Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Hồng y thứ 4 Việt Nam (2001 - 2002)
Giám mục Chánh toà
Giáo phận Nha Trang (1967 - 1975)
Tổng Giám mục phó Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh (1975-1994)
Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình (1994 - 1998)
Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình (1998 - 2002)
Khẩu hiệu:Vui Mừng Và Hy Vọng
Giáo hội Công giáo Rôma
Giáo tỉnh Sài Gòn
Đô thành Hà Nội
Tổng giáo phận Sài Gòn
Giáo phận Sài Gòn
Tòa Nhà thờ Santa Maria della Scala
Bổ nhiệm Gioan Phaolô II
Hết nhiệm 16 tháng 9, 2002
Tiền nhiệm Paul Raymond Piquet Lợi
Y. R. Etchegaray
Kế nhiệm Phaolô Nguyễn Văn Hòa
Phaolô Bùi Văn Đọc
Renato Raffaele Martino
Thụ phong 11 tháng 6, 1953
Tấn phong 4 tháng 6, 1967
Thăng hồng y 21 tháng 1, 2001
Hiệu tòa Vadesi
Các chức khác Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hoà bình
Thông tin cá nhân
Sinh 17 tháng 4, 1928
Huế, Việt Nam
Mất 16 tháng 9, 2002 (74 tuổi)
Rôma, Ý
Nơi an táng Nhà thờ Đức Mẹ Scala, Roma
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Flag of the Vatican City.svg Vatican
Tôn giáo Công giáo
Nơi sinh trưởng Huế
Cha mẹ Ông Tađêô Nguyễn Văn Ấm
Bà Êlizabeth Ngô Đình Thị Hiệp
Con cái Không

(19282002) là một Hồng y của Giáo hội Công giáo Rôma. Ông từng giữ chức Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình của Tòa Thánh Vatican, khiến ông là người Công giáo Việt Nam nhận chức vụ cao nhất trong Giáo hội Công giáo Rôma từ trước đến nay. Trước khi bị cấm về lại Việt Nam năm 1989, ông từng là giám mục chính toà Giáo phận Nha Trang (1967-1975), sau đó ông được bổ nhiệm làm tổng giám mục phó Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến khi ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và hoà bình năm 1994. Ông nói thông thạo bảy ngôn ngữ: Pháp, Anh, Ý, Ðức, Latinh, Nga, Trung Quốc [1]

Ông từng bị chính quyền nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cầm tù 13 năm (1975-1988) mà không thông qua một phiên tòa xét xử về tội danh nào. Năm 1988, ông được trả tự do nhưng vẫn bị quản chế ở tòa giám mục Hà Nội. Năm 1990, ông đi Rôma chữa bệnh, chính quyền Việt Nam tuyên bố ông không được trở về Việt Nam. Năm 2001, ông được vinh thăng hồng y, ông cũng được đánh giá là ứng cử viên sáng giá cho chức giáo hoàng. Năm 2002, ông qua đời tại Rôma.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sinh ngày 17 tháng 4 năm 1928 tại Phủ Cam, Huế. Ông là anh cả trong một gia đình có 8 anh chị em, cha là ông Tađêô Nguyễn Văn Ấm, mẹ là bà Elizabeth Ngô Đình Thị Hiệp - bà là em ruột của Giám mục Ngô Đình Thục và tổng thống Ngô Đình Diệm. Đây là một gia đình có truyền thống Công giáo lâu đời, tổ tiên của ông từng chịu bách hại vì đạo.[2]

Ông tin rằng Thánh Thể là sức mạnh và sức sống dưỡng nuôi nhân loại, vì nhờ Thánh Thể mà người ta được kết hiệp thường xuyên với Thiên Chúa và với Tình yêu của Ngài. Điều này ông có được ngay từ thiếu thời. Thân mẫu của ông nhắc lại chuyện hồi xưa chị cả của bà mắc phải bệnh lao mà qua đời tại Huế. Thời ấy lao là một chứng nan y bất trị, hay lây lan và vô cùng nguy hiểm. Bởi vậy không một giúp lễ chịu theo cha xứ đi trao Mình thánh cho dì. Thế mà ông lại tự nguyện mỗi ngày tan trường là hăm hở đi theo Linh mục Chánh xứ già nua lội bộ tới tận nhà Dì Cả. Ông giúp Dì dọn mình rước lễ, ở lại cùng Dì cầu nguyện, mở Sách lễ đọc cho dì nghe mọi bài trong Thánh lễ. Ông giúp đỡ chăm nom cho đến ngày dì qua đời.[3]

Tu Tập & Linh mục[sửa | sửa mã nguồn]

Năm lên 12 tuổi, tức vào tháng 08 năm 1940, ông gia nhập Tiểu chủng viện An Ninh, tại Cửa Tùng, Quảng Trị; Sau đó, theo học triết và thần học tại Đại chủng viện Kim Long, Huế.[4]

Ngày 11 tháng 6 năm 1953, thầy Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận được thụ phong linh mục tại Nhà thờ chính tòa Phủ Cam, do Giám mục Jean Baptiste Urrutia (tên Việt là Thi, thuộc MEP), Giám mục Đại diện Tông Tòa Huế.[4]

Sau khi được chịu chức, Tân linh mục Phanxicô Xaviê được cử đến Giáo xứ Tam Tòa, Đồng Hới, làm phụ tá cho linh mục Đaminh Hoàng Văn Tâm. Sau đó, ông được chuyển đến Giáo xứ Phanxicô Xaviê - Huế, làm phụ tá cho Linh mục Richard Barbon, tên Việt là Triết.[4] Linh mục Thuận tình nguyện làm tuyên úy cho nhà tù, nhà thương, trại cùi [3]

Từ năm 1956 đến năm 1959, ông đi du học tại Phân khoa Giáo luật thuộc Ðại học Giáo hoàng Urbaniana, Rôma. Ông hoàn thành việc học với văn bằng tiến sĩ Giáo luật qua việc bảo vệ xuất sắc luận án: “Studium comparativum de organisatione capellanorum militum in mondo” ( "Tổ chức Tuyên úy Quân đội trên thế giới").[4] Trong thời gian du học, ông có dịp tiếp xúc, sinh hoạt với các phong trào Ðạo Binh Ðức Mẹ, Hướng Ðạo, Cursillos, Focolare. Các phong trào này ảnh hưởng đến đường lối hoạt động của ông sau này: một đường lối vừa siêu nhiên vừa nhân bản.[5]

Trở về nước, năm 1960, Linh mục Phanxicô Xaviê Thuận được cử làm giáo sư Tiểu Chủng viện Huế. [4]Trong thời gian ngắn, ông khởi công xây cất cơ sở mới và thành lập Tiểu chủng viện Hoan Thiện ở ngay thành phố Huế, cạnh trường Thiên Hữu[5]

Từ năm 1962, ông làm Giám đốc Tiểu chủng viện Hoan Thiện. [4]

Năm 1964, khi mới 36 tuổi, ông là Linh mục Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Huế cho đến năm 1967. [4]

Giám mục Nha Trang (1967 - 1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Nguyễn Văn Thuận năm 1967

Ngày 13 tháng 4 năm 1967, linh mục Phanxicô Xaviê Thuận được Giáo hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Giám mục Chánh toà Giáo phận Nha Trang người Việt Nam tiên khởi, thay thế Giám mục Paul Marcel Piquet, (tên Việt là Lợi, MEP). Ngày 24 tháng 6 năm 1967, vào lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, ông được tấn phong giám mục bởi Khâm sứ Tòa Thánh Angelo Palmas, cùng với hai Giám mục khác là Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế Philípphê Nguyễn Kim Điền và Jean Baptiste Urrutia (Thi) - Nguyên Giám mục Hiệu toà Isauropolis, Giám quản giáo phận phận Huế là phụ phong. Khẩu hiệu của ông là: “Gaudium et Spes” (Vui Mừng và Hy vọng), tên của Hiến chế Mục vụ của Công đồng Vaticanô II.[4]

Ngày 10 tháng 7 năm 1967, ông về nhận Giáo phận Nha Trang. Trong 8 năm làm giám mục Nha Trang, ông rất thành công trong việc phát triển Giáo phận, ông chú trọng việc đào tạo nhân sự, gia tăng con số các Đại chủng sinh từ 42 lên 147, số Tiểu chủng sinh cũng gia tăng từ 200 lên đến 500, học trong 4 Tiểu chủng viện. Ông lo tổ chức các khóa thường huấn linh mục cho cả 6 giáo phận thuộc Giáo tỉnh Huế, ông thành lập và phát triển các hội đoàn giáo dân, phong trào Công Giáo tiến hành như: Phong trào Công lý và Hòa bình, Cursillos, Focolare, Hướng đạo, Cộng đoàn La vang, Tu hội Hy Vọng.[4] Ông cho phổ biến nhiều thư với các chủ đề: Tỉnh thức và cầu nguyện vào năm 1968; Vững mạnh trong Ðức tin để Tiến bước trong An bình, năm 1969; Công lý và Hòa bình, năm 1970; Sứ vụ Chúa Kitô là sứ mạng của chúng ta, năm 1971; Kỷ niệm 300 năm vào năm 1971; Năm Thánh Canh tân và Hòa giải, năm 1973.[4]

Trong Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam, ông từng trải qua những nhiệm vụ: Chủ Tịch Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình; Chủ tịch Ủy Ban Truyền thông xã hội (1967 - 1975); Chủ tịch Ủy Ban Phát triển Việt Nam (1967 - 1975); Phụ trách Ủy ban Di dân; Cộng tác trong việc thành lập Ðài Phát thanh Chân Lý Á Châu. [4]

Năm 1970, nhân kỷ niệm 300 năm Giám mục Lambert de la Motte (phiên âm tên Việt là Lâm Bích) đến Giáo phận Nha Trang, Giám mục Nguyễn Văn Thuận đã sáng lập Chủng viện Truyền giáo Lâm Bích.[6]

Từ năm 1971 đến năm 1975, ông được chọn làm Cố vấn Hội Ðồng Giáo hoàng về Giáo dân, Ông cũng được bổ nhiệm làm Cố vấn và thành viên của Thánh Bộ Truyền giáo; Thành viên của Bộ Phụng Tự và Kỷ luật Bí tích.[4]

Tổng Giám mục phó Sài Gòn (1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 4 năm 1975, ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục hiệu tòa Vadesi, Tổng Giám mục phó của Tổng giáo phận Sài Gòn với quyền kế vị. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông tạm hoãn về Sài Gòn, đến ngày 7 tháng 5 thì ông mới về thành phố này để nhận nhiệm vụ mới. [4] Ngày 1 tháng 7 năm 1975, chính quyền chính thức yêu cầu Giám mục Nguyễn Văn Thuận trở về chức vụ cũ tại giáo phận Nha Trang như trước đây. Chính quyền mới đã không cho phép ông giữ chức vụ này và sau đó giam giữ ông ở khắp nơi chỉ vì ông là người thân của chính quyền đối lập Việt Nam Cộng hòa mới sụp đổ, cuối cùng cấm ông quay về Việt Nam từ năm 1988 nên hầu như ông không bao giờ ở Thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện sứ vụ (nhưng trên lý thuyết ông vẫn được Tòa Thánh công nhận giữ chức vụ này cho đến khi ông từ chức vào năm 1994).

Ngày 27 tháng 6 năm 1975, Ủy Ban Quân Quản thành phố Saigon - Gia Định công bố quyết định không cho ông được hoạt động tại nhiệm sở mới. Ngày 1 tháng 7 năm 1975 Ủy Ban Quân Quản gởi cho ông một văn thư yêu cầu phải trở lại nơi cư trú trước ngày 30 tháng 4 năm 1975.[7]

Bị tù (1975 - 1988)[sửa | sửa mã nguồn]

Đến ngày 15 tháng 8 năm 1975 - Lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên trời, chính quyền bắt giam ông không qua xét xử và ông bị giam giữ tại nhiều nơi khác nhau: nhà tù Nha Trang (từ ngày 19 tháng 3, 1976); biệt giam ở Việt Bắc, quản chế tại Giang Xá (Sơn Tây), Phùng Khoang (Hà Đông) mà không qua một phiên tòa xét xử về tội danh nào[8]. Trong tù, ông vẫn cử hành thánh lễ cho chính mình và cho những tù nhân khác. Những người đến thăm đã lén chuyển rượu lễ và bánh lễ cho ông, ngụy trang bằng chai thuốc trị đau bao tử. Với những thứ đó, mỗi ngày ông dùng ba giọt rượu và một giọt nước đổ vào lòng bàn tay để cử hành bí tích Thánh Thể (thánh lễ). Buổi tối, khi ông và các tù nhân khác phải đi ngủ, họ nằm sát nhau để cử hành thánh lễ, sau đó lén chuyền Thánh Thể cho nhau qua các tấm màn chống muỗi. Họ dùng bao thuốc lá để cất giữ Thánh Thể.

Cũng trong thời gian bị tù đày ông viết tác phẩm Đường hy vọng, được đánh giá là một di chúc tinh thần xúc động đối với nhiều người Công giáo Việt Nam.[9]

Ngay sau khi bị chính quyền đưa từ Sài Gòn về quản chế ở Cây Vông, Nha Trang, vào tháng 8 năm 1975, ông đã cố gắng đêm ngày viết cuốn "Ðường Hy Vọng" với 1001 câu suy niệm ngắn gọn để giúp giáo dân sống đạo một cách kiên vững trong hoàn cảnh mới của đất nước.[3] Sau này, Hồng y Roger Etchegaray cho biết Hồng y Thuận đã kể lại cho ông nghe khoảng thời gian đó:[10]

Một buổi sáng tháng mười năm 1975, tôi ra dấu cho một cậu bé 7 tuổi tên là Quang, đi dự lễ 5 giờ về, khi trời chưa sáng: “Con nói với mẹ mua cho cha mấy bloc lịch cũ!” Chiều tối, khi mặt trời bắt đầu lặn, Quang đem lại cho tôi các cuốn lịch bloc. Từ khi ấy, trong tháng mười và tháng mười một năm 1975, hằng đêm tôi viết cho dân tôi thông điệp từ cảnh tù đầy. Mỗi sáng, đứa bé tới lấy các tờ lịch, đem về nhà cho các anh chị chép lại thông điệp…

Trong thời gian quản chế ở Giang Xá, cách Hà Nội 17 cây số, từ 1978 đến 1982, ông cũng đã viết thêm hai cuốn sách với chủ đề hy vọng. Ðó là cuốn "Ðường Hy vọng dưới ánh sáng lời Chúa và Công đồng Vatican II" và cuốn "Những người lữ hành trên Ðường Hy vọng". Những năm biệt giam sau đó, ông đã viết khoảng 400 bài suy niệm bằng tiếng ngoại quốc, làm thành tập "Cầu nguyện Hy vọng". [3]

Cô Thủy Tiên - em Hồng y Thuận đang sinh sống tại Canberra kể voề thời kì này, cho biết: [11]

Trong nhiều năm trời, chúng tôi không nhận được bất cứ tin tức gì về Ðức Hồng Y cả, Chúng tôi nghĩ rằng anh của chúng tôi đã bị giết" Thế rồi hội Hồng Thập Tự, qua nhiều năm truy tìm, họ báo cho gia đình chúng tôi biết là ngài vẫn còn sống, và hiện đang bị giam trong trại cải tạo.

Cô Thủy Tiên cho biết: [11]

Sau này, những người cộng sản bảo ngài viết thư báo cho thân nhân mua thuốc tây gửi vào vì ngài bị bệnh.
Thế rồi mỗi tháng, chúng tôi đều gửi toa đến một dược phòng bên Pháp, để đặt mua hàng trăm loại thuốc kháng sinh gửi vào trại cải tạo. Chúng tôi biết những loại thuốc đó không phải cho ngài, nhưng chúng tôi không có sự chọn lựa nào khác, họ còn nhắn gia đình gửi sữa vào để nuôi người bệnh. Chúng tôi đã gửi sữa hộp vào trại, cho mãi đến khi ngài được thả, khi hỏi ngài bảo cán bộ chỉ đưa cho ngài hộp không và nói là sữa bị chuột ăn hết rồi.Có lần khi ông lâm trọng bệnh, hội Hồng Thập Tự dàn xếp để đưa ngài sang Pháp giải phẫu, rồi sau đó đưa ngài trở lại biệt giam tại miền Bắc Việt Nam.

Ngày 21 tháng 11 năm 1988, một cán bộ đến gặp ông:[3]

- Ông Thuận, ông ăn cơm chưa?
- Chưa. Tôi đang nấu.
- Ăn cơm xong, ăn mặc sạch sẽ để đi gặp lãnh đạo.
- Lãnh đạo nào ạ?
- Tôi không biết. Tôi chỉ làm theo lệnh cấp trên.

Cơm trưa xong, ông được đưa đến Nhà khách Chính phủ. Sau cái bắt tay, ông Mai Chí Thọ - Bộ trưởng Bộ Nội Vụ, nói:

- Ông Thuận, ông có nguyện vọng gì không?
- Tôi muốn được tự do.
- Bao giờ?
- Ngày hôm nay.

Thấy Bộ trưởng bối rối, ông nói tiếp:

- Tôi ở tù trải qua 3 đời Ðức Giáo Hoàng là Phaolô đệ lục, Gioan Phaolô đệ nhất và Gioan Phaolô đệ nhị. Và thời gian ở tù của tôi cũng đã trải qua 4 đời Tổng Bí thư Liên Xô: Breznev, Andropov, Chernenkô và Gorbachev.
- Ðúng! Ðúng!

Nói vậy rồi ông Bộ trưởng quay sang nói với người cán bộ:

- Hãy làm cho ông Thuận được toại nguyện.

Ngày 23 tháng 11 năm 1988 thì ông được thả tự do và bị quản chế tại tòa Giám mục Hà Nội. Ngày 27 tháng 3 năm 1989 ông bị trục xuất khỏi Việt Nam và qua Roma.[7]

Lưu vong (1990 - 2002)[sửa | sửa mã nguồn]

Bị trục xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Thuận và Giáo hoàng Gioan Phaolô II

Năm 1989 ông được phép xuất ngoại sang Úc thăm cha mẹ đang sống tại đó, sau đó sang Roma gặp Giáo hoàng. Quay trở về Việt Nam, tháng 11 năm 1989 ông mắc bệnh viêm tiền liệt tuyến, đã được nhập viện Bệnh viện Việt Đức Hà Nội và được giải phẫu, nhưng bệnh tình nặng kéo dài, nên mới được phép đi Roma tiếp tục điều trị. Ông đến Roma tháng 4 năm 1990.[2] Trong khi đang được điều trị bệnh tại Roma, Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố ông không còn được trở lại Việt Nam (persona non grata). [12]

Năm 1993, ông đến Úc khi thân phụ mất [11]

Bổ nhiệm tại Giáo triều[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Vatican, ông được mời làm thành viên Ủy ban Quốc tế về Di trú và Di dân. Ngày 9 tháng 4 năm 1994, Tòa Thánh bổ nhiệm ông làm Phó chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, cũng trong thời gian này ông đã từ chức Tổng Giám mục phó Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh (mặc dù ông không được chính quyền Việt Nam công nhận làm Tổng giám mục phó từ sau sự kiện 30 tháng 4 nhưng trên lý thuyết ông vẫn được công nhận bởi Tòa Thánh cho đến ngày từ chức).[12]

Ngày 11 tháng 5 năm 1996 ông được nhận bằng Tiến sĩ Danh dự tại Đại Chủng Viện Notre DameNew Orleans, Louisiana, Hoa Kỳ.[12]

Ngày 24 tháng 6 năm 1998, ông được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, thay thế cho Hồng y Roger Etchegaray nghỉ hưu.[12]

Trong Nhà nguyện Mẹ đấng Cứu thế, từ chiều ngày 12 tháng 03 đến 18 tháng 03 năm 2000, ông giảng tĩnh tâm cho Giáo hoàng Gioan Phaolô II và các thành viên Giáo triều Rôma. Những bài giảng của ông được in thành sách Chứng nhân Hy Vọng.[3]

Ông được tặng thưởng nhiều huân chương do bởi đời sống chứng tá và các hoạt động xây dựng công lý và hòa bình: [4] Ngày 9 tháng 6 năm 1999, tại Tòa Đại sứ Pháp bên cạnh Tòa Thánh, Chính phủ Pháp đã trao tặng ông huy chương “Commandeur de l’Ordre National du Mérite”

Ngày 12 tháng 12 năm 2000, tại Tòa Thị chính Rôma, Hiệp hội “Cùng nhau xây dựng hòa bình” đã trao tặng Huy chương vinh danh ông

Ngày 20 tháng 10 năm 2001, tại Torino, ông được trao tặng Huy Chương Hòa bình do tổ chức SERMIG - Hiệp hội Truyền giáo của giới trẻ

Ngày 9 tháng 12 năm 2001, Trung tâm Nghiên cứu G. Donati cũng đã trao tặng ông Giải thưởng Hòa bình năm 2001.

Vinh thăng hồng y[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ nhận mũ hồng y FX Nguyễn Văn Thuận

Ngày 21 tháng 1 năm 2001, Giáo hoàng Gioan Phaolô II công bố tuyển chọn ông vào Hồng y đoàn, tước hiệu Hồng y linh mục nhà thờ Santa Maria della Scala. Do không thể quay về Việt Nam nên ông tiếp tục đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình ở Vatican với tư cách hồng y bậc phó tế, nên ông là hồng y bậc phó tế đầu tiên người Việt Nam và là hồng y thứ 4 Việt Nam. Thời điểm này, dư luận Công giáo trên thế giới đặc biệt chú ý đến ông. ]

Trong số phát hành ngày 21 tháng 2 năm 2001, Nhật báo The Los Angeles Times có bài với nhan đề "The Men Who Would Be Pope?" (Người có thể lên ngôi Giáo hoàng?) đã dự đoán danh sách 14 vị hồng ý có nhiều khả năng kế vị Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong đó có Nguyễn Văn Thuận[13].

Trong khi đó Nhật báo The New York Post, ngày 25 tháng 2 năm 2001, cũng đăng bài nhan đề "Is Asian Cardinal In Line For Papacy ?" (Một Hồng Y Á Châu Có Thể Lên Ngôi Giáo Hoàng?) của ký giả Rod Dreher. Trong đó có đoạn:[13]

Ðứng trong ngôi đền thờ xây trên mộ Thánh Tử Ðạo Phêrô từ thế kỷ thứ IV, Tân Hồng y Edward Michael Egan, Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận New York, đã nói về một chứng nhân anh hùng trong thời đại ngày nay, - người đã cùng nhận mũ đỏ với ông hồi đầu tuần này - là một Tân Hồng y anh hùng được rất nhiều người tin là một trong những ứng viên sáng giá nhất cho ngôi vị Giáo Hoàng tiếp theo.

Tân Hồng Y Phanxicô Xavie, 73 tuổi, đã từ chối không bỏ nhiệm sở của Ngài là Phó Tổng Giám Mục Sàigòn khi Miền Nam rơi vào tay những người cộng sản. Họ đã bỏ tù Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, bởi vì Ngài là người Công giáo, một linh mục, hơn nữa một Tổng Giám Mục! Người cộng sản đã ném Ngài vào lao tù và giam Ngài trong 9 năm cơ cực! Sau khi chịu đựng tổng cộng 13 năm tù ngục, Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận được trả tự do năm 1987 nhưng vẫn bị quản chế tại gia! Năm 1991, chính quyền cộng sản Việt Nam trục xuất Ngài và Ngài đã đến Vatican làm việc trong Hội Ðồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, mà nay Ngài là Chủ Tịch. Chính trong ngày được tấn phong, Tân Hồng Y Việt Nam này đã đeo quanh cổ mình một cây thánh giá bằng gỗ mà Ngài đã tự tay làm lấy tại nhà giam. Ðức Hồng Y Edward Egan nói về Hồng Y bạn mình như sau: "Chúng ta có thể nói chắc chắn rằng Ngài đã tuyên xưng Ðức Tin bằng chính máu của Ngài.

Năm 2001 ông bị bướu lạ ở bụng, phải qua Boston, Hoa Kỳ, để được giải phẫu.

Tháng 5 năm 2002 bệnh tái phát. Ngày 28 tháng 4 năm 2002 ông về Úc thăm thân mẫu và mừng 100 tuổi của bà trước khi mổ lại lần thứ hai vào ngày 8 tháng 5 năm 2002 tại Milano, nhưng vì tuổi già và sức khỏe không bảo đảm, nên cuộc phẫu thuật mới được thực hiện khoảng một phần ba thì ngưng lại.[7]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

6 giờ chiều ngày 16 tháng 9 năm 2002, ông qua đời tại Roma do bệnh ung thư ruột.[4]

Thánh lễ an táng ông được chính Giáo hoàng Gioan Phaolô II cử hành trọng thể vào chiều ngày 20 tháng 9 năm 2002, với 4.000 người tham dự, trong đó có 4 hồng y và 130 giám mục cùng với ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh. [14] Trong thánh lễ, Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhận xét ông:[4]

Trong lúc chào vĩnh biệt Người Sứ giả anh hùng của Tin Mừng Chúa Kitô, chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì đã cho chúng ta, nơi con người của Đức Hồng y, một tấm gương sáng ngời về đời sống tín hữu Kitô, phù hợp với đức tin, đến độ tử đạo. […] ngài (Đức Hồng Y Thuận) đã hiểu nền tảng của đời sống Kitô hữu là “chọn một mình Chúa mà thôi” như các vị tử đạo Việt Nam đã làm trong những thế kỷ trước. Chúng ta được mời gọi rao giảng cho tất cả mọi người “Tin Mừng Hy Vọng” và Đức Hồng Y giải thích rằng: chúng ta chỉ có thể chu toàn Ơn Gọi ấy với sự hy sinh quyết liệt, dù phải chịu những thử thách cam go nhất. [...] Đây không phải là sự anh hùng, nhưng là sự trung thành chín chắn, hướng cái nhìn về Chúa Giêsu là mẫu gương của mọi chứng nhân và mọi vị tử đạo. Một gia sản cần được đón nhận mọi ngày trong một cuộc sống đầy yêu thương và dịu hiền

10 năm sau khi ông được an táng tại nghĩa trang Verano, di hài ông đã được cải táng về Nhà thờ hiệu tòa của ông, Nhà thờ Đức Mẹ Scala, ở trung tâm Roma sáng ngày 8 tháng 6 năm 2012.[14]

Ở Tu viện Celittinen, Koeln, bây giờ có căn phòng dành riêng lưu giữ những hình ảnh cùng kỷ vật của ông, và cũng tại nhà Dòng này ông đã sống trải qua nhiều ngày năm tháng lúc còn sinh thời, nhất là đã dâng thánh lễ Misa với nhà Dòng tại nhà nguyện tu viện. [15]

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày ông bị bắt giam, biệt giam cho đến ngày ông qua đời, không có bằng chứng nào cho thấy ông tỏ ra sự căm thù, oán hận những người đã hại ông, mà chỉ thấy ở ông sự tha thứ. Tất cả những khổ nhục của thời gian sống tù đày đã được ông xem như là một cơ hội đặc biệt để tìm hiểu thánh ý của Chúa và vẫn tiếp tục thi hành sứ vụ mục tử của mình bằng những phương tiện tối thiểu mà mình có thể có. Nhưng bất cứ ai đã được sống gần bên ông, kể cả những người có quyền quyết định cái sống cái chết trên ông thì đều bị ông chinh phục mà hướng đến những giá trị cao đẹp hơn.[cần dẫn nguồn] Chính vì lẽ đó mà Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã mời ông giảng Tĩnh tâm cho giáo hoàng và Giáo triều Roma vào dịp Mùa Chay đầu năm 2000 với đề tài "Đức Tin, Hy vọng và Tha thứ của Kitô giáo."

Huy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Huy hiệu Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, có khẩu hiệu Latinh nghĩa là: "Vui mừng và hi vọng"

Huy hiệu của ông có nền màu xanh dương với ngôi sao trắng tượng trưng cho Đức Trinh Nữ Maria (Sao Biển). Nổi bật trên màu xanh và ngôi sao là ba ngọn núi biểu tượng của đại dương và lục địa. Ba ngọn núi còn là biểu trưng cho ba miền Việt Nam: Bắc, Trung, và Nam. Núi và biển cả cũng còn tượng trưng cho Nha-Trang, là Giáo phận ông làm Giám mục chính tòa.[3]

Ngôi sao là Sao Biển (Stella Maris), tượng trưng của Đức Trinh Nữ Maria. Ngôi sao dẫn đường cho những con thuyền trong cuộc du hành từ đời này cho đến vĩnh cửu.[3]

Mười khúc tre tượng trưng cho 10 điều răn. Tre là một biểu tượng Á Châu cho người quân tử.[3]

Khẩu hiệu bằng tiếng La Tinh GAUDIUM ET SPES, nghĩa là "Vui mừng và hy vọng" cũng là nhan đề của Hiến Chế Mục Vụ về Giáo hội trong Thế giới ngày nay, được Công đồng Chung Vaticanô II ban hành ngày 7 tháng 12 năm 1965, ngày cuối cùng trước khi bế mạc Công Ðồng kéo dài 3 năm 2 tháng này (11 tháng 10 năm 1962 đến ngày 8 tháng 12 năm 1965). Cùng với Hiến Chế Tín Lý về Giáo hội Ánh Sáng Muôn Dân - " Lumen Gentium", qua Công Ðồng này, Giáo hội đã hoàn toàn muốn canh tân chính mình để có thể thực sự phản ánh Dung Nhan Chúa Kitô, trong sứ vụ Muối Ðất Men Bột của mình, ở một thế giới càng văn minh về vật chất và nhân bản lại càng có dấu hiệu và triệu chứng phá sản đức tin cũng như băng hoại luân lý.

Huy hiệu của Hồng y Thuận không những nói lên mục tiêu mà ông đặt ra cho mình để theo đuổi suốt phần đời còn lại, mà còn là tất cả những gì ông đã sống và làm việc, là gắn bó với Mẹ Maria, với đức tin của mình, với Giáo hội mà không tách khỏi Quê hương và Dân tộc Việt Nam của mình.[3]

Phong chân phước[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 9 năm 2007, Giáo hội Công giáo Rôma bắt đầu những thủ tục đầu tiên cho việc tuyên phong chân phước và phong thánh cho ông.[16] Cùng ngày, từ dinh thự Giáo hoàng ở Castel Gandolfo, trong buổi triều yết, Giáo hoàng Biển Đức XVI đã nói: [4]

Tôi vui mừng, nhân cơ hội này để một lần nữa, nêu lên chứng tá Đức Tin sáng ngời mà vị Mục Tử anh dũng này đã để lại cho chúng ta. ĐHY Phanxicô Xaviê đã được vị tiền nhiệm Gioan-Phaolô II đáng kính của tôi bổ nhiệm làm Chủ Tịch Hội đồng Giáo Hoàng về Công lý và Hòa bình. Ngài đã soạn thảo bản Toát Yếu Giáo Huấn xã hội của Hội Thánh. Làm sao quên được những nét nổi bật về sự đơn sơ và thân thiện của ngài.
Chúng ta tưởng nhớ ngài với sự thán phục lớn lao, trong khi chúng ta hồi tưởng lại trong tâm trí chúng ta những dự phóng lớn lao và tràn đầy Hy vọng, đã làm cho ngài luôn sống động và ngài tìm cách thế để dễ dàng loan truyền ra và thuyết phục nhiều người.
Đức Hồng Y Văn Thuận là một con người của Hy Vọng. Ngài sống bằng Hy Vọng, ngài phổ biến niềm Hy Vọng cho tất cả những ai ngài gặp gỡ. [...] Đức Cố Hồng Y Phanxicô thường nhắc lại rằng: Kitô hữu là một con người của từng giờ, của lúc này, của giây phút hiện tại, cần được đón nhận và sống với tình yêu Chúa Kitô. Trong khả năng sống giây phút hiện tại này, đã chiếu tỏa điều sâu thẳm của việc phó thác trong bàn tay Thiên Chúa và tính đơn sơ theo tinh thần Phúc âm. [...]

Và Giáo hoàng Biển Đức kết thúc: Anh chị em thân mến, tôi vui mừng sâu xa đón nhận tin về việc khởi sự án phong chân phước cho vị Ngôn Sứ đặc biệt về niềm hy vọng Kitô này và trong khi chúng ta phó thác cho Chúa linh hồn ưu tuyển của ngài, chúng ta hãy cầu nguyện để tấm gương của Đức Cố Hồng Y là giáo huấn hữu hiệu cho chúng ta. Với lời cầu chúc đó, tôi thành tâm ban phép lành cho tất cả anh chị em.

Đây là lần đầu tiên có một người Việt Nam được khởi sự án phong chân phước mà không phải là Thánh tử đạo[17] Theo tiến trình phong thánh của Giáo hội Công giáo Rôma thì Hồng y Nguyễn Văn Thuận đang ở bậc Tôi tớ Chúa (một trong bốn bậc phong thánh: Tôi tớ Chúa, Đấng Đáng kính, Chân phước, Hiển Thánh). Ngày 16 tháng 1 năm 2009, Tòa giám quản Rôma ban Án lệnh chính thức để vận động thu thập những chứng cứ, tài liệu, tác phẩm của/về Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận để phục vụ cho án phong chân phước cho ông.

Vào sáng ngày 22 tháng 10 năm 2010, Hồng y Peter K.A. Turkson, chủ sự thánh lễ cầu nguyện cho ông tại Nhà thờ Santa Maria della Scala. Tham dự thánh lễ có các thành viên thuộc Hội đồng Giáo Hoàng về Công lý và Hòa bình, các Hồng Y, Giám mục, linh mục, thân nhân, bạn hữu của Hồng y Thuận. Tiếp đến, vào lúc 12 giờ trưa cùng ngày, tại Phòng Hòa Giải trong Dinh Laterano ở Roma, một phiên họp chính thức mở cuộc điều tra án phong Chân phước và phong thánh cho ông. Nghi thức bắt đầu bằng một bài Thánh ca, sau đó là việc đọc biên bản. Tiếp đến, Hồng y Agostino Vallini, Giám quản Giáo phận Rôma tuyên bố chính thức mở Án điều tra.[18][4] Tuy nhiên, tiến trình phong chân phước cho Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận bị chính quyền Việt Nam phản đối và cản trở. Có ý kiến từ giới trí thức Công giáo người Việt ở nước ngoài cho rằng, chính án tù kéo dài mà Hồng y Thuận phải chịu sau năm 1975 ở Việt Nam là một vấn đề.[19] Chính quyền đã ngăn chặn nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức, một nhân chứng trong tiến trình phong chân phước cho Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, khi ông đang lên máy bay đi Roma theo lời mời của Tòa thánh Vatican tham dự lễ "Bế mạc phần điều tra tại địa phương" trong hồ sơ phong chân phước và hiển thánh cho Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.[20][21]

Những câu nói[sửa | sửa mã nguồn]

10 Luật cuộc sống của ông[sửa | sửa mã nguồn]

Tôi sẽ sống giây phút hiện tại một cách trọn vẹn.

Tôi sẽ phân biệt giữa Thiên Chúa và công trình của Thiên Chúa.

Tôi sẽ giữ vững một bí mật: cầu nguyện.

Tôi sẽ thấy trong Thánh điện duy nhất của tôi.

Tôi sẽ chỉ có một sự khôn ngoan: khoa học của đạo Công giáo.

Tôi sẽ vẫn trung thành với sứ mệnh của tôi trong Giáo Hội và cho Giáo Hội như một chứng nhân của Chúa Giêsu Kitô.

Tôi sẽ tìm kiếm sự hòa bình thế giới không thể cung cấp cho.

Tôi sẽ thực hiện một cuộc cách mạng đổi mới trong Chúa Thánh Thần.

Tôi sẽ nói một ngôn ngữ và mặc một bộ đồng phục: từ thiện.

Tôi sẽ có tình yêu rất đặc biệt: Đức Trinh Nữ Maria.[22]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đường hy vọng (1975)
  • Đường hy vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Công Đồng Vaticano II (1979)
  • Những người lữ hành trên Đường Hy Vọng (1980)
  • Năm chiếc bánh và hai con cá
  • Cầu nguyện
  • Hãy trao tặng tuổi trẻ nụ cười
  • Niềm vui sống đạo
  • Sứ Điệp Đức Mẹ La Vang
  • Chứng nhân hy vọng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]
  2. ^ a ă Phan Văn Hiền: Cha Tôi - Đức Hồng Y P.X. Nguyễn Văn Thuận - Trong Cuộc Đời Của Tôi. New Millennium Pilgrimge, Oak Ridge, TN, 2003.
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g “Ðôi nét về hướng sống tâm linh của Ðức Hồng Y, Tôi Tớ Chúa, Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận” (bằng Tiếng Việt). Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2015. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô “Cuộc đời và sự nghiệp vị Tôi Tớ Chúa ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận (1928-2002)” (bằng Tiếng Việt). 4 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015. 
  5. ^ a ă GIÁM MỤC VIỆT NAM TIÊN KHỞI GIÁO PHẬN NHA TRANG ÐỨC HỒNG Y PHANXICÔ XAVIE NGUYỄN VĂN THUẬN
  6. ^ Đôi dòng lịch sử, Gia Đình Lâm Bích.
  7. ^ a ă â “Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã tạ thế tại Roma (16/09/2002)”. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2015. 
  8. ^ Về Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận
  9. ^ Thụy My (7 tháng 8 năm 2013). “Tiến triển quá trình phong Chân phước cho Hồng y Nguyễn Văn Thuận”. Đài RFI. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013. 
  10. ^ “Việt Nam - Con đường hy vọng” (bằng Tiếng Việt). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015. 
  11. ^ a ă â Lễ Giỗ 12 năm Ðức Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận tại Nhà thờ Chính tòa St Christopher, Canberra
  12. ^ a ă â b Lễ cải táng Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
  13. ^ a ă “Dư luận quốc tế chung quanh vị tân Hồng Y Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận”. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2012. 
  14. ^ a ă “Lễ cải táng Đức hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận”. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2015. 
  15. ^ Căn phòng lưu niệm kỷ vật của Vị Tôi Tớ Chúa cố Hồng Y Phanxico Xaviê Nguyễn văn Thuận
  16. ^ “Late Vietnamese cardinal put on road to sainthood”. Reuters. Ngày 17 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2007. 
  17. ^ Một cố Hồng y người Việt được phong Á Thánh
  18. ^ Chính thức mở án phong chân phước cho ĐHY Nguyễn Văn Thuận
  19. ^ Phong thánh Hồng y Thuận gây 'chia rẽ'?
  20. ^ “Hanoi against the beatification of Cardinal Van Thuân. Canonisation process witness stopped at airport”. AiaNews.it. 12 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013. 
  21. ^ Mặc Lâm (5 tháng 7 năm 2013). “Chính sách "Ngoại giao ổ khóa"”. Đài Á Châu Tự Do. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013. 
  22. ^ Ten Rules of Life
  23. ^ Dicastery of the Roman Curia
  24. ^ Dicastery of the Roman Curia
  25. ^ Cardinal Deaconry S. Maria della Scala

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]