú của Toà thánh thực hiện tốt các chuyến thăm mục vụ Việt Nam và khẳng định Giáo hoàng Francis và Toà thánh Vatican luôn mong muốn quan hệ Việt Nam – Vatican ngày càng phát triển và cộng đồng Công giáo Việt Nam thực hiện tốt đường hướng “sống Phúc âm trong lòng dân tộc”, “giáo dân tốt là công dân tốt’, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tích cực đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước theo tinh thần Sứ điệp và Huấn từ của Giáo hoàng.[32]

Phái viên của Tòa Thánh tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

TT Phái viên Ngày được bổ nhiệm Ngày hết nhiệm Người bổ nhiệm Chức danh
1 Henry Lécroart, SJ 1922 1925 Giáo hoàng Piô XI Đại diện Tòa Thánh tại Tcheli (Trung Quốc)
Thanh tra Tòa Thánh tại Đông Dương
2 Constantin Ayuti 25/05/1925 1928 Giáo hoàng Piô XI Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương
Tòa Khâm sứ Huế
3 Victor Colombanus Dreyer, OFM 24/11/1928 19/11/1936 Giáo hoàng Piô XI Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương
Tòa Khâm sứ Huế
4 Antonin Fernand Drapier, OP 19/11/1936 18/10/1950 Giáo hoàng Piô XI Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương
Tòa Khâm sứ Huế
5 John Dooley, SSCME 18/10/1951 15/09/1959 Giáo hoàng Piô XII Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương
Tòa Khâm sứ Hà Nội
6 Giuseppe Caprio 15/02/1956 Giáo hoàng Piô XII Thanh tra Tông Tòa tại Sài Gòn
Đại lý Khâm sứ (từ 1957)
7 Mario Brini 1959 14/10/1961 Giáo hoàng Gioan XXIII Khâm sứ Tòa Thánh
Tòa Khâm sứ Sài Gòn
8 Salvatore Asta 13/10/1962 1964 Giáo hoàng Gioan XXIII Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương
Tòa Khâm sứ Sài Gòn
9 Angelo Palmas 17/06/1964 19/04/1969 Giáo hoàng Gioan XXIII Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam
Tòa Khâm sứ Sài Gòn
10 Henri Lemaitre 05/06/1975 Giáo hoàng Phaolô VI Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam và Campuchia
Tòa Khâm sứ Sài Gòn
11 Francesco De Nittis Thường vụ Khâm sứ (1962, 1963, 1964)
12 Leopoldo Girelli 13/01/2011 Giáo hoàng Biển Đức XVI Đại diện không trường trú của Tòa Thánh

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ BBC: Không lẫn tôn giáo với chính trị
  2. ^ Bộ ngoại giao Việt Nam: Đoàn Bộ Ngoại giao Tòa thánh Vatican sẽ thăm Việt Nam
  3. ^ Biên Liên Lịch sử Cổ Trung Đại Việt Nam. Hà Nội xuất bản năm 1987, trang 308
  4. ^ Sách: Vietnam Why Did We Go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Chương 16, tác giả: Avro Manhattan
  5. ^ Sách: Vietnam Why Did We Go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Chương 1, tác giả: Avro Manhattan
  6. ^ Sách: Vietnam Why Did We Go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Chương 2, tác giả: Avro Manhattan
  7. ^ Sách: Vietnam Why Did We Go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Chương 7, tác giả: Avro Manhattan
  8. ^ Sách: Vietnam Why Did We Go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Chương 8, tác giả: Avro Manhattan
  9. ^ Sách: Vietnam Why Did We Go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Chương 21, tác giả: Avro Manhattan
  10. ^ Sách: Vietnam Why Did We Go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Chương 9, tác giả: Avro Manhattan
  11. ^ Sách: Vietnam Why Did We Go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Chương 13, tác giả: Avro Manhattan
  12. ^ Nay là trụ sở của cộng đoàn Mến Thánh Giá Huế.
  13. ^ BBC nói: Tăng áp lực trong vụ Tòa Khâm sứ
  14. ^ http://thuvienhoasen.org/a21688/chua-bao-thien-o-ha-noi-xua
  15. ^ http://www.danchimviet.info/archives/89054/gioi-thieu-ho-so-luu-tru-ve-quan-he-ngoai-giao-cua-vnch-toi-nam-1958/2014/07
  16. ^ http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/cn_vakv/euro/nr070131153228/ns160516085604/newsitem_print_preview
  17. ^ http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/243/0/3118/Quan_he_Viet_Nam_va_Toa_thanh_Vatican_ngay_cang_phat_trien
  18. ^ http://baoconggiao.net/index.php/tin-giao-hoi-viet-nam/cac-quan-he-giua-toa-thanh-va-viet-nam-dang-di-theo-chieu-huong-dung-485.html
  19. ^ Vietnamnet: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Italia và hội kiến Giáo hoàng.
  20. ^ Giáo phận Đà Nẵng: Quan hệ ngoại giao Việt Nam – Vatican hiện nằm ở phía chính quyền Việt Nam
  21. ^ Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết gặp Giáo hoàng và Thủ tướng Vatican
  22. ^ [1] Chủ tịch Nguyễn Minh Triết gặp Giáo hoàng Bennedict (theo báo điện tử Dân trí)
  23. ^ Lãnh đạo Cộng sản VN vào Tòa Thánh
  24. ^ “Giáo hoàng Phanxicô tiếp Thủ tướng Việt Nam”. Đài Vatican. Ngày 18 tháng 10 năm 2014. 
  25. ^ “Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng gặp gỡ Giáo hoàng Francis”. Đài tiếng nói Việt Nam. Ngày 18 tháng 10 năm 2014. 
  26. ^ [2]
  27. ^ Vatican-Việt Nam kết thúc vòng đàm phán thứ tư
  28. ^ Cuộc họp Vòng 4 Nhóm Công tác hỗn hợp Việt Nam - Vatican
  29. ^ Vòng đàm phán lần thứ tư giữa Việt Nam và Tòa Thánh được tổ chức tại Vatican
  30. ^ “Thông cáo về việc gặp gỡ giữa phái đoàn Tòa Thánh và Việt Nam”. Ngày 11 tháng 9 năm 2014. 
  31. ^ http://vi.radiovaticana.va/news/2016/10/26/_th%C3%B4ng_c%C3%A1o_chung_sau_kh%C3%B3a_h%E1%BB%8Dp_th%E1%BB%A9_s%C3%A1u_t%C3%B2a_th%C3%A1nh_v%C3%A0_vi%E1%BB%87t_nam/1267960
  32. ^ http://daidoanket.vn/thoi-su-chinh-tri/thu-truong-thuong-truc-bo-ngoai-giao-bui-thanh-son-tham-lam-viec-tai-toa-thanh-vatican/130798