Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Hồng y thứ 4 Việt Nam (2001 - 2002)
Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình (1998 - 2002)
Giáo hội Công giáo Rôma
Giáo tỉnh Sài Gòn
Đô thành Hà Nội
Tổng giáo phận Sài Gòn
Giáo phận Sài Gòn
Tòa Nhà thờ Santa Maria della Scala
Bổ nhiệm Gioan Phaolô II
Hết nhiệm 16 tháng 9, 2002
Tiền nhiệm Paul Raymond Marie Marcel Piquet Lợi
Y. R. Etchegaray
Kế nhiệm Phaolô Nguyễn Văn Hòa
Phaolô Bùi Văn Đọc
Renato Raffaele Martino
Thụ phong 11 tháng 6, 1953
Tấn phong 4 tháng 6, 1967
Thăng hồng y 21 tháng 1, 2001
Hiệu tòa Vadesi
Các chức khác Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hoà bình
Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình (1994 - 1998)
Tổng Giám mục phó Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh (1975-1994)
Giám mục Chánh toà
Giáo phận Nha Trang (1967 - 1975)
Thông tin cá nhân
Sinh 17 tháng 4, 1928
Huế, Việt Nam
Mất 16 tháng 9, 2002 (74 tuổi)
Rôma, Ý
Nơi an táng Nhà thờ Đức Mẹ Scala, Roma
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Flag of the Vatican City.svg Vatican
Tôn giáo Công giáo
Nơi sinh trưởng Huế
Cha mẹ Ông Tađêô Nguyễn Văn Ấm
Bà Êlizabeth Ngô Đình Thị Hiệp
Con cái Không
Cách xưng hô với
Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
COA Cardinal Nguyenvanthuan.jpg
Danh hiệu Đức Hồng Y
Trang trọng Đức Hồng y
Thân mật Cha
Sau khi chết Đức Cố Hồng Y
Khẩu hiệu Vui mừng và Hy vọng
Tòa Nha Trang
(1967 - 1975)
Sài Gòn (1975 - 1994)
Giáo triều Vatican
(1994 - 2002)

(19282002) là một Hồng y của Giáo hội Công giáo Việt Nam thuộc Giáo hội Công giáo Rôma. Ông nói thông thạo bảy ngôn ngữ: Pháp, Anh, Ý, Ðức, Latinh, Nga, Trung Quốc.[1]

Ông sinh ngày 17 tháng 04 năm 1928 tại Huế trong một gia đình có truyền thống Công giáo, từng chịu tử đạo trong thế kỉ XVII.

Năm 1953, ông được thụ phong linh mục do Giám mục Tông Toà Giáo phận Huế Jean-Baptiste Urrutia Thi chủ phong. Tháng 4 năm 1967, linh mục Phanxicô Xaviê Thuận được Giáo hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Giám mục Chánh toà Giáo phận Nha Trang, kế vị Giám mục Paul Raymond Marie Marcel Piquet Lợi.

Ngày 23 tháng 4 năm 1975, ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục hiệu tòa Vadesi, Tổng Giám mục phó của Tổng giáo phận Sài Gòn với quyền kế vị. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông tạm hoãn về Sài Gòn, đến ngày 7 tháng 5 mới về để nhận nhiệm vụ mới.[2] Ngày 1 tháng 7 năm 1975, chính quyền yêu cầu Giám mục Nguyễn Văn Thuận trở về chức vụ cũ tại giáo phận Nha Trang như trước đây. Ngày 15 tháng 8 năm 1975, ông bị bắt, bị tù và cải tạo suốt 13 năm.

Năm 1989 ông được phép xuất ngoại sang Úc thăm cha mẹ, sau đó sang Roma gặp Giáo hoàng. Quay trở về Việt Nam, tháng 11 cùng năm, ông mắc bệnh viêm tiền liệt tuyến, đã được nhập viện Bệnh viện Việt Đức Hà Nội và được giải phẫu, nhưng bệnh tình nặng, nên đi Roma tiếp tục điều trị. Ông đến Roma tháng 4 năm 1990. Trong khi đang được điều trị bệnh tại Roma, Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố ông không còn được trở lại Việt Nam.

Năm 1994, ông từ chức Tổng giám mục Phó Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa Thánh bổ nhiệm ông giữ chức vụ Phó chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình. Năm 1998, Hồng y Roger Etchegaray về hưu, ông đảm nhận chức vụ Chủ tịch, khiến ông trờ thành người Công giáo Việt Nam nhận chức vụ cao nhất trong Giáo hội Công giáo Rôma từ trước đến nay.

Tháng 1 năm 2001, Giáo hoàng Gioan Phaolô II chọn ông làm hồng y, và theo các báo quốc tế, ông cũng được đánh giá là ứng cử viên sáng giá kế vị giáo hoàng Gioan Phaolô II già yếu. Ngày 16 tháng 9 năm 2002, vì bị ung thư tiền liệt tuyến, ông qua đời tại Rôma.

Ngày 17 tháng 9 năm 2007, Giáo hội Công giáo Rôma bắt đầu những thủ tục đầu tiên cho việc tuyên phong chân phước và phong thánh cho ông.[3]

Ngày 05 tháng 07 năm 2013, người Công giáo Việt Nam tưng bừng tổ chức lễ bế mạc của các giai đoạn giáo phận của tiến trình phong chân phước cho Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Mặc dù ông chưa được phong thánh, các tín hữu Việt Nam đã coi ông là một vị thánh và xem ông như một biểu tượng của Giáo hội Việt Nam.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sinh ngày 17 tháng 4 năm 1928 tại Phủ Cam, Huế. Ông là anh cả trong một gia đình có 8 anh chị em, cha là ông Tađêô Nguyễn Văn Ấm qua đời vào ngày 01 tháng 7 năm 1993 tại Sydney, Australia, mẹ ông là bà Elizabeth Ngô Đình Thị Hiệp - bà là em ruột của Giám mục Ngô Đình Thục và tổng thống Ngô Đình Diệm.[4] Đây là một gia đình có truyền thống Công giáo lâu đời, tổ tiên của ông từng chịu bách hại vì đạo.[5]

Từ khi còn nhỏ, ông đã được giáo dục đức tin bởi người mẹ gương mẫu của mình.[4] Mỗi buổi tối, bà kể chuyện cho con trai mình qua Kinh thánh và những vị tử đạo của Việt Nam, đặc biệt là của tổ tiên mình.[4] Bà giới thiệu ông với gương Thánh Têrêsa thành Lisieux, dạy ông cách yêu thương, tha thứ, và yêu mến quê hương Việt Nam.[4]

Ông tin rằng Thánh Thể là sức mạnh và sức sống dưỡng nuôi nhân loại vì nhờ Thánh Thể mà người ta được kết hiệp thường xuyên với Thiên Chúa. Điều này ông có được từ thiếu thời.[6] Mẹ ông kể lại chuyện chị cả của bà mắc bệnh lao và qua đời tại Huế.[6] Lúc ấy, lao là một chứng nan y vì thế không một giúp lễ nào theo cha xứ đi trao Mình thánh cho dì. Thế mà ông lại tự nguyện hăm hở đi theo vị Linh mục Chánh xứ già nua lội bộ tới nhà dì cả sau mỗi buổi tan trường. Ông giúp đỡ chăm nom cho đến ngày dì qua đời.[6]

Tu Tập & Linh mục[sửa | sửa mã nguồn]

Năm lên 12 tuổi, vào tháng 08 năm 1940, ông gia nhập Tiểu chủng viện An Ninh, tại Cửa Tùng, Quảng Trị, sau đó, theo học triết và thần học tại Đại chủng viện Kim Long, Huế.[2]

Ngày 11 tháng 6 năm 1953, thầy Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận được thụ phong linh mục tại Nhà thờ chính tòa Phủ Cam, do Giám mục Jean-Baptiste Urrutia Thi (thuộc MEP) - Giám mục Đại diện Tông Tòa Huế làm chủ phong.[2]

Sau khi được chịu chức, Tân linh mục được cử đến Giáo xứ Tam Tòa, Đồng Hới, làm phụ tá cho linh mục Đa Minh Hoàng Văn Tâm. Sau đó, được chuyển đến Giáo xứ Phanxicô Xaviê - Huế, làm phụ tá cho Linh mục Richard Barbon, tên Việt là Triết.[2] Sau một vài tháng tại giáo xứ Phanxicô Xaviê, Giám mục Urrutia lại bổ nhiệm Linh mục Thuận làm tuyên úy của Viện Pellerin, Bệnh viện Trung ương, và các nhà tù tỉnh.[4] Linh mục Thuận tình nguyện làm tuyên úy cho nhà tù, nhà thương, trại cùi.[6]

Từ năm 1956 đến năm 1959, ông đi du học tại Phân khoa Giáo luật thuộc Ðại học Giáo hoàng Urbaniana, Roma. Ông hoàn thành việc học với văn bằng tiến sĩ Giáo luật qua việc bảo vệ xuất sắc luận án: “Studium comparativum de organisatione capellanorum militum in mondo” ( "Tổ chức Tuyên úy Quân đội trên thế giới").[2] Trong thời gian du học, ông có dịp tiếp xúc, sinh hoạt với các phong trào Ðạo Binh Ðức Mẹ, Hướng Ðạo, Cursillos, Focolare. Các phong trào này ảnh hưởng đến đường lối hoạt động của ông sau này.[7]

Trở về nước, năm 1960, Linh mục Phanxicô Xaviê Thuận được cử làm giáo sư Tiểu Chủng viện Huế.[2] Trong thời gian ngắn, ông khởi công xây cất cơ sở mới và thành lập Tiểu chủng viện Hoan Thiện ở ngay thành phố Huế, cạnh trường Thiên Hữu.[7]

Từ năm 1962, ông làm Giám đốc Tiểu chủng viện Hoan Thiện.[2]

Năm 1964, khi mới 36 tuổi, Tổng giám mục Huế Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục chọn ông làm Linh mục Tổng Đại diện Tổng giáo phận Huế cho đến năm 1967.[2]

Giám mục Nha Trang (1967 - 1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Nguyễn Văn Thuận năm 1967

Ngày 13 tháng 4 năm 1967, linh mục Phanxicô Xaviê Thuận được Giáo hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Giám mục Chánh toà Giáo phận Nha Trang người Việt Nam tiên khởi, thay thế Giám mục Paul Raymond Marie Marcel Piquet Lợi (thuộc MEP). Ngày 24 tháng 6 năm 1967, vào lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, ông được tấn phong giám mục bởi Khâm sứ Tòa Thánh Angelo Palmas, cùng với hai Giám mục khác là Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế Philípphê Nguyễn Kim Điền và Giám mục Jean-Baptiste Urrutia Thi - Nguyên Tổng giám mục Hiệu toà Isauropolis, Giám quản giáo phận phận Huế là phụ phong. Khẩu hiệu của ông là: Gaudium et Spes (Vui Mừng và Hy vọng), tên của Hiến chế Mục vụ của Công đồng Vaticanô II.[2]

Ngày 10 tháng 7 năm 1967, ông về nhận Giáo phận Nha Trang.[4] Trong 8 năm làm giám mục tại đây, ông rất thành công trong việc phát triển Giáo phận, ông chú trọng việc đào tạo nhân sự, gia tăng con số các Đại chủng sinh từ 42 lên 147, số Tiểu chủng sinh cũng gia tăng từ 200 lên đến 500, học trong 4 Tiểu chủng viện. Ông tổ chức các khóa thường huấn linh mục cho sáu giáo phận thuộc Giáo tỉnh Huế, ông thành lập và phát triển các hội đoàn giáo dân, phong trào Công Giáo tiến hành như: Phong trào Công lý và Hòa bình, Cursillos, Focolare, Hướng đạo, Cộng đoàn La vang, Tu hội Hy Vọng.[2] Ông cho phổ biến nhiều thư với các chủ đề: Tỉnh thức và cầu nguyện vào năm 1968; Vững mạnh trong Ðức tin để Tiến bước trong An bình, năm 1969; Công lý và Hòa bình, năm 1970; Sứ vụ Chúa Kitô là sứ mạng của chúng ta, năm 1971; Kỷ niệm 300 năm vào năm 1971; Năm Thánh Canh tân và Hòa giải, năm 1973.[2]

Trong Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam, ông từng trải qua những nhiệm vụ: Chủ Tịch Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình; Chủ tịch Ủy Ban Truyền thông xã hội (1967 - 1975); Chủ tịch Ủy Ban Phát triển Việt Nam (1967 - 1975); Phụ trách Ủy ban Di dân; Cộng tác trong việc thành lập Ðài Phát thanh Chân Lý Á Châu.[2]

Năm 1970, nhân kỷ niệm 300 năm Giám mục Lambert de la Motte (phiên âm tên Việt là Lâm Bích) đến Giáo phận Nha Trang, Giám mục Nguyễn Văn Thuận đã sáng lập Chủng viện Truyền giáo Lâm Bích.[8]

Trong những cuộc họp ông có cơ hội gặp gỡ Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Tổng giám mục của Cracow, và để học hỏi những kinh nghiệm mục vụ trong giai đoạn khó khăn nhất của Ba Lan dưới chế độ cộng sản.[4] Từ năm 1971 đến năm 1975, ông được chọn làm Cố vấn Hội Ðồng Giáo hoàng về Giáo dân, Ông cũng được bổ nhiệm làm Cố vấn và thành viên của Thánh Bộ Truyền giáo, nhận trách nhiệm đến thăm và giám sát các chủng viện tại một số quốc gia ở châu Phi.[4] Ngoài ra, ông cũng là thành viên của Bộ Phụng Tự và Kỷ luật Bí tích.[2]

Tổng Giám mục phó Sài Gòn (1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Huy hiệu Tổng giám mục Phó của ông

Ngày 23 tháng 4 năm 1975, ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục hiệu tòa Vadesi, Tổng Giám mục phó của Tổng giáo phận Sài Gòn với quyền kế vị. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông tạm hoãn về Sài Gòn, đến ngày 7 tháng 5 thì ông mới về thành phố này để nhận nhiệm vụ mới.[2]

Ngày 27 tháng 6 năm 1975, Ủy Ban Quân Quản thành phố Sài Gòn - Gia Định công bố quyết định không cho ông được hoạt động tôn giáo tại nhiệm sở mới. Ngày 1 tháng 7 năm 1975, Ủy Ban Quân Quản gởi cho ông một văn thư yêu cầu phải trở lại nơi cư trú như trước ngày 30 tháng 4 năm 1975.[9]

Ở trong tù và bị quản chế[sửa | sửa mã nguồn]

Bị bắt[sửa | sửa mã nguồn]

Đến ngày 15 tháng 8 năm 1975 - Lễ Đức Mẹ Lên Trời, công an đến bắt ông đưa ra Nha Trang, nhưng không phải đưa về Tòa Giám Mục Nha Trang mà đưa đến quản thúc tại Giáo xứ Cây Vông, thuộc xã Diên Sơn, Huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.[10] Ít lâu sau, ông bị đưa vào giam ở trại Phú Khánh, Nha Trang.[11]

Ngày 29 tháng 11 năm 1976, xe công an đến trại Phú Khánh đưa ông vào trại Thủ Đức.[11] Ngày 1 tháng 12 năm 1976, ông cùng nhiều tù nhân chính trị khác được đưa xuống tàu Trường Xuân đi ra Bắc.[11] Tại miền Bắc, ông đã bị giam trong 9 năm ở nhiều trại tù khác nhau, và bị quản chế 3 năm.[11]

Trong tù, ông vẫn cử hành thánh lễ cho chính mình và cho những tù nhân khác. Những người đến thăm đã lén chuyển rượu lễ và bánh lễ cho ông, ngụy trang bằng chai thuốc trị đau bao tử.[12] Với những thứ đó, mỗi ngày ông dùng ba giọt rượu và một giọt nước đổ vào lòng bàn tay để cử hành Bí tích Thánh Thể (thánh lễ). Buổi tối, khi ông và các tù nhân khác phải đi ngủ, họ nằm sát nhau để cử hành thánh lễ, sau đó lén chuyền Thánh Thể cho nhau qua các tấm màn chống muỗi.[12] Họ dùng bao thuốc lá để cất giữ Thánh Thể.[12]

Tình bạn với cai tù[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh giá Hồng y Thuận làm trong tù

Trong khi ở trong tù với năm cai ngục trẻ. Những phụ trách đã cấm họ để nói chuyện với ông. Ban đầu vệ sĩ được thay đổi mỗi mười lăm ngày. Quản lý nhà tù tin các vệ sĩ có nguy cơ bị "nhiễm" - trở thành bạn bè ông nếu ở lại với ông trong thời gian dài. Cuối cùng, họ dừng không thay đổi nữa vì sợ ông họ sợ tôi sẽ làm "ô nhiễm" toàn bộ lực lượng. Do đó, các sinh viên trẻ đã trở thành bạn ông.[13]

Ông nói với họ qua cánh cửa về cuộc sống, các quốc gia khác nhau ông đã đến thăm, gia đình, thời thơ ấu, ông đã dạy họ tiếng Anh, tiếng Pháp, và ngay cả một chút tiếng Nga.[13] Một ngày, ông hỏi một trong số họ mang lại một cái gì đó để cắt một miếng gỗ và ông đã có thể làm cây thánh giá. Mặc dù tất cả các biểu tượng tôn giáo đã bị cấm, ông đã có một dây chuyền thánh giá trong 3 tháng.[13] Ông giấu nó trong một bánh xà phòng. Một lần khác ông hỏi xin một đoạn dây điện và một cặp kìm. Viên cai tù của ông nói: Tôi sẽ mang lại nhưng ông phải hoàn thành trong bốn giờ - trong bốn giờ ông đã nắn một chuỗi dây chuyền.[13] Thánh giá đó về sau được mạ bạc và nó là thập giá mà ông vẫn đeo.[13]

Viết sách trong thời gian quản chế[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 8 năm 1975, một ngày sau khi bị bắt, ông bắt đầu viết cuốn Năm chiếc bánh và hai con cá. Cùng viết song song với cuốn Năm chiếc bánh và hai con cá là cuốn Đường hy vọng với 1001 câu suy niệm ngắn gọn để giúp giáo dân sống đạo một cách kiên vững trong hoàn cảnh mới của đất nước - cuốn sách được đánh giá là một di chúc tinh thần xúc động đối với nhiều người Công giáo Việt Nam.[14][15][6] Đến năm 1986 thì mới cơ bản hoàn thành cuốn sách. Năm 1997, ông viết lời mở đầu cho cuốn sách này.[14]

Sau này, Hồng y Roger Etchegaray cho biết Hồng y Thuận đã kể lại cho ông nghe khoảng thời gian viết quyển sách Đường hy vọng:[16]

Một buổi sáng tháng mười năm 1975, tôi ra dấu cho một cậu bé 7 tuổi tên là Quang, đi dự lễ 5 giờ về, khi trời chưa sáng: “Con nói với mẹ mua cho cha mấy bloc lịch cũ!” Chiều tối, khi mặt trời bắt đầu lặn, Quang đem lại cho tôi các cuốn lịch bloc. Từ khi ấy, trong tháng mười và tháng mười một năm 1975, hằng đêm tôi viết cho dân tôi thông điệp từ cảnh tù đầy. Mỗi sáng, đứa bé tới lấy các tờ lịch, đem về nhà cho các anh chị chép lại thông điệp…

Trong thời gian quản chế ở Giang Xá, cách Hà Nội 17 cây số, từ 1978 đến 1982, ông cũng đã viết thêm hai cuốn sách với chủ đề hy vọng. Ðó là cuốn Ðường Hy vọng dưới ánh sáng lời Chúa và Cộng đồng Vatican II và cuốn Những người lữ hành trên Ðường Hy vọng. Những năm biệt giam sau đó, ông đã viết khoảng 400 bài suy niệm bằng tiếng ngoại quốc để thành tập "Cầu nguyện Hy vọng".[6]

Phản ứng của gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Bà Thủy Tiên - em gái Hồng y Thuận kể về thời kì này, bà cho biết:[17]

Trong nhiều năm trời, chúng tôi không nhận được bất cứ tin tức gì về Ðức Hồng Y cả, Chúng tôi nghĩ rằng anh của chúng tôi đã bị giết" Thế rồi hội Hồng Thập Tự, qua nhiều năm truy tìm, họ báo cho gia đình chúng tôi biết là ngài vẫn còn sống, và hiện đang bị giam trong trại cải tạo.

Bà Thủy Tiên cũng cho biết:[17]

Sau này, những người cộng sản bảo ngài viết thư báo cho thân nhân mua thuốc tây gửi vào vì ngài bị bệnh.
Thế rồi mỗi tháng, chúng tôi đều gửi toa đến một dược phòng bên Pháp, để đặt mua hàng trăm loại thuốc kháng sinh gửi vào trại cải tạo. Chúng tôi biết những loại thuốc đó không phải cho ngài, nhưng chúng tôi không có sự chọn lựa nào khác, họ còn nhắn gia đình gửi sữa vào để nuôi người bệnh. Chúng tôi đã gửi sữa hộp vào trại, cho mãi đến khi ngài được thả, khi hỏi ngài bảo cán bộ chỉ đưa cho ngài hộp không và nói là sữa bị chuột ăn hết rồi.Có lần khi ông lâm trọng bệnh, hội Hồng Thập Tự dàn xếp để đưa ngài sang Pháp giải phẫu, rồi sau đó đưa ngài trở lại biệt giam tại miền Bắc Việt Nam.

Được ra tù[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21 tháng 11 năm 1988, một cán bộ đến gặp ông:[6]

- Ông Thuận, ông ăn cơm chưa?
- Chưa. Tôi đang nấu.
- Ăn cơm xong, ăn mặc sạch sẽ để đi gặp lãnh đạo.
- Lãnh đạo nào ạ?
- Tôi không biết. Tôi chỉ làm theo lệnh cấp trên.

Cơm trưa xong, ông được đưa đến Nhà khách Chính phủ. Sau khi bắt tay, ông Mai Chí Thọ - Bộ trưởng Bộ Nội Vụ, nói:

- Ông Thuận, ông có nguyện vọng gì không?
- Tôi muốn được tự do.
- Bao giờ?
- Ngày hôm nay.

Thấy Bộ trưởng bối rối, ông nói tiếp:

- Tôi ở tù trải qua 3 đời Ðức Giáo Hoàng là Phaolô đệ lục, Gioan Phaolô đệ nhất và Gioan Phaolô đệ nhị. Và thời gian ở tù của tôi cũng đã trải qua 4 đời Tổng Bí thư Liên Xô: Breznev, Andropov, Chernenkô và Gorbachev.
- Ðúng! Ðúng!

Nói vậy rồi Bộ trưởng quay sang nói với người cán bộ:

- Hãy làm cho ông Thuận được toại nguyện.

Ngày 23 tháng 11 năm 1988 thì ông được thả tự do và bị quản chế tại tòa Giám mục Hà Nội.[6]

Lưu vong (1990 - 2002)[sửa | sửa mã nguồn]

Bị cấm về nước[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Thuận và Giáo hoàng Gioan Phaolô II

Ngày 27 tháng 3 năm 1989 ông rời khỏi Việt Nam sang Úc thăm cha mẹ đang sống tại đó, sau đó sang Roma gặp Giáo hoàng.[9] Quay trở về Việt Nam, tháng 11 năm 1989 ông mắc bệnh viêm tiền liệt tuyến, đã được nhập viện Bệnh viện Việt Đức Hà Nội và được giải phẫu, nhưng bệnh tình nặng kéo dài, nên mới được phép đi Roma tiếp tục điều trị. Ông đến Roma tháng 4 năm 1990.[5] Trong khi đang được điều trị bệnh tại Roma, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố ông không còn được trở lại Việt Nam (persona non grata).[18] Năm 1993, ông đến Úc khi thân phụ mất.[17]

Trong cuộc sống lưu vong của mình, ông đã được mời đi giảng và thuyết trình tại nhiều quốc gia và đối tượng khác nhau, ví dụ như Nhà thờ Notre Dame de Paris (Nhà thờ Đức Bà Pari) trong Mùa Chay, và tại các trường đại học khác nhau trên thế giới. Tại Mexico vào tháng 1998, ông giảng cho hơn 50.000 thanh niên.[4]

Công việc tại Giáo triều[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Vatican, ông được mời làm thành viên Ủy ban Quốc tế về Di trú và Di dân. Ngày 9 tháng 4 năm 1994, Tòa Thánh bổ nhiệm ông làm Phó chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, cũng trong thời gian này ông từ chức Tổng Giám mục phó Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh (mặc dù ông không được chính quyền Việt Nam công nhận nhưng trên lý thuyết ông vẫn được công nhận bởi Tòa Thánh cho đến ngày từ chức).[18]

Trong Mùa Chay năm 2000, ông đã nhận được lời mời từ Giáo hoàng Gioan Phaolô II mời ông giảng tĩnh tâm Mùa Chay cho giáo triều Vatican, vào lúc bắt đầu của thiên niên kỷ thứ ba.[4] Trong Nhà nguyện Mẹ Đấng Cứu Thế, từ chiều ngày 12 tháng 03 đến 18 tháng 03 năm 2000, ông giảng tĩnh tâm cho Giáo hoàng và các thành viên Giáo triều Rôma. Những bài giảng của ông được in thành sách Chứng nhân Hy Vọng.[6] Khi Giáo hoàng gặp ông trong buổi triều yết riêng và cho ông một chén thánh, Hồng y Thuận cho biết: 24 năm trước, tôi cử hành Thánh Lễ với ba giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay của tôi, tôi sẽ không bao giờ có nghĩ ngày hôm nay, Đức Thánh Cha sẽ cho tôi một chén mạ vàng. Chúa của chúng tôi là rất nhân lành và do đó là tình yêu của Người.[4]

Chiều ngày 20 tháng 8 năm 2000, ngày bế mạc ngày Quốc Tế Giới Trẻ thứ XV tại Roma, ông đã tiếp đón hai Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang, giám mục Chánh toà Giáo phận Thái Bình, chủ tịch Ủy ban phụ trách Giáo dân của Hội đồng Giám mục Việt Nam và Giám mục Giuse Nguyễn Văn Yến, Giám mục Chánh toà Giáo phận Phát Diệm, cùng phái đoàn Việt nam tham dự Ngày Quốc Tế Giới Trẻ tại nhà của ông. Trong cuộc gặp, ông cũng mời một số linh mục hiện làm việc tại Roma, trong đó có Ðức ông Nguyễn Văn Phương, thuộc Bộ Truyền Giáo, và Ðức ông Giuse Đinh Đức Đạo, phụ trách cộng đồng công giáo Hải ngoại.[19]

Các giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 5 năm 1996 ông được nhận bằng Tiến sĩ Danh dự tại Đại Chủng Viện Notre DameNew Orleans, Louisiana, Hoa Kỳ.[18] Ngày 24 tháng 6 năm 1998, ông được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, thay thế cho Hồng y Roger Etchegaray nghỉ hưu.[18]

Ông được tặng thưởng nhiều huân chương do bởi đời sống chứng tá và các hoạt động xây dựng công lý và hòa bình:[2] Ngày 9 tháng 6 năm 1999, tại Tòa Đại sứ Pháp bên cạnh Tòa Thánh, Chính phủ Pháp đã trao tặng ông huy chương “Commandeur de l’Ordre National du Mérite”.[2]

Ngày 12 tháng 12 năm 2000, tại Tòa Thị chính Rôma, Hiệp hội “Cùng nhau xây dựng hòa bình” đã trao tặng Huy chương vinh danh ông.[2] Ngày 20 tháng 10 năm 2001, tại Torino, ông được trao tặng Huy Chương Hòa bình do tổ chức SERMIG - Hiệp hội Truyền giáo của giới trẻ.[2] Ngày 9 tháng 12 năm 2001, Trung tâm Nghiên cứu G. Donati cũng đã trao tặng ông Giải thưởng Hòa bình năm 2001.[2]

Vinh thăng hồng y[sửa | sửa mã nguồn]

Công bố[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ nhận mũ hồng y FX Nguyễn Văn Thuận

Ngày 21 tháng 1 năm 2001, Giáo hoàng Gioan Phaolô II công bố tuyển chọn ông vào Hồng y đoàn, tước hiệu Hồng y linh mục nhà thờ Santa Maria della Scala.[2] Do không thể quay về Việt Nam nên ông tiếp tục đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình ở Vatican với tư cách hồng y bậc phó tế, nên ông là hồng y bậc phó tế đầu tiên người Việt Nam và là hồng y thứ 4 Việt Nam. Ngày 21 tháng 2 năm 2002 lễ nhận mũ hồng y của ông được tổ chức.[2]

Cũng được vinh thăng hồng y cùng ông đợt này còn có các Giám mục từ các nơi như: Hồng y Jorge Mario Bergoglio người Argentina - sau này là Giáo hoàng Phanxicô; Hồng y Louis-Marie Bille tại Lyon, Pháp; Hồng y Ivan Dias tại Bombay, Ấn Ðộ,...[20]

Huy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Huy hiệu Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, có khẩu hiệu Latinh nghĩa là: "Vui mừng và hi vọng"

Huy hiệu của ông có nền màu xanh dương với ngôi sao trắng tượng trưng cho Đức Maria là ngôi Sao Biển. Ngôi sao dẫn đường cho những con thuyền trong cuộc du hành từ đời này cho đến vĩnh cửu.[6] Mười khúc tre tượng trưng cho 10 điều răn. Tre là một biểu tượng Á Châu cho người quân tử.[6] Nổi bật trên màu xanh và ngôi sao là ba ngọn núi biểu tượng của đại dương và lục địa. Ba ngọn núi còn là biểu trưng cho ba miền Việt Nam: Bắc, Trung, và Nam. Núi và biển cả cũng còn tượng trưng cho Nha Trang, là Giáo phận ông làm Giám mục chính tòa.[6]

Khẩu hiệu bằng tiếng La Tinh GAUDIUM ET SPES, nghĩa là "Vui mừng và hy vọng" cũng là nhan đề của Hiến Chế Mục Vụ về Giáo hội trong Thế giới ngày nay, được Công đồng Chung Vaticanô II ban hành ngày 7 tháng 12 năm 1965, ngày cuối cùng trước khi bế mạc Công Ðồng kéo dài 3 năm 2 tháng này (11 tháng 10 năm 1962 đến ngày 8 tháng 12 năm 1965).[6] Cùng với Hiến Chế Tín Lý về Giáo hội Ánh Sáng Muôn Dân - " Lumen Gentium", qua Công Ðồng này, Giáo hội đã hoàn toàn muốn canh tân chính mình để có thể thực sự phản ánh Dung Nhan Chúa Kitô, trong sứ vụ Muối Ðất Men Bột của mình, ở một thế giới càng văn minh về vật chất và nhân bản lại càng có dấu hiệu và triệu chứng phá sản đức tin cũng như băng hoại luân lý.

Huy hiệu của Hồng y Thuận không những nói lên mục tiêu mà ông đặt ra cho mình để theo đuổi suốt phần đời còn lại, mà còn là tất cả những gì ông đã sống và làm việc, là gắn bó với Đức Maria, với đức tin của mình, với Giáo hội mà không tách khỏi quê hương và dân tộc Việt Nam.[6]

Dư luận quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trong số phát hành ngày 21 tháng 2 năm 2001, Nhật báo The Los Angeles Times có bài với nhan đề "The Men Who Would Be Pope?" (Người có thể lên ngôi Giáo hoàng?) đã dự đoán danh sách 14 vị hồng ý có nhiều khả năng kế vị Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong đó có ông.[21]

Trong khi đó Nhật báo The New York Post, ngày 25 tháng 2 năm 2001, cũng đăng bài nhan đề "Is Asian Cardinal In Line For Papacy ?" (Một Hồng Y Á Châu Có Thể Lên Ngôi Giáo Hoàng?) của ký giả Rod Dreher. Trong đó có đoạn:[21]

Ðứng trong ngôi đền thờ xây trên mộ Thánh Tử Ðạo Phêrô từ thế kỷ thứ IV, Tân Hồng y Edward Michael Egan, Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận New York, đã nói về một chứng nhân anh hùng trong thời đại ngày nay, - người đã cùng nhận mũ đỏ với ông hồi đầu tuần này - là một Tân Hồng y anh hùng được rất nhiều người tin là một trong những ứng viên sáng giá nhất cho ngôi vị Giáo Hoàng tiếp theo.
Tân Hồng Y Phanxicô Xavie, 73 tuổi, đã từ chối không bỏ nhiệm sở của Ngài là Phó Tổng Giám Mục Sàigòn khi Miền Nam rơi vào tay những người cộng sản. Họ đã bỏ tù Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, bởi vì Ngài là người Công giáo, một linh mục, hơn nữa một Tổng Giám Mục! Người cộng sản đã ném Ngài vào lao tù và giam Ngài trong 9 năm cơ cực! Sau khi chịu đựng tổng cộng 13 năm tù ngục, Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận được trả tự do năm 1987 nhưng vẫn bị quản chế tại gia! Năm 1991, chính quyền cộng sản Việt Nam trục xuất Ngài và Ngài đã đến Vatican làm việc trong Hội Ðồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, mà nay Ngài là Chủ Tịch. Chính trong ngày được tấn phong, Tân Hồng Y Việt Nam này đã đeo quanh cổ mình một cây thánh giá bằng gỗ mà Ngài đã tự tay làm lấy tại nhà giam. Ðức Hồng Y Edward Egan nói về Hồng Y bạn mình như sau: "Chúng ta có thể nói chắc chắn rằng Ngài đã tuyên xưng Ðức Tin bằng chính máu của Ngài.

Năm 2001 ông bị bướu lạ ở bụng, phải qua Boston, Hoa Kỳ, để được giải phẫu. Tháng 5 năm 2002 bệnh tái phát. Ngày 28 tháng 4 năm 2002, ông về Úc thăm thân mẫu và mừng 100 tuổi của bà trước khi mổ lại lần thứ hai vào ngày 8 tháng 5 năm 2002 tại Milano, nhưng vì tuổi già và sức khỏe không bảo đảm, nên cuộc phẫu thuật mới được thực hiện khoảng một phần ba thì ngưng lại.[9]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Thi hài Hồng y Thuận

6 giờ chiều ngày 16 tháng 9 năm 2002, ông qua đời tại Roma do bệnh ung thư ruột.[2] Thánh lễ an táng ông được chính Giáo hoàng Gioan Phaolô II cử hành trọng thể vào chiều ngày 20 tháng 9 năm 2002, với 4.000 người tham dự, trong đó có 4 hồng y và 130 giám mục cùng với ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh.[22] Trong thánh lễ, Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhận xét ông:[2]

Trong lúc chào vĩnh biệt Người Sứ giả anh hùng của Tin Mừng Chúa Kitô, chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì đã cho chúng ta, nơi con người của Đức Hồng y, một tấm gương sáng ngời về đời sống tín hữu Kitô, phù hợp với đức tin, đến độ tử đạo. […] ngài (Đức Hồng Y Thuận) đã hiểu nền tảng của đời sống Kitô hữu là “chọn một mình Chúa mà thôi” như các vị tử đạo Việt Nam đã làm trong những thế kỷ trước. Chúng ta được mời gọi rao giảng cho tất cả mọi người “Tin Mừng Hy Vọng” và Đức Hồng Y giải thích rằng: chúng ta chỉ có thể chu toàn Ơn Gọi ấy với sự hy sinh quyết liệt, dù phải chịu những thử thách cam go nhất. [...] Đây không phải là sự anh hùng, nhưng là sự trung thành chín chắn, hướng cái nhìn về Chúa Giêsu là mẫu gương của mọi chứng nhân và mọi vị tử đạo. Một gia sản cần được đón nhận mọi ngày trong một cuộc sống đầy yêu thương và dịu hiền.

10 năm sau khi ông được an táng tại nghĩa trang Verano, di hài ông đã được cải táng về Nhà thờ hiệu tòa của ông, Nhà thờ Đức Mẹ Scala, ở trung tâm Roma sáng ngày 8 tháng 6 năm 2012.[22]

Ở Tu viện Celittinen, Koeln, bây giờ có căn phòng dành riêng lưu giữ những hình ảnh cùng kỷ vật của ông, và cũng tại nhà Dòng này ông đã sống trải qua nhiều ngày năm tháng lúc còn sinh thời, nhất là đã dâng thánh lễ Misa với nhà Dòng tại nhà nguyện tu viện.[23]

Mở án phong chân phước[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh xin ơn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 9 năm 2007, giám mục Giampaolo Crepaldi, Tổng thư ký Hội đồng Giáo hoàng Công Lý và Hòa Bình viết kinh xin ơn ông:[24]

Lạy Thiên Chúa toàn năng và hằng có đời đời, là Cha và Con và Thánh Thần, con cảm tạ Chúa vì đã ban cho Hội Thánh gương chứng tá anh dũng của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận.
Kinh nghiệm khổ đau trong ngục tù, được ngài sống liên kết với Chúa Kitô chịu đóng đinh, dưới bóng che chở hiền mẫu của Mẹ Maria, đã rèn luyện ngài nên một chứng nhân sáng ngời cho Hội Thánh và toàn thế giới, về sự hiệp nhất và tha thứ, cũng như về công lý và hòa bình.
Con người dễ thương mến cùng với sứ vụ mục tử giám mục của ngài tỏa chiếu rạng ngời ánh sáng của đức tin, nhiệt tâm của niềm hy vọng và sức sống nồng ấm của đức ái.
Giờ đây, nhờ lời bầu cử của ngài và theo thánh ý Chúa, xin Chúa ban cho con được ơn đang cầu khẩn, với niềm hy vọng thấy ngài sớm được vinh hiển trên bàn thờ. Amen!

Thủ tục phong chân phước[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 9 năm 2007, Giáo hội Công giáo Rôma bắt đầu những thủ tục đầu tiên cho việc tuyên phong chân phước và phong thánh cho ông.[25] Cùng ngày, từ dinh thự Giáo hoàng ở Castel Gandolfo, trong buổi triều yết, Giáo hoàng Biển Đức XVI đã nói:[2]

Tôi vui mừng, nhân cơ hội này để một lần nữa, nêu lên chứng tá Đức Tin sáng ngời mà vị Mục Tử anh dũng này đã để lại cho chúng ta. ĐHY Phanxicô Xaviê đã được vị tiền nhiệm Gioan-Phaolô II đáng kính của tôi bổ nhiệm làm Chủ Tịch Hội đồng Giáo Hoàng về Công lý và Hòa bình. Ngài đã soạn thảo bản Toát Yếu Giáo Huấn xã hội của Hội Thánh. Làm sao quên được những nét nổi bật về sự đơn sơ và thân thiện của ngài.
Chúng ta tưởng nhớ ngài với sự thán phục lớn lao, trong khi chúng ta hồi tưởng lại trong tâm trí chúng ta những dự phóng lớn lao và tràn đầy Hy vọng, đã làm cho ngài luôn sống động và ngài tìm cách thế để dễ dàng loan truyền ra và thuyết phục nhiều người.
Đức Hồng Y Văn Thuận là một con người của Hy Vọng. Ngài sống bằng Hy Vọng, ngài phổ biến niềm Hy Vọng cho tất cả những ai ngài gặp gỡ. [...] Đức Cố Hồng Y Phanxicô thường nhắc lại rằng: Kitô hữu là một con người của từng giờ, của lúc này, của giây phút hiện tại, cần được đón nhận và sống với tình yêu Chúa Kitô. Trong khả năng sống giây phút hiện tại này, đã chiếu tỏa điều sâu thẳm của việc phó thác trong bàn tay Thiên Chúa và tính đơn sơ theo tinh thần Phúc âm. [...]

Và Giáo hoàng Biển Đức kết thúc: Anh chị em thân mến, tôi vui mừng sâu xa đón nhận tin về việc khởi sự án phong chân phước cho vị Ngôn Sứ đặc biệt về niềm hy vọng Kitô này và trong khi chúng ta phó thác cho Chúa linh hồn ưu tuyển của ngài, chúng ta hãy cầu nguyện để tấm gương của Đức Cố Hồng Y là giáo huấn hữu hiệu cho chúng ta. Với lời cầu chúc đó, tôi thành tâm ban phép lành cho tất cả anh chị em.

Đây là lần đầu tiên có một người Việt Nam được khởi sự án phong chân phước mà không phải là Thánh tử đạo.[26] Theo tiến trình phong thánh của Giáo hội Công giáo Rôma thì Hồng y Nguyễn Văn Thuận đang ở bậc Tôi tớ Chúa (một trong bốn bậc phong thánh: Tôi tớ Chúa, Đấng Đáng kính, Chân phước, Hiển Thánh). Ngày 16 tháng 1 năm 2009, Tòa giám quản Rôma ban Án lệnh chính thức để vận động thu thập những chứng cứ, tài liệu, tác phẩm của về ông để phục vụ cho án phong chân phước.[cần dẫn nguồn]

Chính thức mở án phong Chân phước và Hiển Thánh[sửa | sửa mã nguồn]

Vào sáng ngày 22 tháng 10 năm 2010, Hồng y Peter Turkson, chủ sự lễ cầu nguyện cho ông tại Nhà thờ Santa Maria della Scala.[22] Tham dự thánh lễ có các thành viên thuộc Hội đồng Giáo Hoàng về Công lý và Hòa bình, các Hồng y, Giám mục, linh mục, thân nhân, bạn hữu của Hồng y Thuận. Tiếp đến, vào lúc 12 giờ trưa cùng ngày, tại Phòng Hòa Giải trong Dinh Laterano ở Roma, một phiên họp chính thức mở cuộc điều tra án phong Chân phước và phong thánh cho ông.[22] Nghi thức bắt đầu bằng một bài Thánh ca, sau đó là việc đọc biên bản. Tiếp đến, Hồng y Agostino Vallini, Giám quản Giáo phận Rôma tuyên bố chính thức mở Án điều tra.[22][2]

Kết thúc giai đoạn phong Chân phước tại Giáo phận[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 05 tháng 07 năm 2013, người Công giáo Việt Nam tưng bừng tổ chức lễ bế mạc của các giai đoạn giáo phận của tiến trình phong chân phước cho Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Mặc dù ông chưa được phong thánh, các tín hữu Việt Nam đã coi ông là một vị thánh và xem ông như một biểu tượng của Giáo hội Việt Nam.[27]

Tuy nhiên, tiến trình phong chân phước cho Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận bị chính quyền Việt Nam phản đối và cản trở. Có ý kiến từ giới trí thức Công giáo người Việt ở nước ngoài cho rằng, chính án tù kéo dài mà Hồng y Thuận phải chịu sau năm 1975 ở Việt Nam là một vấn đề.[28] Chính quyền đã ngăn chặn nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức, một nhân chứng trong tiến trình phong chân phước cho Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, khi ông đang lên máy bay đi Roma theo lời mời của Tòa thánh Vatican tham dự lễ "Bế mạc phần điều tra tại địa phương" trong hồ sơ phong chân phước và hiển thánh cho Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.[29][30]

Thánh bộ Vatican sẽ xem xét hồ sơ và nếu mọi việc thuận lợi thì ông có thể sẽ được phong Chân phước, và sau đó cũng có thể được phong Thánh. Jean-Marie Schmitz, chủ tịch hiệp hội Bạn hữu Hồng y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận cho biết có ba phép lạ được xem là của Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, trong đó có một nữ tu bị mù đã được sáng mắt.[31]

Những câu nói[sửa | sửa mã nguồn]


Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đường hy vọng (1975)
  • Đường hy vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Công Đồng Vaticano II (1979)
  • Những người lữ hành trên Đường Hy Vọng (1980)
  • Năm chiếc bánh và hai con cá (1975 - 1986) [14]
  • Cầu nguyện
  • Hãy trao tặng tuổi trẻ nụ cười
  • Niềm vui sống đạo
  • Sứ Điệp Đức Mẹ La Vang
  • Chứng nhân hy vọng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Dư luận quốc tế chung quanh vị tân Hồng Y Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận”. Catholic. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2015. 
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u “Cuộc đời và sự nghiệp vị Tôi Tớ Chúa ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận (1928-2002)” (bằng Tiếng Việt). Tổng giáo phận Huế. 4 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015. 
  3. ^ “Late Vietnamese cardinal put on road to sainthood”. Reuters. Ngày 17 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h “Biography of Francis Xavier Nguyen Van Thuan President of the Pontifical Council of Justice and Peace”. Card-fxthuan. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2015. 
  5. ^ a ă Phan Văn Hiền: Cha Tôi - Đức Hồng Y P.X. Nguyễn Văn Thuận - Trong Cuộc Đời Của Tôi. New Millennium Pilgrimge, Oak Ridge, TN, 2003.
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l “Ðôi nét về hướng sống tâm linh của Ðức Hồng Y, Tôi Tớ Chúa, Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận” (bằng Tiếng Việt). Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2015. 
  7. ^ a ă “GIÁM MỤC VIỆT NAM TIÊN KHỞI GIÁO PHẬN NHA TRANG ÐỨC HỒNG Y PHANXICÔ XAVIE NGUYỄN VĂN THUẬN”. Giáo phận Nha Trang. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  8. ^ “Đôi dòng lịch sử”. Lâm Bích. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. .
  9. ^ a ă â “Tiểu Sử Đức Cồ Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận”. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  10. ^ “Về Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận”. BBC Tiếng việt. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  11. ^ a ă â b “Tiểu Sử Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận”. Giesu. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  12. ^ a ă â “Đôi nét về hướng sống tâm linh của ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận”. Truyền thông Giáo huấn Xã hội Công giáo. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  13. ^ a ă â b c “Preaching hope from prison: Cardinal François Nguyen Van Thuan”. Catholic Ireland. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2015. 
  14. ^ a ă â “5 Chiếc Bánh Và 2 Con Cá ÐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận”. Catholic. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  15. ^ Thụy My (7 tháng 8 năm 2013). “Tiến triển quá trình phong Chân phước cho Hồng y Nguyễn Văn Thuận”. Đài RFI. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013. 
  16. ^ “Việt Nam - Con đường hy vọng” (bằng Tiếng Việt). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015. 
  17. ^ a ă â “Lễ Giỗ 12 năm Ðức Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận tại Nhà thờ Chính tòa St Christopher, Canberra”. Catholic. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  18. ^ a ă â b “Lễ cải táng Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận”. Giáo phận Xuân Lộc. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  19. ^ “Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn văn Thuận gặp gỡ hai Ðức Giám Mục Việt nam và phái đoàn Thanh niên Việt nam đến Roma tham dự Ngày Quốc Tế Giới Trẻ”. Catholic. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  20. ^ “Danh sách 37 Vị Tân Hồng Y trong đó có Ðức Tổng Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận được ÐTC công bố ngày 21/01/2001”. Catholic. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  21. ^ a ă “Dư luận quốc tế chung quanh vị tân Hồng Y Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận”. Catholic. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  22. ^ a ă â b c “Lễ cải táng Đức hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận”. Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2015. 
  23. ^ “Căn phòng lưu niệm kỷ vật của Vị Tôi Tớ Chúa cố Hồng Y Phanxico Xaviê Nguyễn văn Thuận”. Conggiao.info. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  24. ^ “Kinh xin ơn với Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận”. Conggiao.info. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  25. ^ “Late Vietnamese cardinal put on road to sainthood”. Reuters. Ngày 17 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  26. ^ “Một cố Hồng y người Việt được phong Á Thánh”. BBC Tiếng Việt. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  27. ^ “Cardinal Nguyen Van Thuan: An Icon of the Vietnamese Church”. Catholic World Report. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  28. ^ “Phong thánh Hồng y Thuận gây 'chia rẽ'?”. BBC Tiếng Việt. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  29. ^ “Hanoi against the beatification of Cardinal Van Thuân. Canonisation process witness stopped at airport”. AiaNews.it. 12 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013. 
  30. ^ Mặc Lâm (5 tháng 7 năm 2013). “Chính sách "Ngoại giao ổ khóa"”. Đài Á Châu Tự Do. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013. 
  31. ^ “Tiến triển quá trình phong Chân phước cho Hồng y Nguyễn Văn Thuận”. RFI. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  32. ^ “Dicastery of the Roman Curia”. G-Catholic. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  33. ^ “Dicastery of the Roman Curianha”. GCatholic. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  34. ^ Cardinal “Deaconry S. Maria della Scala”. G Catholic. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]