Giuse Maria Trịnh Như Khuê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hồng y
 Giuse Maria Trịnh Như Khuê
Hồng y Tiên khởi người Việt (1976 - 1978)
Tổng giám mục Trưởng Giáo tỉnh Hà Nội
(1960 - 1978)
Tổng giám mục đô thành Tiên khởi
Tổng giáo phận Hà Nội (1960 - 1978)
Hồng y Giuse Maria Trịnh Như Khuê.jpg
Giáo hộiGiáo hội Công giáo Rôma
Chức vụ chính yếu
Trưởng Giáo tỉnh Hà Nội
Tổng giám mục đô thành Hà Nội
Giáo tỉnhGiáo tỉnh Hà Nội
TòaTổng giáo phận Hà Nội
Bổ nhiệmNgày 24 tháng 11 năm 1960
Hết nhiệmNgày 27 tháng 11 năm 1978
Tiền nhiệmChức vụ thiết lập
François Chaize Thịnh
Đại diện Tông Tòa Hà Nội
Kế nhiệmGiuse Maria Trịnh Văn Căn
Đại diện Tông Tòa Địa phận Hà Nội
TòaHiệu tòa Synaus
Bổ nhiệmNgày 18 tháng 4 năm 1950
Tựu nhiệmNgày 15 tháng 8 năm 1950
Hết nhiệmNgày 24 tháng 11 năm 1960
Tiền nhiệmFrançois Chaize Thịnh
Kế nhiệmChức vụ kết thúc
Giuse Maria Trịnh Văn Căn
Tổng giám mục Hà Nội
Các chức khácHồng y đẳng linh mục nhà thờ San Francesco di Paola ai Monti (1976 – 1978)
Giám mục hiệu tòa Synaus (1950 - 1960)
Truyền chức
Thụ phongNgày 1 tháng 4 năm 1933
Tấn phongNgày 15 tháng 8 năm 1950
Thăng Hồng yNgày 24 tháng 5 năm 1976
Thông tin cá nhân
Tên khai sinhTrịnh Như Khuê
SinhNgày 11 tháng 12 năm 1898
Tràng Dũ, Hà Nội, Việt Nam
Mất27 tháng 11, 1978(1978-11-27) (79 tuổi)
Hà Nội
Nơi an tángNhà thờ chính tòa Hà Nội
Nơi sinh trưởngHà Nội
Cha mẹTrịnh Như Thành (Cha)
Alma materTiểu chủng viện Hoàng Nguyên
trường Puginier
Đại chủng viện Kẻ Sở học Thần học (1929 - 1933)
Khẩu hiệuHãy theo Thầy
Cách xưng hô với
Giuse Maria Trịnh Như Khuê
Coat of arms of Joseph-Marie Trịnh Như Khuê.svg
Danh hiệuĐức Hồng Y
Trang trọngĐức Hồng Y
Thân mậtCha
Sau khi chếtĐức Cố Hồng Y
Khẩu hiệuHãy theo Thầy
TòaHà Nội

Giuse Maria Trịnh Như Khuê (1898 - 1978) là một hồng y thuộc Giáo hội Công giáo Rôma và là Hồng y tiên khởi của Việt Nam. Khẩu hiệu Giám mục của ông là Hãy theo Thầy.[1]

Trịnh Như Khuê sinh tại tỉnh Hà Nam trong một gia đình có thân phụ dạy chữ Hán. Từ nhỏ ông đã có chí hướng tu trì, sau khoảng thời gian dài tu học, năm 1933, ông được phong chức linh mục. Sau khi trở thành linh mục, ông lần lượt giữ nhiều vai trò khác nhau như linh mục phó xứ Khoan Vĩ, giáo sư Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên, phó xứ rồi chính xứ Hàm Long.

Tháng 4 năm 1950, Tòa Thánh Vatican bổ nhiệm linh mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê làm Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Hà Nội (địa phận Hà Nội). Lễ tấn phong Giám mục cho Tân giám mục được tổ chức vào ngày 15 tháng 8 cùng năm tại Nhà thờ Lớn Hà Nội. Do có lòng sùng kính đặc biệt Đức Bà Maria, ông ghép thêm tên thánh của mình trở thành Giuse Maria.

Năm 1960, cùng với sự thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Trịnh Như Khuê trở thành Tổng giám mục Tiên khởi của Tổng giáo phận Hà Nội. Chưa đầy 3 năm sau, ngày 2 tháng 6 năm 1963, ông bất ngờ phong chức Tổng giám mục phó với quyền kế vị cho linh mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn.

Cuối tháng 4 năm 1976, Giáo hoàng Phaolô VI tuyên bố vinh thăng Tổng giám mục Trịnh Như Khuê là Hồng y in pectore và công bố vào ngày 24 tháng 5 cùng năm.[2][3] Trịnh Như Khuê là hồng y người Việt đầu tiên, mang tước vị Hồng y Linh mục nhà thờ San Francesco di Paola ai Monti.[4] Sau khi sang Vatican lần lượt bầu hai tân Giáo hoàng, ngày 27 tháng 11 năm 1978, ông đột ngột qua đời vì nhồi máu cơ tim.

Thiếu thời & Tu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Như Khuê sinh ngày 11 tháng 12 năm 1898 tại làng Tràng Duệ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam,[1] là con trai trưởng trong một gia đình Công giáo có 10 anh chị em.[5] Thân phụ ông, Trịnh Như Thành là một Nho sinh, từng dự định tham gia thi cử tại trường thi Nam Định nhưng bị triều đình cấm thi. Vì vậy, Trịnh Như Thành về mở trường dạy chữ Hán, đồng thời làm chánh trương giáo xứ kiêm chức vụ Lý trưởng.[6]

Lên 6 tuổi, cậu bé Khuê học khai tâm chữ Hán và tỏ ra rất nhanh lẹ, ít lâu sau đã đọc được sách truyện Tử đạo bằng chữ Nôm.[6] Thân phụ cậu phản đối ý tưởng tu trì nhưng bà nội cậu can thiệp và thân phụ đồng ý cho cậu đi theo con đường tu trì.[7] Thấy cậu bé Khuê có chí hướng đi tu, linh mục chính xứ tên Thông quyết định nhận cậu làm con nuôi và giới thiệu cho vào tu tập tại Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên. Sau khi mãn khóa, Trịnh Như Khuê đã trở thành một thầy giảng, được phân công về Nhà thờ Hàm Long. Linh mục chính xứ giáo xứ Hàm Long là Dépaulis giới thiệu cho thầy giảng Khuê vào học tiếp tại trường Puginier, một trường tư thục Công giáo do các tu sĩ Dòng La San điều hành. Sau khi kết thúc khóa học, thầy Khuê tiếp tục con đường tu học bằng việc vào Đại chủng viện Kẻ Sở học Triết học.[6] Trịnh Như Khuê thông minh và chăm học. Cuối năm học thứ hai, chủng sinh khuê mắc chứng bệnh nhức đầu nên quyết định về dưỡng bệnh tại nhà xứ của linh mục Thông. Nhận được tin, linh mục Dépaulis lại gọi chỉnh sinh Khuê đến Hà Nội để săn sóc.[7]

Ngày 20 tháng 5 năm 1925, Giáo hoàng Piô XI thiết lập Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam và cử Giám mục Constantino Ayuti làm Khâm sứ đại diện Tòa Thánh. Thầy giảng Giuse Trịnh Như Khuê được Giám mục Tông Toà Hà Nội Pierre Gendreau Đông đề cử làm thông ngôn cho Khâm sứ Toà Thánh Ayuti, tháp tùng vị giám mục này này đi kinh lược.[6] Trịnh Như Khuê tháp tùng Khâm sứ Tòa Thánh nhiều chuyến đi mục vụ và rất thông thạo tiếng Pháp, nên hỗ trợ Khâm sứ Ayuti cách đắc lực. Khâm sứ Tòa Thánh ngỏ ý gửi thầy giảng Khuê du học Pháp, tuy vậy, ông không nhận.[7] Trong thời kỳ này, vào chiều mỗi ngày, Khâm sứ Tòa Thánh cùng Trịnh Như Khuê tản bộ tại phố phường Hà Nội.[8]

Sau khi Khâm sứ Ayuti qua đời tại Sài Gòn ngày 29 tháng 7 năm 1928, thầy giảng Trịnh Như Khuê trở về Hà Nội và đi giúp xứ Kẻ Noi. Một năm sau, ông được kêu gọi về Đại chủng viện Kẻ Sở học Thần học.[6]

Thời kỳ linh mục (1933 - 1950)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 4 năm 1933, tại Kẻ Sở, Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Hà Nội (quen gọi là Địa phận Hà Nội) Pierre Gendreau Đông phong chức linh mục cho thầy giảng Giuse Maria Trịnh Như Khuê[7] và bổ nhiệm vị tân linh mục làm linh mục phó giáo xứ Khoan Vĩ.[9] Trong thời gian đảm trách vai trò này, linh mục Khuê tổ chức nhiều hoạt động tôn giáo nổi bật như lập đoàn Nghĩa binh của thiếu nhi, tổ chức các lễ trọng, rước kiệu Bà Maria, thăm viếng an ủi giáo dân, đặc biệt quan tâm đến những người khó khăn.[7] Sau một năm ở Khoan Vĩ, linh mục Khuê được thuyên chuyển về làm Giáo sư Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên và ông đã dạy học tại chủng viện này trong vòng 7 năm.[6] Nhiều chủng sinh ấn tượng về trình độ và lòng yêu mến bà Maria của linh mục Trịnh Như Khuê.[7] Đến năm 1941, linh mục Khuê lại được giám mục Đại diện Tông Tòa Hà Nội bổ nhiệm về nhận chức vụ linh mục phó giáo xứ Hàm Long, trợ giúp cho linh mục chính xứ là linh mục Dépaulis. Thời kỳ này, nạn đói nặng nề đã xảy ra ở miền Bắc Việt Nam vào năm 1945, linh mục Như Khuê đã cùng nhiều người tích cực tham gia các hoạt động cứu đói. Trong thời gian này, ông còn cử hành nghi thức Rửa tội cho 3.000 người.[7]

Năm 1947, linh mục Dépaulis về Pháp, linh mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê được chọn làm linh mục Chính xứ giáo xứ Hàm Long, một giáo xứ lớn của Hà Nội. Với cương vị chính xứ, ông đã cho thành lập một tổ chức đoàn thể lấy tên "Đạo binh Đức Mẹ", còn gọi là "Đạo Binh Xanh".[6] Ngày 12 tháng 8 năm 1948, linh mục Khuê công bố thành lập Legio Mariae Việt Nam, với chỉ 6 hội viên ban đầu.[10] Tháng 2 năm 1950, một linh mục người Việt mới được thụ phong đã được giám mục địa phận thuyên chuyển về phụ giúp linh mục Khuê, đó là linh mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn. Về sau này, cả hai vị linh mục chính và phó xứ đều trở thành những vị hồng y danh tiếng của Giáo hội Công giáo Việt Nam.[6][9]

Thời kỳ Đại diện Tông Toà Hà Nội (1950 - 1960)[sửa | sửa mã nguồn]

Bổ nhiệm và Tấn phong[sửa | sửa mã nguồn]

Huy hiệu Giám mục Trịnh Như Khuê

Ngày 18 tháng 4 năm 1950, Tòa Thánh loan báo thông tin bổ nhiệm linh mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê, hiện đang là linh mục Chính xứ giáo xứ Hàm Long, làm Giám mục hiệu tòa Synaus, Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Hà Nội. Giám mục Khuê là vị Giám mục người Việt thứ 7 của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Với chức vụ Đại diện Tông Tòa Địa phận Hà Nội, giám mục Khuê cũng trở thành giám mục người Việt đầu tiên lãnh nhận chức vụ này ở Địa phận.[1] Linh mục phó xứ Giuse Maria Trịnh Văn Căn được tân giám mục chọn làm thư ký Toà Giám mục.[11]

Nhận định về vai trò giám mục Địa phận Hà Nội, Trịnh Như Khuê cho rằng, việc đón nhận trách nhiệm quản lý Địa phận khi thời thế đang hiểm nguy và đen tối là một trách nhiệm nặng nề. Ông cho rằng khắp nơi điêu tàn về cả tinh thần và vật chất, nhất là về tinh thần. Nói về tương lai, giám mục tân cử Hà Nội đánh giá đó là những ngày bấp bênh và đầy tính đe dọa, không tươi sáng, nhiều dấu hiệu báo trước viễn cảnh u ám đáng lo ngại.[12]

Trong Thư chung đầu tiên gửi giáo dân Địa phận Hà Nội vào ngày 22 tháng 7 năm 1950, Trịnh Như Khuê viết về những đau khổ trong thời điểm thực tại, sự giúp đỡ tín hữu của bà Maria, cũng như hướng dẫn chi tiết các linh mục Địa phận về việc dâng địa phận cũng như giáo xứ cho Trái tim vô nhiễm Nguyên Tội bà Maria. Ngoài ra, ông cũng thông báo về việc lễ tấn phong chức giám mục cho mình dự kiến tổ chức tại Rôma, nhưng sau đó, vì một số bất tiện, ông không thể đến Rôma cử hành nghi thức tấn phong.[13][14] Trước đó, tân giám mục dự tính được tấn phong vào ngày 1 tháng 10, lễ kính Têrêsa thành Lisieux, một vị Thánh của Giáo hội Công giáo.[15]

Lễ tấn phong Giám mục cho Tân giám mục Đại diện Tông Tòa Hà Nội đã diễn ra vào ngày 15 tháng 8 năm 1950[16] tại Nhà thờ Lớn Hà Nội do Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Phát Diệm Tađêô Lê Hữu Từ chủ phong với hai Giám mục phụ phong là Giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, Đại diện Tông Toà Hạt Đại diện Tông Tòa Bùi Chu và Giám mục Franciscô Gomez de Santiago, OP - Đại diện Tông Toà Hạt Đại diện Tông Tòa Hải Phòng.[1] Giám mục Tân cử Trịnh Như Khuê xem việc được tấn phong vào lễ Đức Mẹ Hồn xác lên trời là một ơn ông được lãnh nhận.[15] Do có lòng sùng kính đặc biệt bà Maria, ông ghép thêm tên thánh của mình trở thành Giuse Maria.

Mục vụ trước di cư năm 1954[sửa | sửa mã nguồn]

Sau lễ tấn phong, tân giám mục Trịnh Như Khuê gửi thư chung thứ 2 đến giáo dân Địa phận vào ngày 8 tháng 9 năm 1950. Trong thư, ông đề cập đến việc tạo một nhà nguyện nhỏ hỗ trợ các linh mục "Cấm phòng" - suy niệm riêng tư với Thiên Chúa. Ông cũng cho biết các linh mục nên siêng năng thực hiện việc này. Giám mục Khuê cũng đề cập: tuy công việc còn nhiều, nhưng nhận tin báo giáo hoàng sẽ công bố tín điều Đức Mẹ Hồn xác lên trời làm cho ông vui mừng, phấn khởi, nên quyết định đi đến Rôma cuối tháng 9 và cho biết nhằm mục đích tham dự buổi lễ quan trọng, cảm tạ Mẹ Maria cũng như tiếp kiến giáo hoàng.[17] Trước đó, vì không thể hoàn thành ý định sang Rôma để truyền chức, Trịnh Như Khuê dự định sẽ đến viếng thăm nơi này nhân dịp Giáo hoàng công bố sắc lệnh công nhận một số tín hữu tử đạo vào hàng ngũ Chân phước vào năm 1951.[15] Trong thư chung số 2, giám mục Hà Nội cũng loan báo ông đến Lộ Đức và Fatima nhằm kêu gọi sự phù trợ của Mẹ Maria cho địa phận, đồng thời mang một tượng Đức Mẹ Fátima đã làm phép về Địa phận. Đính kèm thư chung này là thư thành lập Hội Trinh nữ Đức Mẹ Chúa Trời với mục đích lập một hội cung cấp tiền bảo trợ cho các chủng sinh đang tạm dừng việc học theo mô hình châu Âu. Điều lệ quy định, bề trên địa phận chính là giám đốc chung của hội trong địa phận. Trong thư đính kèm cũng có nhiều quy định và chi tiết khác nhau.[17]

Một tháng sau ngày tấn phong, Trịnh Như Khuê viếng thăm Roma với mục đích cảm tạ Tòa Thánh. Đồng thời, trong chuyến đi này, giám mục Khuê cũng tham gia và thực hiện các công việc mục vụ khác như tham dự lễ tuyên tín Đức Mẹ Hồn xác lên trời vào ngày 1 tháng 11, thăm viếng các thánh địa nổi tiếng về bà MariaĐức Mẹ Lộ Đức, Đức Mẹ Fatima để cầu nguyện cũng như ghé thăm Dublin ở Ireland - nơi sáng lập phong trào Legio Mariae để học tập, áp dụng ở Việt Nam.[5] Trong thời gian viếng thăm này, giám mục địa phận Hà Nội viết Thư chung số 3 gửi cho toàn thể hàng giáo sĩ cũng như giáo dân Hà Nội, trong thư, giám mục Khuê đề cập đến việc lý do quyết định đến Rôma của mình, nhận xét về lòng thành kính của giáo dân đối với Mẹ Maria. Ngoài ra, nội dung thư này, Trịnh Như Khuê loan báo thành lập Hội Đức Bà Lên Lời cho toàn thể Địa phận từ quy mô trước đó ở Nhà thờ Hàm Long, với mục đích cầu nguyện, xin lễ cho Việt Nam, xin các ơn ích khác, quan trọng là ơn chết lành. Cuối thư, ông loan báo đến các giáo dân rằng Mẹ Maria có thể giúp đỡ họ trong hoàn cảnh đầy lo lắng và đau thương hiện tại.[15]

Ngày 10 tháng 3 năm 1951, Trịnh Như Khuê cho gửi thư chung số 4 đến giáo dân, nội dung thư chính yếu khai mở Năm Thánh, ban ơn Toàn xá cho tín hữu trong năm 1951 tại Địa phận Hà Nội, theo quyết định chung của giáo hội Hoàn vũ. Trong thư, ông nhận định thời điểm hiện tại tràn lan sự vô đạo và ngập tràn tội lỗi, chính vì thế khuyên nhủ giáo dân hãy ăn năn sám hối.[18] Hơn một tuần sau đó, ngày 19 tháng 3, giám mục Khuê tiếp tục gửi Thư Chung thứ 5 cho toàn thể tín hữu Địa phận Hà Nội. Nội dung chính trong thư, ông loan báo về việc tôn kính Thánh Giuse làm quan thầy Địa phận và dâng Địa phận cho ông thánh này. Nói về lý do hình thành ý định về việc này, Trịnh Như Khuê cho biết ý định đã đến từ vị tiền nhiệm là giám mục Phaolô Phanxicô Phước và nay ông hoàn thành. Nhân dịp tôn kính Giuse, ông nhắc nhở giáo dân thực hiện các nghi thức quen làm theo truyền thống: đọc kinh cầu Giuse mỗi tuần vào ngày thứ tư, làm việc tháng Giuse cách sốt sắng, mừng các lễ về Giuse cách long trọng. Ngoài ra, giám mục Khuê cũng loan báo, tuân theo chỉ thị từ Tòa Thánh về việc tổ chức mỗi năm một ngày trẻ em với quy định giáo dân sẽ cầu nguyện và hỗ trợ tiền của trợ giúp hội Thánh Nhi (hội Tiểu nhi) cũng như nhật ký truyền giáo để hỗ trợ việc truyền giáo. Sau khi họp với các linh mục có liên quan, cho rằng mỗi ngày một năm là ít, giám mục Khuê công bố ngày này tổ chức vào ngày 15 hàng tháng làm ngày hỗ trợ truyền giáo, còn ngày trẻ em tổ chức mỗi tháng vào ngày thứ tư đầu tiên. Trong thư, ông cũng công bố nghi thức dâng địa phận cho Thánh Giuse vào ngày 3 tháng 4 năm 1951, đồng thời nhắc nhở các linh mục khai mở nhiều nghi thức khác nhau cho giáo dân tham dự trước ngày cử hành nghi thức này.[12] Trong thư chung số 6 được viết ngày 8 tháng 5, giám mục Trịnh Như Khuê quyết định quy định hóa việc quản lý tài sản của giáo xứ, cũng như cách thức khai báo riêng về tài sản của cá nhân linh mục. Trong thư này, ông cũng quy định về bổn phận các linh mục cử hành lễ giúp Nhà chung. Các điều lệ này được ấn định và có hiệu lực chính thức vào ngày 1 tháng 6 năm 1951.[19]

Với Thư chung số 7 gửi giáo dân Địa phận Hà Nội đề ngày 13 tháng 6 năm 1951, Trịnh Như Khuê loan báo và hệ thống hóa lại các trường đào tạo tu sĩ của Địa phận. Cụ thể, ông trao lại quyền quản lý Đại chủng viện cho Hội Linh mục Xuân Bích, tiểu chủng viện về Hà Nội, đặt tên là Tiểu chủng viện Piô XII, Tràng Tập tạm quyết mở ở Hoàng Nguyên, muốn học tại đây cần bằng bổ túc hoặc các bằng tương đương, còn dưới bậc này sẽ học tại các trường tư thụ thuộc các giáo xứ. Trong thư, vị giám mục địa phận Hà Nội cũng bày tỏ sự trăn trở của mình về vấn đề làm sao có đủ linh mục như lòng mong ước của linh mục và giáo dân. Chính vì thế, Trịnh Như Khuê kêu gọi các tầng lớp giáo hữu hãy cầu nguyện, hỗ trợ để ngày càng có nhiều người theo con đường tu trì.[20] Nhằm mục đích loan báo tin mong muốn các tầng lớp giáo dân thành lập Đạo binh Đức Bà Maria (Legio Mariae), Trịnh Như Khuê viết thư chung số 8 ngày 19 tháng 6. Hội đoàn này nhằm mục đích cùng Giáo hội Công giáo chống lại ma quỷ và sự thế tục hóa. Trong phần phục lục thư chung này, Trịnh Như Chung viết chi tiết về hội đoàn: giảng giải nguồn gốc hội đoàn, cơ cấu tổ chức, các hoạt động, cờ hiệu,...[21]

Tháng 7 năm 1951, Trịnh Như Khuê quyết định phân chia Địa phận Hà Nội ra thành 29 giáo hạt để tiện quản lí. Tỉnh Hà Đông có 12 địa hạt, Hà Nam 9 địa hạt, Nam Định 5 địa hạt, Hòa Bình 3 địa hạt. Nói về việc phân chia địa phận, Trịnh Như Khuê cho biết ông chia theo ranh giới hành chính, mỗi điạ hạt tránh nằm ở các tỉnh khác nhau, các phủ huyện cũng được xem xét để tránh phải liên kết các giáo xứ khác phủ huyện. Trụ sở mỗi địa hạt, ông quy định rằng nơi đây phải dễ tụ họp, có lịch sử lâu đời. Bản dự định phân chia này, ông mong được các linh mục đóng góp ý kiến.[22]

Trong khuôn khổ thư chung số 10 gửi tín hữu địa phận Hà Nội đề ngày 20 tháng 9 năm 1951, Trịnh Như Khuê cho thành lập lập Ban cứu tế và Quỹ cứu tế địa phận vào tháng 9 cùng năm với mục đích hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn trong thời kỳ chiến tranh đầy gian khổ. Ông quyết định chọn ngày 10 hàng tháng làm Ngày cứu tế Địa phận Hà Nội, nhằm mục đích quyên tiền cho các quỹ cứu tế của từng giáo xứ cũng như địa phận. Để quỹ được nhiều đóng góp, giám mục Khuê kêu gọi mọi tầng lớp tín hữu cùng chung tay đóng góp, hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn bằng cách trích dẫn các câu chuyện Kinh Thánh. Trong thư, Trịnh Như Khuê cũng nhắn nhủi lời an ủi đến các hoàn cảnh đang khó khăn, động viên họ trông đợi, tin cậy Thiên Chúa để từng bước bượt qua khó khăn.[23] Trong thời kỳ này, ông cũng cho củng cố nhiều hội đoàn Công giáo như Hội Đức Trinh nữ Mẹ Chúa Trời, Hội trợ cấp cho chủng viện, Hội Đức Bà lên trời, Đạo binh Đức Bà Maria,...[5] Từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 11 năm 1951 tại Hà Nội, các giám mục Đông dương nhóm họp, đồng thời ký thư chung mang nội dung phân tích sự xung khắc giữa giáo hội và cộng sản. Giám mục Trịnh Như Khuê cũng ký thư này.[24]

Những ngày làn sóng di cư bùng nổ, Trịnh Như Khuê ra hình phạt "treo chén" các linh mục di cư, bỏ lại giáo dân. Nhờ biện pháp này, địa phận Hà Nội dù có địa điểm ra Hải Phòng để di cư rất thuận lợi cũng chỉ có khoảng 6 trên 20 vạn giáo dân và 100 trên tổng số 168 linh mục vào Nam, tỷ lệ thấp hơn nhiều so với các địa phận khác. Ông cũng là một trong số ít giám mục còn lại ở miền Bắc sau năm 1955.[5]

Sau thời điểm giáo dân di cư 1954[sửa | sửa mã nguồn]

Linh mục Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương được Giám mục Trịnh Như Khuê chọn làm Quản lý Nhà Chung Địa phận Hà Nội. Khi nêu lên cảm nghĩ với linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang, giám mục Khuê bày tỏ ông không hài lòng linh mục Sang luôn luôn xin lỗi và hài lòng về linh mục Cương, vốn "cứng đầu", phù hợp khi tranh luận với chính quyền mang lại lợi ích cho Địa phận. Về sau, chính giám mục Khuê đề nghị Tòa Thánh chọn linh mục Nguyễn Tùng Cương làm giám mục chính tòa Giáo phận Hải Phòng.[25]

Năm 1954, giáo dân miền Bắc Việt Nam di cư ồ ạt, chỉ riêng Địa phận Hà Nội tương đối "ổn định" vì vị giám mục địa phận quyết định ở lại miền Bắc, nên giáo dân cùng giáo sĩ quyết định ở lại cùng. Giám mục Khuê cũng đưa các linh mục giáo sư, các linh mục giỏi ở lại quanh mình hoặc ở các địa bàn quan trọng, như các linh mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn, Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, Phaolô Lê Đắc Trọng. Sau ngày tiếp quản thủ đô, giám mục Trịnh Như Khuê tiếp kiến Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng, trong cuộc gặp ông nêu rõ mong muốn sẽ chứng minh cho thế giới thấy rằng, chính thể Cộng sản và Công giáo đều có thể chung sống. Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoan nghênh thái độ này. Ý kiến chung sống có lẽ ảnh hưởng từ linh mục Phạm Hân Quynh, vốn du học châu Âu, từng đi thăm mô hình "chung sống" tại Syracuse, Italia.[26] Ngày 3 tháng 12 năm 1954, Giám mục Trịnh Như Khuê yết kiến Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ở biệt điện.[5] Từ sau ngày Hà Nội về tay chính quyền mới, nhận thấy việc học hỏi giáo lý Công giáo bị đình trệ, giám mục Khuê cho khai mở lớp học giáo lý cho các giáo dân với mục đích củng cố niềm tin. Lớp học ban đầu tổ chức tại trường Dũng Lạc, sau đó dạy tại trường Thánh Mẫu đến năm 1971.[27]

Trong hoàn cảnh Địa phận Hải Phòng và Bắc Ninh thiếu giám mục quản lý, tháng 2 năm 1955, Khâm sứ Tòa Thánh Dooley cho mời linh mục Phêrô Maria Khuất Văn Tạo và đề nghị ông này làm Giám mục Giám quản. Linh mục Tạo từ chối lời mời. Giám mục Trịnh Như Khuê khi biết tin có ý kiến về việc này: Nhận đi thôi may ra “còn kéo được ít linh mục ở lại. Kẻo chậm về họ đi hết mất mà khó khăn đấy”.[28] Tháng 3 cùng năm, vì có thái độ tiêu cực với Đại hội Những người Công giáo Yêu Tổ Quốc, Yêu Hòa Bình, giám mục Khuê bị ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội mời ra làm việc.[29]

Linh mục Phêrô Phạm Bá Trực tham gia tích cực vào các phong trào Công giáo yêu nước. Khi ông qua đời ngày 5 tháng 10 năm 1954, các tin đồn về việc ông bị đình chỉ tác vụ linh mục lan rộng. Trong bức thư gửi đến Khâm sứ Tòa Thánh Dooley ngày 5 tháng 9 năm 1955, giám mục Trịnh Như Khuê xác nhận rằng linh mục Phạm Bá Trực tham gia phong trào yêu nước với phép của giám mục tiền nhiệm Chaize Thịnh còn linh mục Vũ Xuân Kỷ có thể tự ý ra đi. Trong thư, vị giám mục Hà Nội xác nhận rằng ông và vị tiền nhiệm chưa bao giờ đình chỉ tác vụ linh mục của linh mục Phạm Bá Trực cũng như Vũ Xuân Kỷ.[30]

Sau 5 năm không viết Thư Chung gửi tín hữu Địa phận Hà Nội, Trịnh Như Khuê viết thư chung số 11 đề ngày 18 tháng 7 năm 1956 nói về lòng yêu thương. Trong thư, ông phân tích cặn kẽ bằng những trích dẫn Kinh Thánh và các câu chuyện Công giáo nói về những luận điểm chính như: Đức tính yêu người, Giới răn Yêu người, Dây thân ái trong Hội Thánh và Hy sinh - Của nuôi Tình yêu và Ảnh Chịu Nạn. Nhìn chung, qua Thư Chung này, giám mục Khuê tha thiết kêu gọi giáo dân hãy tuân theo lời Thiên Chúa dạy: Hãy yêu thương nhau.[31] Lá thư này ảnh hưởng vượt ngoài biên giới Địa phận Hà Nội, lan đến toàn Giáo hội Công giáo miền Bắc. Để làm theo bức thư này, nhiều nơi các linh mục tổ chức các buổi sám hối công khai với mục đích có địa điểm để giáo dân xin lỗi nhau nếu đã từng đấu tố nhau trong thời cải cách ruộng đất và trả lại tài sản từng bị lấy từ các gia đình địa chủ.[26] Trong thời gian sửa sai chính sách cải cách ruộng đất, với không khí cởi mở, giám mục Khuê dành thời gian đi kinh lý khắp các xứ họ của địa phận Hà Nội kể cả các xứ giáo dân người Mường. Những chuyến thăm mục vụ trong thời kỳ chiến tranh gặp nhiều khó khăn: Nhiều chuyến đi xe tiền trạm xe giám mục gặp mìn, những chuyến thăm mục vụ đã lên lịch phải hủy bỏ. Nhật kí mục vụ Trịnh Như Khuê ghi chép lại tỉ mỉ: Ngày 10 tháng 11 năm 1956 định đi Mạc Thượng, không vào được; Ngày 29 tháng 11 năm 1956, không đi thăm Khoan Vỹ, Công Xá, Phú Đa như đã định trước". Những dòng cuối cùng trong quyển nhật ký mục vụ của Giám mục Khuê kể về ngày 16 tháng 4 năm 1957: hồi 14 giờ trở về Hà Nội, qua Phủ Lý; đến Ngô Tư Vọng bị khám giấy và bị tước giấy. Kể từ lúc này, Trịnh Như Khuê chỉ được ở trong Toà Giám mục và không được phép rời khỏi đó. Chia sẻ về những khó khăn của Giám mục Khuê, Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang sau này cho biết rằng cả hai vị hồng y họ Trịnh đều lấy sân thượng Toà Giám mục là nơi đi dạo để rèn luyện thân thể và suy tư đến nỗi có hẳn một vòng bầu dục vết chân trên sân thượng và gọi đó là vòng chân Đức Hồng y.[5]

Trong một lần tiếp kiến thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng, thủ tướng đề nghị lập một ủy ban làm sợi dây liên lạc giữa Nhà Nước và Giáo hội Công giáo. Nhận được lời đề nghị này, giám mục Trịnh Như Khuê đề cử linh mục Thư ký Phạm Hân Quynh làm đại diện phía Giáo hội và Thủ tướng chỉ định luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, một giáo dân Công giáo miền Nam tập kết ra Bắc đóng vai trò đại diện phía Nhà Nước. Tuy vậy, giám mục Khuê không đồng tình với việc chọn ông Vĩnh, và đề nghị thủ tướng bổ nhiệm nhân vật không phải là tín hữu Công giáo. Sự việc vì thế bất thành. Có ý kiến cho rằng thái độ của Giám mục Trịnh Như Khuê gây khó khăn và làm lỡ cơ hội bắc được nhịp cầu cảm thông giữa hai phía. Sau cùng thì Uỷ ban Liên lạc những người Công giáo yêu Tổ quốc Hòa bình được thiết lập. Đứng đầu tổ chức là linh mục Vũ Xuân Kỷ, thuộc địa phận Hà Nội, cùng tham gia còn có linh mục khác thuộc địa phận là Nguyễn Tất Niên. Cả hai linh mục này bị giám mục Khuê đình chỉ thi hành tác vụ linh mục.[26]

Ngày 25 tháng 3 năm 1957, tại nhà nguyện Fatima thuộc khuôn viên Tòa Tổng Giám Mục, Trịnh Như Khuê cho mở lớp đào tạo giáo dân làm công tác truyền giáo với tên gọi "Giảng bổn viên". Lễ khai mở lớp học còn có sự tham gia của linh mục Tổng đại diện Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh, các linh mục Phêrô Nguyễn Văn Thông, Giuse Nguyễn Ngọc Oánh và chủng sinh Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang cùng đông đảo giáo dân. Lớp này được giao cho linh mục Nguyễn Ngọc Oánh quản lý. Tuy vậy, gần hai năm sau, ngày 31 tháng 1 năm 1959, linh mục Vinh đi tù còn linh mục Thông và một số giáo dân bị đưa đi cải tạo. Riêng linh mục Nguyễn Ngọc Oánh bị quản thúc. Từ đó, việc dạy học giáo lý chỉ còn bó hẹp trong các giáo xứ, qua việc quản lý của các ông trùm, bà quản hoặc các giáo lý viên với các việc đơn giản là dạy kinh, bổn thuộc lòng.[27]

Trong thời kỳ khó khăn, giám mục Trịnh Như Khuê cũng gọi các nữ tu Dòng Mến Thánh Giá Hà Nội đến Tòa giám mục chép kinh để phục vụ cho công tác giảng dạy giáo lý thầm lặng của các cộng tác viên tại giáo xứ. Ông cũng tham gia soạn thảo kinh, bổn nhằm cung cấp tài liệu giảng dạy. Các bản thảo của giám mục Khuê được các nữ tu chép lại, đóng cuốn, phân phát cho các công tác viên. Việc giấu kín các tài liệu này sau khi nhận từ Tòa giám mục cũng gặp khó khăn, đôi lúc tài liệu bị tịch thu.[27]

Ngày 24 tháng 1 năm 1959, Giám mục Trịnh Như Khuê ra thông cáo nhận tượng Đức Mẹ ở Quảng trường Nhà thờ Lớn là tượng Đức Mẹ Hà Nội và dâng nhà thờ Cửa Bắc là nhà thờ Đức Mẹ Hà Nội. Ông soạn kinh Đức Mẹ Hà Nội, mời gọi giáo dân làm đơn xin nhận Đức Mẹ là quan thầy thành phố và ông ký đơn thỉnh cầu Toà Thánh. Ngày 18 tháng 2 cùng năm, ông khai mạc Năm thánh Đức Mẹ Hà Nội. Sau đó ít tháng, ngày 30 tháng 6, Trịnh Như Khuê khai mở tuần tam nhật mừng lễ Đức Mẹ Hà Nội. Ngày 18 tháng 4 khi kiệu đến tượng đức Mẹ Hà Nội, đọc kinh Đức Mẹ Hà Nội, ông cử hành nghi thức "xin phép" Đức Mẹ gọi thành phố Hà Nội là thành phố Đức Mẹ.[5]

Giám mục Trịnh Như Khuê cũng nổi tiếng với những buổi lễ phong chức "chui". Lễ tấn phong Giám mục cho Giám mục tân cử Đa Minh Đinh Đức Trụ (Hạt Đại diện Tông Tòa Thái Bình) do ông chủ sự ngày 25 tháng 3 năm 1960 cũng là ngoại lệ. Tân giám mục Đa Minh Trụ giả làm ông đạp xích lô từ Thái Bình lên Hà Nội gặp giám mục Chủ phong Trịnh Như Khuê trong buồng áo. Nghi lễ diễn ra chỉ có hai người. Sau đó giám mục Đinh Đức Trụ lại đạp xe sang Bùi Chu tấn phong giám mục "chui" cho tân Giám mục Giuse Maria Phạm Năng Tĩnh trong một chiếc thuyền chài.[5]

Đến ngày 24 tháng 11 năm 1960, Toà Thánh thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam. Giám mục Tông tòa Giuse Maria Trịnh Như Khuê được thăng làm Tổng giám mục đô thành Tiên khởi của Tổng giáo phận Hà Nội.[32][33]

Thời kỳ Tổng giám mục Hà Nội (1960 - 1978)[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vị Tổng giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1960, cùng với sự thành lập Hàng giáo phẩm Việt Nam, giám mục Trịnh Như Khuê trở thành Tổng giám mục Tiên khởi của Tổng giáo phận Hà Nội. Chưa đầy 3 năm sau, ngày 2 tháng 6 năm 1963, Tổng giám mục Trịnh Như Khuê bất ngờ phong chức Tổng giám mục phó với quyền kế vị cho linh mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn. Lý do được đưa ra theo thông cáo của tòa Tổng Giám mục Hà Nội ngày 3 tháng 6 năm 1963 là:

"Sự truyền chức cho Giám mục Phó, Đức Tổng Giám mục vẫn nghĩ còn lâu mới làm, và không biết là bao giờ, nhưng chúa nhật ngày 26 tháng 5 năm 1963, tự nhiên Đức Tổng Giám mục thấy mình trở nên lòa, hầu như mù vậy, chữ viết trên mặt đồng hồ không còn trông thấy nữa, trông ra ngoài sân không còn trông rõ cây và sân cỏ, khi ăn cơm không còn trông rõ bát, bệnh lại tiến lên nhanh lắm, Người nghĩ rằng sẽ mù hẳn... Trong lúc ấy, Người chẳng nghĩ đến việc chạy chữa thuốc men, chỉ nghĩ đến sự truyền chức cho Giám mục Phó, và kêu xin Chúa cho bệnh giảm đi, ít là trông rõ chữ để truyền chức. Sau khi ăn cơm xong mấy phút, bệnh đã giãn ra, Người đã trông rõ như trước, nhưng sợ bệnh trở lại, Người đã vội vàng truyền chức cho Giám mục Phó..."[34]

Tuy sức khỏe kém, nhưng Tổng giám mục Khuê vẫn tiếp tục điều hành giáo hội tại miền Bắc. Tháng 5 năm 1974, ông được Tòa Thánh mời dự Hội đồng Giám mục thế giới, nhưng với lý do sức khỏe, ông đã cử Tổng Giám mục phó Giuse Maria Trịnh Văn Căn đi thay cùng với linh mục thư ký Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang tháp tùng.[35]

Thăng tước Hồng y (1976-1978)[sửa | sửa mã nguồn]

Phần mộ của Hồng y Giuse Maria Trịnh Như Khuê

Đánh giá cao những nỗ lực của vị Tổng giám mục Hà Nội, sau khi Việt Nam thống nhất, ngày 28 tháng 4 năm 1976, Giáo hoàng Phaolô VI chọn Tổng giám mục Trịnh Như Khuê làm Hồng y in pectore và công bố vào ngày 24 tháng 5 cùng năm.[2][3] Việc hoãn công bố chính thức Tân Hồng y Việt Nam là nhằm mục đích chờ vị hồng y có thể được cấp phép rời Việt Nam đến Rôma và công bố chính thức tại buổi lễ.[3] Thực tế, ông được chính quyền chấp thuận cho xuất cảnh vào những thời hạn gần chót.[36] Hồng y Trịnh Như Khuê là Hồng y đầu tiên của Việt Nam, với tước vị Hồng y linh mục nhà thờ San Francesco di Paola ai Monti.[4] Sau khi trở về Việt Nam, hồng y Khuê tiếp kiến thủ tướng Phạm Văn Đồng vào ngày 31 tháng 8 cùng năm.[37] Ngày 10 tháng 9 năm 1977, ông cùng Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình tham gia Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới.[38]

Ngày 6 tháng 8 năm 1978, Giáo hoàng Phaolô VI qua đời.[39] Sau khi giáo hoàng qua đời, Hồng y Khuê sang Rôma dự tang lễ và với tư cách thành viên trong Hồng y đoàn, ông dự mật nghị hồng y bầu Giáo hoàng mới là Giáo hoàng Gioan Phaolô I. Nhưng chưa kịp về lại Việt Nam, Tân Giáo hoàng Gioan Phaolô I qua đời[40] và ông phải ở lại Vatican để tiếp tục tham gia mật viện bầu Giáo hoàng – và lần này là Giáo hoàng Gioan Phaolô II vào ngày 16 tháng 10.[41] Như vậy, Hồng y Trịnh Như Khuê là người đầu tiên của Việt Nam đã tham dự hai lần bầu Giáo hoàng.[42]

Ngày 25 tháng 11 năm 1978, Hồng y Khuê về đến Hà Nội. Tối ngày 26 tháng 11, ông dâng lễ và chủ sự chầu Thánh thể ở Nhà thờ Lớn Hà Nội. Tối ngày 27, ông đột ngột qua đời, thọ 79 tuổi, sau 28 năm làm giám mục, 2 năm với tước vị hồng y. Câu nói cuối cùng của ông trước khi tắt thở là: Chịu lễ. Cái chết bất ngờ của vị hồng y làm rộ lên những nghi vấn, nhưng pháp y khẳng định ông bị nhồi máu cơ tim.[1][5]

Lễ tang của ông được tổ chức vào ngày 30 tháng 11 do Tổng Giám mục kế vị Giuse Maria Trịnh Văn Căn chủ sự cùng đồng tế với 11 giám mục, 50 linh mục. Hai vạn giáo dân đã đến quảng trường Đức Mẹ Hà Nội tiễn đưa vị giám mục của họ.[5] Mộ phần ông đặt tại gian chính nhà thờ chính tòa Hà Nội.[43], ngay dưới bậc tam cấp giữa nhà thờ dẫn lên cung thánh, đó cũng là ước nguyện của ông, nhắc nhớ khi giáo dân lên rước lễ, đặt chân lên phần mộ của ông thì hãy nhớ đến ông và cầu nguyện.[44]

Sau khi Trịnh Như Khuê qua đời hơn 20 năm, năm 2000, tên ông được đặt làm tên đường ở Huyện Bình Chánh dài 2,6 km, vốn là một đường xe lửa cũ.[45]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Viết trong sách Nhân Vật Công Giáo Việt Nam (tập 4) - Các Vị Giám Mục Một Thời Đã Qua (1933-1995), Lê Ngọc Bích đưa ra nhận định về Hồng y Trịnh Như Khuê:[7]

Tông truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng y - Tổng giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê, được tấn phong giám mục năm 1950, dưới thời Giáo hoàng Piô XII, bởi:[16]

Hồng y - Tổng giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê là Chủ phong nghi thức truyền chức cho các giám mục:[16]

Hồng y - Tổng giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê là Phụ phong nghi thức truyền chức cho giám mục:[16]

Tóm tắt chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
François Chaize Thịnh
Đại diện Tông Tòa Đại diện Tông Tòa Hà Nội
1950 - 1960
Kế nhiệm:
Chức vụ bãi bỏ
Tiền nhiệm:
Joannes van Cauwenbergh
Giám mục Hiệu tòa Synaus, Thổ Nhĩ Kỳ[46]
1950 - 1960
Kế nhiệm:
Leo-Karel Jozef De Kesel
Tiền nhiệm:
Tiên khởi
Tổng giám mục đô thành
Tổng giáo phận Hà Nội

1960 - 1978
Kế nhiệm:
Giuse Maria Trịnh Văn Căn
Tiền nhiệm:
Joannes van Cauwenbergh
Hồng y Hiệu tòa Nhà thờ
S. Francesco di Paola ai Monti[47]

1976 - 1978
Kế nhiệm:
Leo-Karel Jozef De Kesel

Thứ tự bổ nhiệm - tấn phong giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần VII
Đa Minh Hoàng Văn Đoàn
12 tháng 3 năm 1950
Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần VIII
Giuse Maria Trịnh Như Khuê

18 tháng 4 năm 1950
Kế nhiệm:
Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần IX
Gioan Baotixita Trần Hữu Ðức
14 tháng 6 năm 1950
Tiền nhiệm:
Giám mục người Việt thứ 6 được tấn phong
Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi
4 tháng 8 năm 1950
Giám mục người Việt thứ 7 được tấn phong
Giuse Maria Trịnh Như Khuê

15 tháng 8 năm 1950
Kế nhiệm:
Giám mục người Việt thứ 8 được tấn phong
Đa Minh Hoàng Văn Đoàn
3 tháng 9 năm 1950

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn

  1. ^ a ă â b c “Ðức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Như Khuê Nguyên Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội”. Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 6 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2019. 
  2. ^ a ă “The Cardinals of the Holy Roman Church Biographical Dictionary Paul VI (1963-1978) Consistory of May 24, 1976 (V)”. Web Dept. Bản gốc lưu trữ Ngày 12 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2019. 
  3. ^ a ă â “Die Apostolische Nachfolge”. Apostolische-Nachfolge. Bản gốc lưu trữ Ngày 12 tháng 2 năm 2019. Truy cập Ngày 12 tháng 2 năm 2019. 
  4. ^ a ă “Các Đức Giám mục chính tòa TGP Hà Nội”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 6 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 6 tháng 3 năm 2019. 
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g “Đức Hồng y tiên khởi của Việt Nam: G.M Trịnh Như Khuê”. Việt Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 6 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2019. 
  6. ^ a ă â b c d đ e “HY GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ”. Truyền Tin. Bản gốc lưu trữ Ngày 26 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 26 tháng 3 năm 2019. 
  7. ^ a ă â b c d đ e “Nhân Vật Công Giáo Việt Nam (tập 4) - Các Vị Giám Mục Một Thời Đã Qua (1933-1995) CHƯƠNG MỘT : TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI”. Dũng Lạc. Truy cập Ngày 29 tháng 4 năm 2019. 
  8. ^ “Lại chuyện đất đai Tòa Khâm Sứ cũ ""Biết rồi, khổ lắm, nói mãi"". Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 19 tháng 4 năm 2019. 
  9. ^ a ă “Thánh lễ giỗ 19 năm Đức Cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn”. Công giáo Việt Nam. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2019. 
  10. ^ “Thánh lễ kỷ niệm 65 năm thành lập Legio Mariae Tổng Giáo Phận Hà Nội”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 27 tháng 3 năm 2019. 
  11. ^ Nguyễn, Văn Sang (1990). Kỷ niệm Đức HY Trịnh Văn Căn (dày 156 trang). Lưu hành nội bộ. tr. 14. 
  12. ^ a ă “Thư chung ngày 19/3/1951 của Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 1 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 1 tháng 4 năm 2019. 
  13. ^ “Những Ngày Đáng Nhớ Trong Tổng Giáo Phận Hà Nội”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 26 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 26 tháng 3 năm 2019. 
  14. ^ “Thư chung ngày 22/7/1950 của Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 27 tháng 3 năm 2019. 
  15. ^ a ă â b “Thư chung ngày 01/11/1950 của Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 29 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 29 tháng 3 năm 2019. 
  16. ^ a ă â b “Joseph Marie Cardinal Trinh-nhu-Khuê † Archbishop of Hà Nội, Viet Nam, Cardinal-Priest of San Francesco di Paola ai Monti”. Bản gốc lưu trữ Ngày 6 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 6 tháng 3 năm 2019. 
  17. ^ a ă “Thư chung ngày 08/9/1950 của Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 26 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 26 tháng 3 năm 2019. 
  18. ^ “Thư chung ngày 10/3/1951 của Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 31 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 31 tháng 3 năm 2019. 
  19. ^ “Thư chung ngày 08/5/1951 của Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 5 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 5 tháng 4 năm 2019. 
  20. ^ “Thư chung số 7 của Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê ngày 13/6/1951”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 6 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 6 tháng 4 năm 2019. 
  21. ^ “Thư chung số 8 của Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê ngày 19/6/1951”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 8 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 8 tháng 4 năm 2019. 
  22. ^ “Thư chung số 9 của Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê ngày 02/7/1951”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 9 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 9 tháng 4 năm 2019. 
  23. ^ “Thư chung số 10 của Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê ngày 20/9/1951”. Bản gốc lưu trữ Ngày 13 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 13 tháng 4 năm 2019. 
  24. ^ “Thực Trạng Giáo Hội Thiên Chúa Giáo miền Bắc từ 1945-1975 (I)”. Sài Gòn Echo. Bản gốc lưu trữ Ngày 26 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 26 tháng 3 năm 2019. 
  25. ^ “Khổ thân Đức Cha Nguyễn Tùng Cương”. Viet Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 23 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 23 tháng 4 năm 2019. 
  26. ^ a ă â “Thái độ của các giám mục Miền Bắc đối với cộng sản từ 1945 đến 1975”. Trung tâm Văn hóa Nguyễn Trường Tộ. Bản gốc lưu trữ Ngày 26 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 26 tháng 3 năm 2019. 
  27. ^ a ă â “Quá trình hình thành và phát triển của giáo lý viên Tổng Giáo Phận Hà Nội”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 27 tháng 2 năm 2019. 
  28. ^ “Chứng Từ Của Một Mục Tử”. Viet Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 29 tháng 3 năm 2019. 
  29. ^ “Đức Gioan XXIII với Bí mật Fatima nhìn ra nguy cơ Cộng Sản”. Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 19 tháng 4 năm 2019. 
  30. ^ “Linh mục Phạm Bá Trực- tấm gương tiêu biểu của phong trào Yêu nước nơi người Công giáo.”. Ban Tôn giáo Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Bản gốc lưu trữ Ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 27 tháng 3 năm 2019. 
  31. ^ “Thư chung số 11 của Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê ngày 18/7/1956”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 17 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 17 tháng 4 năm 2019. 
  32. ^ “A history of Vietnamese Catholic Church”. The Misscellany. Bản gốc lưu trữ Ngày 6 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 6 tháng 3 năm 2019. 
  33. ^ “Hơn 60 năm người Công giáo thủ đô đồng hành cùng dân tộc”. Ban Tôn giáo Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Bản gốc lưu trữ Ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 27 tháng 3 năm 2019. 
  34. ^ Dẫn theo Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang "Kỷ niệm về Đức Hồng y Giuse-Maria Trịnh Văn Căn", 1990, tr. 23-24.
  35. ^ Xuân Ba. “Phúc, Lộc, Thọ và "giả" của một Đức giám mục”. Vietnamnet. Bản gốc lưu trữ Ngày 5 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  36. ^ “Con đường lựa chọn”. Dân Chúa USA. Bản gốc lưu trữ Ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 19 tháng 4 năm 2019. 
  37. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 108
  38. ^ Trương Bá Cần 1996, tr. 109
  39. ^ “Vài nét về Ðức Cố Giáo hoàng Phaolô VI nhân dịp kỷ niệm 23 năm Ngài qua đời”. Taiwan Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 5 tháng 5 năm 2019. Truy cập Ngày 5 tháng 5 năm 2019. 
  40. ^ “Những nhận định của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô Ðệ Nhị về Ðức Gioan Phaolô Ðệ Nhất dịp kỷ niệm 25 năm ngày ngài được chọn làm Giáo hoàng”. Taiwan Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 5 tháng 5 năm 2019. Truy cập Ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  41. ^ “Bàn về Ý Nghĩa lịch sử sâu xa Triều Giáo hoàng vĩ đại của Ðức Gioan Phaolô II”. Taiwan Catholic. 1999. Bản gốc lưu trữ Ngày 5 tháng 5 năm 2019. Truy cập Ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  42. ^ “Số Hồng y cử tri ngày hôm nay, 05-03-2014: 121 vị”. Hội đồng Giám mục Việt Nam. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  43. ^ “Special architecture of Hanoi Cathedral”. breaking news. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2019. 
  44. ^ “Phần mộ Đức hồng y Giuse Maria Trịnh Như Khuê - Đứng trên tôi và cầu nguyện cho tôi”. Conggiao.info. Bản gốc lưu trữ Ngày 5 tháng 5 năm 2019. Truy cập Ngày 22 tháng 2 năm 2018. 
  45. ^ “Những con đường gần gũi với người Công giáo Sài Gòn”. Báo Công giáo và Dân tộc. Bản gốc lưu trữ Ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 27 tháng 3 năm 2019. 
  46. ^ “Titular Episcopal See of Synaus, Turkey”. G Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 26 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 26 tháng 3 năm 2019. 
  47. ^ “Cardinal Deaconry S. Francesco di Paola ai Monti”. G Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 26 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 26 tháng 3 năm 2019. 

Sách

  • Trương Bá Cần (1996), Công giáo Việt Nam sau quá trình 50 năm (1945 - 1995), Thành phố Hồ Chí Minh: Công giáo và dân tộc