Giuse Maria Trịnh Như Khuê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hồng y
 Giuse Maria Trịnh Như Khuê
Hồng y đầu tiên Việt Nam
Tổng giám mục chính tòa tiên khởi
Tổng giáo phận Hà Nội
HY Trịnh Như Khuê.png
Giáo tỉnh Hà Nội
Tổng giáo phận Hà Nội
Tựu nhiệm 18 tháng 4, 1950
Hết nhiệm 27 tháng 11, 1978
Tiền nhiệm François Chaize Thịnh
Kế nhiệm Giuse Maria Trịnh Văn Căn
Các chức khác Hồng y đẳng linh mục nhà thờ San Francesco di Paola ai Monti (1976–1978)
Đại diện Tông tòa Hà Nội (1950–1960)
Truyền chức
Thụ phong 1 tháng 4, 1933
Tấn phong 15 tháng 8, 1950
Thăng Hồng y 24 tháng 5, 1976
Thông tin cá nhân
Tên khai sinh Trịnh Như Khuê
Sinh 11 tháng 12, 1898
Tràng Dũ, Hà Nội, Việt Nam
Mất

27 tháng 11, 1978 (79 tuổi)

(&0000000000000018.00000018 năm, &0000000000000003.0000003 ngày)
Hà Nội
Nơi an táng Nhà thờ chính tòa Hà Nội
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Flag of the Vatican City.svg Vatican
Nơi sinh trưởng Hà Nội
Cha mẹ Trịnh Như Thành (Cha)
Alma mater Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên
trường Puginier
Đại chủng viện Kẻ Sở học Thần học.(1929 - 1933)
Khẩu hiệu Hãy theo Thầy
Cách xưng hô với
Giuse Maria Trịnh Như Khuê
Coat of arms of Joseph-Marie Trịnh Như Khuê.svg
Danh hiệu Đức Hồng Y
Trang trọng Đức Hồng Y
Thân mật Cha
Sau khi chết Đức Cố Hồng Y
Khẩu hiệu Hãy theo Thầy'
Tòa Hà Nội

Giuse Maria Trịnh Như Khuê (1898 - 1978) là một hồng y[1] thuộc Giáo hội Công giáo Rôma và là Hồng y tiên khởi của Việt Nam. Khẩu hiệu Giám mục của ông là Hãy theo thầy. Ông được sinh vào ngày 11 tháng 12 năm 1898 tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

Năm 1933, tại Kẻ Sở, Giám mục Tông Toà Hà Nội Pierre Gendreau phong chức Linh mục cho ông và bổ nhiệm ông làm Phó xứ Khoan Vĩ. Năm 1934, sau một năm ở Khoan Vĩ, linh mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê được điều về làm Giáo sư Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên. Ông dạy học tại chủng viện 7 năm. Đến năm 1951 ông được bổ nhiệm Phó xứ Hàm Long.

Năm 1947 linh mục Dépaulis về Pháp, linh mục Giuse Trịnh Như Khuê làm Chánh xứ Hàm Long, một giáo xứ lớn của Hà Nội. Với cương vị Chánh xứ, ông đã cho thành lập một tổ chức đoàn thể lấy tên "Đạo binh Đức Mẹ", còn gọi là "Đạo Binh Xanh". Tháng 2 năm 1950, một linh mục người Việt là Giuse Maria Trịnh Văn Căn đã được cử về giáo xứ Hàm Long làm Phó xứ giúp linh mục Khuê.

Ngày 18 tháng 4 năm 1950, Tòa Thánh Vatican bổ nhiệm ông làm Giám mục hiệu tòa Synaus, trở thành vị Giám mục người Việt thứ 7 của Giáo hội Việt Nam. Ông được bổ nhiệm làm Giám quản Tông tòa Giáo phận Hà Nội cũng là Giám mục người Việt Nam đầu tiên của giáo phận. Lễ tấn phong Giám mục diễn ra vào ngày 15 tháng 8 năm 1950 tại Nhà thờ Lớn Hà Nội do Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ chủ phong với hai Giám mục phụ phong là Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, Giám mục Tông Toà Giáo phận Bùi Chu và Giám mục Franciscô Gomez de Santiago, OP - Giám mục Tông Toà Hải Phòng.[2] Do có lòng sùng kính đặc biệt Đức Mẹ Maria, ông ghép thêm tên thánh của mình trở thành Giuse Maria.

Ngày 24 tháng 1 năm 1959, ông ra thông cáo nhận tượng Đức Mẹ ở Quảng trường Nhà thờ lớn là tượng Đức Mẹ Hà Nội và dâng nhà thờ Cửa Bắc là nhà thờ Đức Mẹ Hà Nội. Ông soạn kinh Đức Mẹ Hà Nội, mời gọi giáo dân làm đơn xin nhận Đức Mẹ là quan thầy thành phố và ông ký đơn thỉnh cầu Toà thánh. Ngày 18 tháng 2 cùng năm, ông khai mạc Năm thánh Đức Mẹ Hà Nội. Ngày 30 tháng 6 ông mở tuần tam nhật mừng lễ Đức Mẹ Hà Nội. Ngày 18 tháng 4 khi kiệu đến tượng đức Mẹ Hà Nội, đọc kinh Đức Mẹ Hà Nội, ông xin phép Đức Mẹ gọi thành phố Hà Nội là thành phố Đức Mẹ.[2]

Năm 1960, cùng với sự thành lập Hàng giáo phẩm Việt Nam, ông trở thành Tổng giám mục Tiên khởi của Tổng giáo phận Hà Nội. Chưa đầy 3 năm sau, ngày 2 tháng 6 năm 1963, Tổng giám mục Trịnh Như Khuê bất ngờ phong chức Tổng giám mục phó với quyền kế vị cho linh mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn.

Ngày 28 tháng 4 năm 1976, Giáo hoàng Phaolô VI chọn ông là Hồng y in pectore và công bố vào ngày 24 tháng 5 cùng năm,[3] Giáo hoàng Phaolô VI đã vinh thăng cho ông tước vị Hồng y linh mục nhà thờ San Francesco di Paola ai Monti.[4] Ông trở thành là vị Hồng y đầu tiên của Việt Nam.

Ngày 6 tháng 8 năm 1978, Giáo hoàng Phaolô VI qua đời. Khi Giáo hoàng Phaolô VI qua đời vào ngày, Hồng y Khuê sang Rôma dự tang lễ và với tư cách thành viên trong Hồng y đoàn, ông dự mật nghị Hồng y bầu Giáo hoàng mới là Giáo hoàng Gioan Phaolô I. Nhưng chưa kịp về lại Việt Nam, Tân Giáo hoàng Gioan Phaolô I qua đời và ông phải ở lại Vatican để tiếp tục tham gia mật viện bầu Giáo hoàng – và nay là Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Như vậy, Hồng y Trịnh Như Khuê là người đầu tiên của Việt Nam đã tham dự hai lần bầu Giáo hoàng.[5]

Ngày 25 tháng 11 năm 1978 ông về đến Hà Nội. Tối ngày 26 tháng 11, ông dâng lễ và chủ sự chầu Thánh thể ở Nhà thờ lớn Hà Nội. Tối ngày 27, ông đột ngột qua đời, thọ 79 tuổi, sau 28 năm làm Giám mục, 2 năm thụ chức Hồng y. Pháp y khẳng định ông bị nhồi máu cơ tim. Ba ngày sau, lễ tang của ông được tổ chức, do Tổng Giám mục kế vị Trịnh Văn Căn chủ sự cùng đồng tế với 11 Giám mục, 50 linh mục. Hai vạn giáo dân đã đến quảng trường Đức Mẹ Hà Nội tiễn đưa ông.[2]

Thiếu thời & Tu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 11 tháng 12 năm 1898 tại làng Tràng Duệ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam,[1] là con trai trưởng trong gia đình Công giáo có 10 anh chị em.[2] Cha ông là cụ Trịnh Như Thành, một nhà Nho, không thành đạt trong khoa cử, mở trường dạy chữ Hán ở quê nhà.[6]

Con đường tu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Thấy ông có chí đi tu, linh mục chánh xứ Thông nhận ông làm con nuôi và ông được giới thiệu vào tu tập tại Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên. Sau khi mãn khóa, ông làm một thầy giảng, được phân công về Nhà thờ Hàm Long (Hà Nội). Linh mục chánh xứ là Dépaulis giới thiệu ông vào học tiếp tại trường Puginier, một trường tư thục Công giáo do các tu sĩ Dòng La San điều hành. Sau khi mãn khóa, ông được vào Đại chủng viện Kẻ Sở học Triết học. Ngày 20 tháng 5 năm 1925, Giáo hoàng Piô XI thiết lập Khâm sứ Tòa thánh tại Việt Nam và cử Giám mục Constantino Ayuti làm Khâm sứ đại diện Tòa Thánh. Thầy giảng Giuse Trịnh Như Khuê được Giám mục Tông Toà Hà Nội Pierre Gendreau Phú đề cử làm thông ngôn cho Khâm sứ Toà Thánh Ayuti, tháp tùng ông này đi kinh lược.[6]

Sau khi Khâm sứ Ayuti qua đời tại Sài Gòn ngày 29 tháng 7 năm 1928, ông trở về Hà Nội và đi giúp xứ Kẻ Noi.[7] Một năm sau, ông được gọi về Đại chủng viện Kẻ Sở học Thần học.[6]

Thời gian làm linh mục (1933 - 1950)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 4 năm 1933, tại Kẻ Sở, Giám mục Hà Nội Pierre Gendreau phong chức Linh mục cho Thầy giảng Giuse Maria Trịnh Như Khuê[1] và bổ nhiệm ông làm Phó xứ Khoan Vĩ.[8]

Năm 1934, sau một năm ở Khoan Vĩ, linh mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê được điều về làm Giáo sư Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên. Ông dạy học tại chủng viện 7 năm. Đến năm 1941 ông được bổ nhiệm Phó xứ Hàm Long với linh mục chánh xứ là Dépaulis. Thời kỳ này, đất nước chìm đắm trong chiến tranh, nhân dân sống dưới hai tầng áp bức bóc lột thực dân Phápphát xít Nhật. Nạn đói xảy ra ở miền Bắc vào năm 1945. Linh mục Như Khuê đã cùng nhiều người tích cực các hoạt động cứu đói.

Năm 1947 linh mục Dépaulis về Pháp, linh mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê làm Chánh xứ Hàm Long, một giáo xứ lớn của Hà Nội. Với cương vị Chánh xứ, ông đã cho thành lập một tổ chức đoàn thể lấy tên "Đạo binh Đức Mẹ", còn gọi là "Đạo Binh Xanh". Tháng 2 năm 1950, một linh mục người Việt là Giuse Maria Trịnh Văn Căn đã được cử về giáo xứ Hàm Long làm Phó xứ giúp linh mục Khuê. Cả hai vị linh mục chánh và phó xứ sau này đều trở thành những vị Hồng y danh tiếng của Giáo hội Công giáo Việt Nam.[8][9]

Thời gian là Giám mục Tông Toà Hà Nội (1950 - 1960)[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Trịnh Như Khuê

Ngày 18 tháng 4 năm 1950, Tòa Thánh Vatican bổ nhiệm linh mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê làm Giám mục hiệu tòa Synaus. Ông trở thành vị Giám mục người Việt thứ 7 của Giáo hội Việt Nam. Ông được bổ nhiệm làm Giám quản Tông tòa Giáo phận Hà Nội cũng là Giám mục người Việt Nam đầu tiên của giáo phận.[1] Linh mục phó Trịnh Văn Căn lên làm thư kí toà Giám mục cho ông.[10]

Lễ tấn phong Giám mục của ông diễn ra vào ngày 15 tháng 8 năm 1950[11] tại Nhà thờ Lớn Hà Nội do Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ chủ phong với hai Giám mục phụ phong là Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, Giám mục Tông Toà Giáo phận Bùi Chu và Giám mục Franciscô Gomez de Santiago, OP - Giám mục Tông Toà Hải Phòng.[1][2] Do có lòng sùng kính đặc biệt Đức Mẹ Maria, ông ghép thêm tên thánh của mình trở thành Giuse Maria.

Một tháng sau ngày thụ phong, ông qua Roma để cảm tạ Tòa Thánh và dự lễ tuyên tín Đức Mẹ hồn xác lên trời 1 tháng 11 năm 1950. Ông cũng đến các thánh địa nổi tiếng về Đức MẹLộ Đức, Fatima để cầu nguyện cũng như ghé thăm Dublin ở Irlande - nơi sáng lập phong trào Legio Mariae để học tập, áp dụng ở Việt Nam.[2]

Trong Thư chung đầu tiên vào ngày 22 tháng 07 năm 1950, ông viết:

"Chúng ta đang sống trong một thời kỳ đau thương, những mong bình an mà chẳng thấy bình an, đau khổ đủ thứ, đau khổ cả hồn, đau khổ cả xác. Trông cậy vào ai? Nương tựa vào ai? Thiết tưởng đang đêm tối tăm, sự soi sáng cho nhân – vật đỡ tối chỉ là mặt trăng êm ái dịu dàng. Tôi muốn nói với anh chị em về Đức Mẹ…Muốn cho địa phận ta cũng được chung phần phúc ấy, tôi đã quyết định sau dịp tôi thụ phong, sẽ dâng địa phận cho trái tim vô nhiễm nguyên tội Đức Mẹ".

Tháng 7 năm 1951, ông chia giáo phận thành 29 giáo hạt để tiện coi sóc. Ông lập Ban cứu tế và Quỹ cứu tế địa phận vào tháng 9 năm 1951 để giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn. Ngoài ra, ông củng cố nhiều hội đoàn Công giáo như Hội Đức Trinh nữ Mẹ Chúa Trời, Hội trợ cấp cho chủng viện, Hội Đức Bà lên trời, Đạo binh Đức Bà Maria…

Những ngày làn sóng di cư bùng nổ, ông ra lệnh phạt "treo chén" những linh mục bỏ đàn chiên. Vì vậy, Hà Nội dù địa điểm ra Hải Phòng thuận lợi cũng chỉ có khoảng 6 vạn giáo dân (trên 20 vạn) và 100 linh mục (trên tổng số 168) vào Nam, tỷ lệ thấp hơn nhiều so với các giáo phận khác. Ông là một trong số ít Giám mục còn lại ở miền Bắc sau năm 1955.[12]

Ngày 3 tháng 12 năm 1954: ông yết kiến Hồ Chủ tịch ở biệt điện. Dù trong hoàn cảnh khó khăn mà ông vẫn đi kinh lý khắp các xứ họ của giáo phận kể cả các xứ Mường như Mường Riệc, Mường Cắt, Lạc Thổ...Có những chuyến đi, xe đi trước xe ông gặp mìn, lại những chuyến đi không thành: Ngày 10 tháng 11 năm 1956 định đi Mạc Thượng, không vào được; Ngày 29 tháng 11 năm 1956; không đi thăm Khoan Vỹ, Công Xá, Phú Đa như đã định trước". Trong nhật ký ngày 16 tháng 4 năm 1957, ông viết: hồi 14 giờ trở về Hà Nội, qua Phủ Lý; đến Ngô Tư Vọng bị khám giấy và bị tước giấy. Từ đây, nhật ký mục vụ chấm dứt. Ông chỉ được ở Toà Giám mục và không được đi nơi khác. Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang nói rằng cả hai vị Hồng y họ Trịnh đều lấy sân thượng Toà Giám mục là nơi đi dạo để rèn luyện thân thể và suy tư đến nỗi có hẳn một vòng bầu dục vết chân trên sân thượng và gọi đó là vòng chân Đức Hồng y.[2]

Ngày 24 tháng 1 năm 1959, ông ra thông cáo nhận tượng Đức Mẹ ở Quảng trường Nhà thờ lớn là tượng Đức Mẹ Hà Nội và dâng nhà thờ Cửa Bắc là nhà thờ Đức Mẹ Hà Nội. Ông soạn kinh Đức Mẹ Hà Nội, mời gọi giáo dân làm đơn xin nhận Đức Mẹ là quan thầy thành phố và ông ký đơn thỉnh cầu Toà thánh. Ngày 18 tháng 2 cùng năm, ông khai mạc Năm thánh Đức Mẹ Hà Nội. Ngày 30 tháng 6 ông mở tuần tam nhật mừng lễ Đức Mẹ Hà Nội. Ngày 18 tháng 4 khi kiệu đến tượng đức Mẹ Hà Nội, đọc kinh Đức Mẹ Hà Nội, ông xin phép Đức Mẹ gọi thành phố Hà Nội là thành phố Đức Mẹ.[2]

Lễ tấn phong Giám mục Đa Minh Đinh Đức Trụ (Giáo phận Thái Bình) do ông chủ sự ngày 25 tháng 3 năm 1960 cũng lắm lạ kỳ. Tân giám mục Đa Minh Trụ giả làm ông đạp xích lô từ Thái Bình lên Hà Nội gặp ông trong buồng áo. Nghi lễ diễn ra chỉ có hai người. Rồi Giám mục "chui" Trụ lại đạp xe sang Bùi Chu tấn phong "chui" cho tân Giám mục Giuse Maria Phạm Năng Tĩnh trong một chiếc thuyền chài…[2]

Đến ngày 24 tháng 11 năm 1960, Toà Thánh Vatican thành lập các tòa Giám mục chính tòa tại Việt Nam. Giám mục Tông tòa Giuse Maria Trịnh Như Khuê được thăng làm Tổng Giám mục đầu tiên của Tổng giáo phận Hà Nội.[1][13]

Thời gian là Tổng giám mục Hà Nội (1960 - 1978)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1960, cùng với sự thành lập Hàng giáo phẩm Việt Nam, ông trở thành Tổng giám mục Tiên khởi của Tổng giáo phận Hà Nội. Chưa đầy 3 năm sau, ngày 2 tháng 6 năm 1963, Tổng giám mục Trịnh Như Khuê bất ngờ phong chức Tổng giám mục phó với quyền kế vị cho linh mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn. Lý do được đưa ra theo thông cáo của tòa Tổng Giám mục Hà Nội ngày 3 tháng 6 năm 1963 là:

"Sự truyền chức cho Giám mục Phó, Đức Tổng Giám mục vẫn nghĩ còn lâu mới làm, và không biết là bao giờ, nhưng chúa nhật ngày 26 tháng 5 năm 1963, tự nhiên Đức Tổng Giám mục thấy mình trở nên lòa, hầu như mù vậy, chữ viết trên mặt đồng hồ không còn trông thấy nữa, trông ra ngoài sân không còn trông rõ cây và sân cỏ, khi ăn cơm không còn trông rõ bát, bệnh lại tiến lên nhanh lắm, Người nghĩ rằng sẽ mù hẳn... Trong lúc ấy, Người chẳng nghĩ đến việc chạy chữa thuốc men, chỉ nghĩ đến sự truyền chức cho Giám mục Phó, và kêu xin Chúa cho bệnh giảm đi, ít là trông rõ chữ để truyền chức. Sau khi ăn cơm xong mấy phút, bệnh đã giản ra, Người đã trông rõ như trước, nhưng sợ bệnh trở lại, Người đã vội vàng truyền chức cho Giám mục Phó..."[14]

Tuy sức khỏe kém, nhưng ông vẫn tiếp tục điều hành giáo hội tại miền Bắc. Tháng 5 năm 1974, ông được Tòa Thánh mời dự Hội đồng Giám mục thế giới, nhưng với lý do sức khỏe, ông đã cử Tổng Giám mục phó Giuse Maria Trịnh Văn Căn đi thay cùng với linh mục thư ký Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang tháp tùng.[15]

Hồng y Trịnh Như Khuê là Giám mục chủ phong giám mục cho Giám mục Đa Minh Đinh Đức Trụ, Giám mục - sau là Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn, Giám mục Phaolô Bùi Chu Tạo,Giám mục Đa Minh Lê Hữu Cung, Giám mục - sau là hồng y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, Giám mục Phêrô Maria Nguyễn Huy Quang.

Thời gian làm Hồng y (1976-1978)[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ nhận mũ Hồng y năm 1976
HY Trịnh Như Khuê

Đánh giá cao những nỗ lực của ông, sau khi Việt Nam thống nhất, ngày 28 tháng 4 năm 1976, Giáo hoàng Phaolô VI chọn ông là Hồng y in pectore và công bố vào ngày 24 tháng 5 cùng năm,[16] Giáo hoàng Phaolô VI đã vinh thăng cho ông tước vị Hồng y linh mục nhà thờ San Francesco di Paola ai Monti.[4] Ông trở thành là vị Hồng y đầu tiên của Việt Nam.

Ngày 6 tháng 8 năm 1978, Giáo hoàng Phaolô VI qua đời.[17] Sau khi Giáo hoàng qua đời, Hồng y Khuê sang Rôma dự tang lễ và với tư cách thành viên trong Hồng y đoàn, ông dự mật nghị Hồng y bầu Giáo hoàng mới là Giáo hoàng Gioan Phaolô I. Nhưng chưa kịp về lại Việt Nam, Tân Giáo hoàng Gioan Phaolô I qua đời[18] và ông phải ở lại Vatican để tiếp tục tham gia mật viện bầu Giáo hoàng – và lần này là Giáo hoàng Gioan Phaolô II vào ngày 16 tháng 10.[19] Như vậy, Hồng y Trịnh Như Khuê là người đầu tiên của Việt Nam đã tham dự hai lần bầu Giáo hoàng.[5]

Phần mộ của Hồng y Giuse Maria Trịnh Như Khuê

Ngày 25 tháng 11 năm 1978 ông về đến Hà Nội. Tối ngày 26 tháng 11, ông dâng lễ và chủ sự chầu Thánh thể ở Nhà thờ lớn Hà Nội. Tối ngày 27, ông đột ngột qua đời, thọ 79 tuổi, sau 28 năm làm Giám mục, 2 năm thụ chức Hồng y. Câu nói cuối cùng của ông trước khi tắt thở là: Chịu lễ. Cái chết bất ngờ của ông làm rộ lên những nghi vấn. Nhưng pháp y khẳng định ông bị nhồi máu cơ tim.[1][2]

Lễ tang của ông được tổ chức vào ngày 30 tháng 11 do Tổng Giám mục kế vị Trịnh Văn Căn chủ sự cùng đồng tế với 11 Giám mục, 50 linh mục. Hai vạn giáo dân đã đến quảng trường Đức Mẹ Hà Nội tiễn đưa ông.[2]

Mộ phần ông đặt tại gian chính nhà thờ chính tòa Hà Nội.[20]

Tưởng nhớ[sửa | sửa mã nguồn]

Tên ông được đặt làm tên đường ở Huyện Bình Chánh.[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ “Ðức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Như Khuê Nguyên Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội”. Catholic. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h “Đức Hồng y tiên khởi của Việt Nam: G.M Trịnh Như Khuê”. Việt Catholic. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  3. ^ “Complete List Of Cardinals ELECTED BY POPE PAUL VI”. Imposter Cardinals. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  4. ^ a ă “Các Đức Giám mục chính tòa TGP Hà Nội”. TGP Hà Nội. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  5. ^ a ă Ban Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam (ngày 20 tháng 3 năm 2014). “Số Hồng y cử tri ngày hôm nay, 05-03-2014: 121 vị”. TRANG TIN CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  6. ^ a ă â b “MỘT SỐ TÊN ĐƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN XÃ BÌNH CHÁNH”. THCS Bình Chánh. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  7. ^ Việt Nam Công giáo Niên Giám 1964, tr. 170.
  8. ^ a ă “Danh sách các linh mục của TGP Hà Nội - Từ năm 1835 đến năm 2009”. Tổng giáo phận Hà Nội. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  9. ^ “Thánh lễ giỗ 19 năm Đức Cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn”. Công giáo Việt Nam. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  10. ^ Nguyễn, Văn Sang (1990). Kỷ niệm Đức HY Trịnh Văn Căn (dày 156 trang). Lưu hành nội bộ. tr. 14. 
  11. ^ “About: Trịnh Như Khuê”. Truy cập Ngày 12 tháng 04 năm 2016. 
  12. ^ [Bấy giờ đã có 10 Giám mục người Việt được thụ phong. Trong số đó 3 vị đã qua đời, 5 vị còn lại vào Nam. Miền Bắc chỉ còn Giám mục Trịnh Như Khuê và Giám mục Gioan Baotixita Trần Hữu Ðức.]
  13. ^ “A history of Vietnamese Catholic Church”. The Misscellany. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  14. ^ Dẫn theo Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang "Kỷ niệm về Đức Hồng y Giuse-Maria Trịnh Văn Căn", 1990, tr. 23-24.
  15. ^ Xuân Ba (ngày 24 tháng 12 năm 2014). “Phúc, Lộc, Thọ và "giả" của một Đức giám mục”. Vietnamnet. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  16. ^ “Complete List Of Cardinals ELECTED BY POPE PAUL VI”. Imposter Cardinals. Truy cập Ngày 12 tháng 04 năm 2016. 
  17. ^ “Vài nét về Ðức Cố Giáo hoàng Phaolô VI nhân dịp kỷ niệm 23 năm Ngài qua đời”. Catholic. 2011. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  18. ^ “Những nhận định của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô Ðệ Nhị về Ðức Gioan Phaolô Ðệ Nhất dịp kỷ niệm 25 năm ngày ngài được chọn làm Giáo hoàng”. Catholic. 18 tháng 8 năm 2003. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  19. ^ “Bàn về Ý Nghĩa lịch sử sâu xa Triều Giáo hoàng vĩ đại của Ðức Gioan Phaolô II”. Catholic. 1999. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  20. ^ “Special architecture of Hanoi Cathedral”. breaking news. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2015.