Giuse Maria Trịnh Như Khuê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hồng y
 Giuse Maria Trịnh Như Khuê
Hồng y Tiên khởi người Việt (1976 - 1978)
Tổng giám mục chính tòa Tiên khởi
Tổng giáo phận Hà Nội (1960 - 1978)
HY Trịnh Như Khuê.png
Giáo tỉnh Hà Nội
Tổng giáo phận Hà Nội
Tựu nhiệm 18 tháng 4 năm 1950
Hết nhiệm 27 tháng 11 năm 1978
Tiền nhiệm François Chaize Thịnh
Kế nhiệm Giuse Maria Trịnh Văn Căn
Các chức khác Hồng y đẳng linh mục nhà thờ San Francesco di Paola ai Monti (1976–1978)
Đại diện Tông tòa Hà Nội (1950–1960)
Truyền chức
Thụ phong 1 tháng 4 năm 1933
Tấn phong 15 tháng 8 năm 1950
Thăng Hồng y 24 tháng 5 năm 1976
Thông tin cá nhân
Tên khai sinh Trịnh Như Khuê
Sinh 11 tháng 12 năm 1898
Tràng Dũ, Hà Nội, Việt Nam
Mất

27 tháng 11, 1978 (79 tuổi)

(18 năm, 3 ngày)
Hà Nội
Nơi an táng Nhà thờ chính tòa Hà Nội
Quốc tịch Việt Nam Việt Nam
Hệ phái Công giáo Rôma
Nơi sinh trưởng Hà Nội
Cha mẹ Trịnh Như Thành (Cha)
Alma mater Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên
trường Puginier
Đại chủng viện Kẻ Sở học Thần học.(1929 - 1933)
Khẩu hiệu Hãy theo Thầy
Cách xưng hô với
Giuse Maria Trịnh Như Khuê
Coat of arms of Joseph-Marie Trịnh Như Khuê.svg
Danh hiệu Đức Hồng Y
Trang trọng Đức Hồng Y
Thân mật Cha
Sau khi chết Đức Cố Hồng Y
Khẩu hiệu Hãy theo Thầy'
Tòa Hà Nội

Giuse Maria Trịnh Như Khuê (1898 - 1978) là một hồng y[1] thuộc Giáo hội Công giáo Rôma và là Hồng y tiên khởi của Việt Nam. Khẩu hiệu Giám mục của ông là Hãy theo thầy.

Ông sinh vào ngày 11 tháng 12 năm 1898 tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Năm 1933, tại Kẻ Sở, ông được phong chức linh mục và được bổ nhiệm làm linh mục phó xứ giáo xứ Khoan Vĩ. Một năm sau, linh mục Giuse Trịnh Như Khuê chuyển về làm Giáo sư Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên và dạy tại chủng viện này 7 năm. Năm 1941, ông được bổ nhiệm linh mục Phó giáo xứ Hàm Long đến năm 1947, thì trở thành linh mục Chính xứ. Với cương vị Chính xứ, ông thành lập một tổ chức đoàn thể lấy tên "Đạo binh Đức Mẹ", còn gọi là "Đạo Binh Xanh".

Ngày 18 tháng 4 năm 1950, Tòa Thánh Vatican bổ nhiệm linh mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê làm Giám mục hiệu tòa Synaus, Giám quản Tông tòa Giáo phận Hà Nội, ông cũng là Giám mục người Việt Nam đầu tiên đảm nhận chức vụ giám mục giáo phận. Lễ tấn phong Giám mục cho Tân giám mục Khuê được tổ chức vào ngày 15 tháng 8 cùng năm tại Nhà thờ Lớn Hà Nội.[2] Do có lòng sùng kính đặc biệt Đức Mẹ Maria, ông ghép thêm tên thánh của mình trở thành Giuse Maria.

Năm 1960, cùng với sự thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, ông trở thành Tổng giám mục Tiên khởi của Tổng giáo phận Hà Nội. Chưa đầy 3 năm sau, ngày 2 tháng 6 năm 1963, Tổng giám mục Trịnh Như Khuê bất ngờ phong chức Tổng giám mục phó với quyền kế vị cho linh mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn.

Ngày 28 tháng 4 năm 1976, Giáo hoàng Phaolô VI chọn ông là Hồng y in pectore và công bố vào ngày 24 tháng 5 cùng năm,[3] Hồng y Trịnh Như Khuê là hồng y đầu tiên người Việt, mang tước vị Hồng y linh mục nhà thờ San Francesco di Paola ai Monti.[4] Sau khi sang Vatican lần lượt bầu hai Tân Giáo hoàng thì ngày 25 tháng 11 năm 1978 ông về đến Hà Nội. Tối ngày 27, ông đột ngột qua đời vì nhồi máu cơ tim, thọ 79 tuổi, sau 28 năm làm Giám mục, 2 năm với tước Hồng y. Ba ngày sau, lễ tang của ông được tổ chức, do Tổng Giám mục kế vị Trịnh Văn Căn chủ sự cùng đồng tế với 11 Giám mục, 50 linh mục. Hai vạn giáo dân đã đến quảng trường Đức Mẹ Hà Nội tiễn đưa ông.[2]

Thiếu thời & Tu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng y Trịnh Như Khuê sinh ngày 11 tháng 12 năm 1898 tại làng Tràng Duệ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam,[1] là người con trai trưởng trong một gia đình Công giáo có 10 anh chị em.[2] Cha ông là Trịnh Như Thành là một nhà Nho, không thành đạt trong khoa cử nên mở trường dạy chữ Hán ở quê nhà.[5]

Con đường tu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Thấy cậu bé Khuê chí hướng đi tu, linh mục chính xứ tên Thông quyết định nhận cậu làm con nuôi và giới thiệu cho vào tu tập tại Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên. Sau khi mãn khóa, Trịnh Như Khuê đã trở thành một thầy giảng, được phân công về Nhà thờ Hàm Long (Hà Nội). Linh mục chính xứ giáo xứ Hàm Long là Dépaulis giới thiệu cho thầy giảng Khuê vào học tiếp tại trường Puginier, một trường tư thục Công giáo do các tu sĩ Dòng La San điều hành. Sau khi kết thúc khóa học, thầy Khuê tiếp tục con đường tu học bằng việc vào Đại chủng viện Kẻ Sở học Triết học. Ngày 20 tháng 5 năm 1925, Giáo hoàng Piô XI thiết lập Khâm sứ Tòa thánh tại Việt Nam và cử Giám mục Constantino Ayuti làm Khâm sứ đại diện Tòa Thánh. Thầy giảng Giuse Trịnh Như Khuê được Giám mục Tông Toà Hà Nội Pierre Gendreau Phú đề cử làm thông ngôn cho Khâm sứ Toà Thánh Ayuti, tháp tùng vị giám mục này này đi kinh lược.[5]

Sau khi Khâm sứ Ayuti qua đời tại Sài Gòn ngày 29 tháng 7 năm 1928, thầy giảng Trịnh Như Khuê trở về Hà Nội và đi giúp xứ Kẻ Noi.[6] Một năm sau, thầy được gọi về Đại chủng viện Kẻ Sở học Thần học.[5]

Thời gian làm linh mục (1933 - 1950)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 4 năm 1933, tại Kẻ Sở, Giám mục Tông Tòa Giáo phận Hà Nội Pierre Gendreau Phú phong chức linh mục cho thầy giảng Giuse Maria Trịnh Như Khuê[1] và bổ nhiệm vị tân linh mục làm linh mục phó giáo xứ Khoan Vĩ.[7] Sau một năm ở Khoan Vĩ, linh mục Trịnh Như Khuê được thuyên chuyển về làm Giáo sư Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên và ông đã dạy học tại chủng viện này trong vòng 7 năm. Đến năm 1941, linh mục Khuê lại được giám mục Tông tòa Giáo phận bổ nhiệm về nhận chức vụ linh mục phó giáo xứ Hàm Long, trợ giúp cho linh mục chính xứ là linh mục Dépaulis. Thời kỳ này, đất nước chìm đắm trong chiến tranh, nhân dân sống dưới hai tầng áp bức bóc lột thực dân Phápphát xít Nhật. Nạn đói xảy ra ở miền Bắc vào năm 1945. Linh mục Như Khuê đã cùng nhiều người tích cực tham gia các hoạt động cứu đói.

Năm 1947 linh mục Dépaulis về Pháp, linh mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê được chọn lên làm linh mục Chính xứ giáo xứ Hàm Long, một giáo xứ lớn của Hà Nội. Với cương vị chính xứ, ông đã cho thành lập một tổ chức đoàn thể lấy tên "Đạo binh Đức Mẹ", còn gọi là "Đạo Binh Xanh". Tháng 2 năm 1950, một linh mục người Việt mới được thụ phong đã được giám mục giáo phận thuyên chuyển về phụ giúp linh mục Khuê, đó là linh mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn. Về sau này, cả hai vị linh mục chính và phó xứ đều trở thành những vị Hồng y danh tiếng của Giáo hội Công giáo Việt Nam.[7][8]

Thời gian là Giám mục Tông Toà Hà Nội (1950 - 1960)[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Trịnh Như Khuê

Ngày 18 tháng 4 năm 1950, Tòa Thánh Vatican bổ nhiệm linh mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê, hiện đang là linh mục Chính xứ giáo xứ Hàm Long, làm Giám mục hiệu tòa Synaus, Giám mục Tông tòa Giáo phận Hà Nội. Giám mục Khuê là vị Giám mục người Việt thứ 7 của Giáo hội Công giá Việt Nam. Vói chức vụ Giám mục Tông tòa Giáo phận Hà Nội, giám mục Khuê cũng trở thành Giám mục người Việt đầu tiên lãnh nhận chức vụ này ở giáo phận Hà Nội.[1] Linh mục phó xứ Giuse Maria Trịnh Văn Căn được Tân giám mục chọn làm thư ký Toà Giám mục.[9]

Lễ tấn phong Giám mục cho Tân giám mục Tông Tòa Hà Nội đã diễn ra vào ngày 15 tháng 8 năm 1950[10] tại Nhà thờ Lớn Hà Nội do Giám mục Tông tòa Giáo phận Bùi Chu Tađêô Lê Hữu Từ chủ phong với hai Giám mục phụ phong là Giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, Giám mục Tông Toà Giáo phận Bùi Chu và Giám mục Franciscô Gomez de Santiago, OP - Giám mục Tông Toà Giáo phận Hải Phòng.[1][2] Do có lòng sùng kính đặc biệt Đức Mẹ Maria, ông ghép thêm tên thánh của mình trở thành Giuse Maria.

Một tháng sau ngày tấn phong, vị tân chức sang Roma để cảm tạ Tòa Thánh và tham dự lễ tuyên tín Đức Mẹ hồn xác lên trời 1 tháng 11 năm 1950. Ông cũng đến các thánh địa nổi tiếng về Đức MẹLộ Đức, Fatima để cầu nguyện cũng như ghé thăm Dublin ở Irlande - nơi sáng lập phong trào Legio Mariae để học tập, áp dụng ở Việt Nam.[2] Trong Thư chung đầu tiên vào ngày 22 tháng 07 năm 1950, ông viết:

"Chúng ta đang sống trong một thời kỳ đau thương, những mong bình an mà chẳng thấy bình an, đau khổ đủ thứ, đau khổ cả hồn, đau khổ cả xác. Trông cậy vào ai? Nương tựa vào ai? Thiết tưởng đang đêm tối tăm, sự soi sáng cho nhân – vật đỡ tối chỉ là mặt trăng êm ái dịu dàng. Tôi muốn nói với anh chị em về Đức Mẹ…Muốn cho địa phận ta cũng được chung phần phúc ấy, tôi đã quyết định sau dịp tôi thụ phong, sẽ dâng địa phận cho trái tim vô nhiễm nguyên tội Đức Mẹ".

Tháng 7 năm 1951, ông chia giáo phận Hà Nội ra thành 29 giáo hạt để tiện quản lí. Ông lập Ban cứu tế và Quỹ cứu tế địa phận vào tháng 9 cùng năm để giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn. Ngoài ra, ông củng cố nhiều hội đoàn Công giáo như Hội Đức Trinh nữ Mẹ Chúa Trời, Hội trợ cấp cho chủng viện, Hội Đức Bà lên trời, Đạo binh Đức Bà Maria,... Những ngày làn sóng di cư bùng nổ, ông phạt "treo chén" những linh mục rời bỏ đàn chiên. Vì vậy, Giáo phận Hà Nội dù địa điểm ra Hải Phòng rất thuận lợi cũng chỉ có khoảng 6 trên 20 vạn giáo dân và 100 trên tổng số 168 linh mục vào Nam, tỷ lệ thấp hơn nhiều so với các giáo phận khác. Ông là một trong số ít Giám mục còn lại ở miền Bắc sau năm 1955.[11]

Ngày 3 tháng 12 năm 1954: ông yết kiến Hồ Chủ tịch ở biệt điện. Dù trong hoàn cảnh khó khăn, Giám mục Khuê vẫn đi kinh lý khắp các xứ họ của giáo phận kể cả các xứ Mường như Mường Riệc, Mường Cắt, Lạc Thổ,... Những chuyến đi thăm các giáo xứ trong giáo phận là bổn phận của một giám mục, tuy vậy, thực hiện việc này trong thời kì mưa bom, bão đạn thật khó có thể tưởng tượng: Có những chuyến đi, xe đi trước xe Giám mục gặp mìn, lại những chuyến đi đã sắp lịch nhưng không thể thực hiện được. Nhật kí mục vụ của vị Giám mục già ghi thật tỉ mỉ: Ngày 10 tháng 11 năm 1956 định đi Mạc Thượng, không vào được; Ngày 29 tháng 11 năm 1956; không đi thăm Khoan Vỹ, Công Xá, Phú Đa như đã định trước". Trong nhật ký ngày 16 tháng 4 năm 1957, ông viết: hồi 14 giờ trở về Hà Nội, qua Phủ Lý; đến Ngô Tư Vọng bị khám giấy và bị tước giấy. Đó là những dòng chữ cuối cùng ông ghi chép trong quyển nhật ký mục vụ. Từ khi đó, vị giám mục Hà Nội chỉ được ở trong Toà Giám mục và không được phép rời khỏi đó. Chia sẻ về những khó khăn của Giám mục Khuê, Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang sau này cho biết rằng cả hai vị Hồng y họ Trịnh đều lấy sân thượng Toà Giám mục là nơi đi dạo để rèn luyện thân thể và suy tư đến nỗi có hẳn một vòng bầu dục vết chân trên sân thượng và gọi đó là vòng chân Đức Hồng y.[2]

Ngày 24 tháng 1 năm 1959, ông ra thông cáo nhận tượng Đức Mẹ ở Quảng trường Nhà thờ Lớn là tượng Đức Mẹ Hà Nội và dâng nhà thờ Cửa Bắc là nhà thờ Đức Mẹ Hà Nội. Ông soạn kinh Đức Mẹ Hà Nội, mời gọi giáo dân làm đơn xin nhận Đức Mẹ là quan thầy thành phố và ông ký đơn thỉnh cầu Toà thánh. Ngày 18 tháng 2 cùng năm, ông khai mạc Năm thánh Đức Mẹ Hà Nội. Ngày 30 tháng 6 ông mở tuần tam nhật mừng lễ Đức Mẹ Hà Nội. Ngày 18 tháng 4 khi kiệu đến tượng đức Mẹ Hà Nội, đọc kinh Đức Mẹ Hà Nội, ông xin phép Đức Mẹ gọi thành phố Hà Nội là thành phố Đức Mẹ.[2]

Giám mục Trịnh Như Khuê cũng nổi tiếng với những buổi lễ phong chức chui không giống ai. Lễ tấn phong Giám mục cho Giám mục tân cử Đa Minh Đinh Đức Trụ (Giáo phận Thái Bình) do ông chủ sự ngày 25 tháng 3 năm 1960 cũng không nằm ngoài phong cách đó. Tân giám mục Đa Minh Trụ giả làm ông đạp xích lô từ Thái Bình lên Hà Nội gặp giám mục Chủ phong Khuê trong buồng áo. Nghi lễ diễn ra chỉ có hai người. Rồi Giám mục "chui" Trụ lại đạp xe sang Bùi Chu tấn phong giám mục "chui" cho tân Giám mục Giuse Maria Phạm Năng Tĩnh trong một chiếc thuyền chài,...[2]

Đến ngày 24 tháng 11 năm 1960, Toà Thánh Vatican thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam. Giám mục Tông tòa Giuse Maria Trịnh Như Khuê được thăng làm Tổng giám mục chính tòa Tiên khởi của Tổng giáo phận Hà Nội.[1][12]

Thời gian là Tổng giám mục Hà Nội (1960 - 1978)[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vị Tổng giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1960, cùng với sự thành lập Hàng giáo phẩm Việt Nam, ông trở thành Tổng giám mục Tiên khởi của Tổng giáo phận Hà Nội. Chưa đầy 3 năm sau, ngày 2 tháng 6 năm 1963, Tổng giám mục Trịnh Như Khuê bất ngờ phong chức Tổng giám mục phó với quyền kế vị cho linh mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn. Lý do được đưa ra theo thông cáo của tòa Tổng Giám mục Hà Nội ngày 3 tháng 6 năm 1963 là:

"Sự truyền chức cho Giám mục Phó, Đức Tổng Giám mục vẫn nghĩ còn lâu mới làm, và không biết là bao giờ, nhưng chúa nhật ngày 26 tháng 5 năm 1963, tự nhiên Đức Tổng Giám mục thấy mình trở nên lòa, hầu như mù vậy, chữ viết trên mặt đồng hồ không còn trông thấy nữa, trông ra ngoài sân không còn trông rõ cây và sân cỏ, khi ăn cơm không còn trông rõ bát, bệnh lại tiến lên nhanh lắm, Người nghĩ rằng sẽ mù hẳn... Trong lúc ấy, Người chẳng nghĩ đến việc chạy chữa thuốc men, chỉ nghĩ đến sự truyền chức cho Giám mục Phó, và kêu xin Chúa cho bệnh giảm đi, ít là trông rõ chữ để truyền chức. Sau khi ăn cơm xong mấy phút, bệnh đã giản ra, Người đã trông rõ như trước, nhưng sợ bệnh trở lại, Người đã vội vàng truyền chức cho Giám mục Phó..."[13]

Tuy sức khỏe kém, nhưng ông vẫn tiếp tục điều hành giáo hội tại miền Bắc. Tháng 5 năm 1974, ông được Tòa Thánh mời dự Hội đồng Giám mục thế giới, nhưng với lý do sức khỏe, ông đã cử Tổng Giám mục phó Giuse Maria Trịnh Văn Căn đi thay cùng với linh mục thư ký Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang tháp tùng.[14]

Thăng tước Hồng y (1976-1978)[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ nhận mũ Hồng y năm 1976
Phần mộ của Hồng y Giuse Maria Trịnh Như Khuê

Đánh giá cao những nỗ lực của vị Tổng giám mục Hà Nội, sau khi Việt Nam thống nhất, ngày 28 tháng 4 năm 1976, Giáo hoàng Phaolô VI chọn ông là Hồng y in pectore và công bố vào ngày 24 tháng 5 cùng năm,[15] Hồng y Trịnh Như Khuê là Hồng y đầu tiên của Việt Nam, với tước vị Hồng y linh mục nhà thờ San Francesco di Paola ai Monti.[4]

Ngày 6 tháng 8 năm 1978, Giáo hoàng Phaolô VI qua đời.[16] Sau khi Giáo hoàng qua đời, Hồng y Khuê sang Rôma dự tang lễ và với tư cách thành viên trong Hồng y đoàn, ông dự mật nghị Hồng y bầu Giáo hoàng mới là Giáo hoàng Gioan Phaolô I. Nhưng chưa kịp về lại Việt Nam, Tân Giáo hoàng Gioan Phaolô I qua đời[17] và ông phải ở lại Vatican để tiếp tục tham gia mật viện bầu Giáo hoàng – và lần này là Giáo hoàng Gioan Phaolô II vào ngày 16 tháng 10.[18] Như vậy, Hồng y Trịnh Như Khuê là người đầu tiên của Việt Nam đã tham dự hai lần bầu Giáo hoàng.[19]

Ngày 25 tháng 11 năm 1978, Hồng y Khuê về đến Hà Nội. Tối ngày 26 tháng 11, ông dâng lễ và chủ sự chầu Thánh thể ở Nhà thờ Lớn Hà Nội. Tối ngày 27, ông đột ngột qua đời, thọ 79 tuổi, sau 28 năm làm Giám mục, 2 năm với tước vị Hồng y. Câu nói cuối cùng của ông trước khi tắt thở là: Chịu lễ. Cái chết bất ngờ của vị Hồng y làm rộ lên những nghi vấn. Nhưng pháp y khẳng định ông bị nhồi máu cơ tim.[1][2]

Lễ tang của ông được tổ chức vào ngày 30 tháng 11 do Tổng Giám mục kế vị Giuse Maria Trịnh Văn Căn chủ sự cùng đồng tế với 11 Giám mục, 50 linh mục. Hai vạn giáo dân đã đến quảng trường Đức Mẹ Hà Nội tiễn đưa vị giám mục của họ.[2] Mộ phần ông đặt tại gian chính nhà thờ chính tòa Hà Nội.[20]

Tông truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng y Tiên khởi người Việt, Tổng giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê, được tấn phong giám mục năm 1950, dưới thời Giáo hoàng Piô XII, bởi:[21]

Hồng y - Tổng giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê là giám mục Chủ phong cho các giám mục:[21]

Hồng y - Tổng giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê là giám mục Phụ phong cho các giám mục:[21]

Hình ảnh khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tưởng nhớ[sửa | sửa mã nguồn]

Tên ông được đặt làm tên đường ở Huyện Bình Chánh.[5]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ “Ðức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Như Khuê Nguyên Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội”. Catholic. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g “Đức Hồng y tiên khởi của Việt Nam: G.M Trịnh Như Khuê”. Việt Catholic. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  3. ^ “Complete List Of Cardinals ELECTED BY POPE PAUL VI”. Imposter Cardinals. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  4. ^ a ă “Các Đức Giám mục chính tòa TGP Hà Nội”. TGP Hà Nội. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  5. ^ a ă â b “MỘT SỐ TÊN ĐƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN XÃ BÌNH CHÁNH”. THCS Bình Chánh. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  6. ^ Việt Nam Công giáo Niên Giám 1964, tr. 170.
  7. ^ a ă “Danh sách các linh mục của TGP Hà Nội - Từ năm 1835 đến năm 2009”. Tổng giáo phận Hà Nội. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  8. ^ “Thánh lễ giỗ 19 năm Đức Cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn”. Công giáo Việt Nam. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  9. ^ Nguyễn, Văn Sang (1990). Kỷ niệm Đức HY Trịnh Văn Căn (dày 156 trang). Lưu hành nội bộ. tr. 14. 
  10. ^ “About: Trịnh Như Khuê”. Truy cập Ngày 12 tháng 04 năm 2016. 
  11. ^ [Bấy giờ đã có 10 Giám mục người Việt được thụ phong. Trong số đó 3 vị đã qua đời, 5 vị còn lại vào Nam. Miền Bắc chỉ còn Giám mục Trịnh Như Khuê và Giám mục Gioan Baotixita Trần Hữu Ðức.]
  12. ^ “A history of Vietnamese Catholic Church”. The Misscellany. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  13. ^ Dẫn theo Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang "Kỷ niệm về Đức Hồng y Giuse-Maria Trịnh Văn Căn", 1990, tr. 23-24.
  14. ^ Xuân Ba (ngày 24 tháng 12 năm 2014). “Phúc, Lộc, Thọ và "giả" của một Đức giám mục”. Vietnamnet. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  15. ^ “Complete List Of Cardinals ELECTED BY POPE PAUL VI”. Imposter Cardinals. Truy cập Ngày 12 tháng 04 năm 2016. 
  16. ^ “Vài nét về Ðức Cố Giáo hoàng Phaolô VI nhân dịp kỷ niệm 23 năm Ngài qua đời”. Catholic. 2011. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  17. ^ “Những nhận định của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô Ðệ Nhị về Ðức Gioan Phaolô Ðệ Nhất dịp kỷ niệm 25 năm ngày ngài được chọn làm Giáo hoàng”. Catholic. 18 tháng 8 năm 2003. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  18. ^ “Bàn về Ý Nghĩa lịch sử sâu xa Triều Giáo hoàng vĩ đại của Ðức Gioan Phaolô II”. Catholic. 1999. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  19. ^ Ban Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam (ngày 20 tháng 3 năm 2014). “Số Hồng y cử tri ngày hôm nay, 05-03-2014: 121 vị”. TRANG TIN CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  20. ^ “Special architecture of Hanoi Cathedral”. breaking news. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2015. 
  21. ^ a ă â Joseph Marie Cardinal Trinh-nhu-Khuê †