Phaolô Nguyễn Văn Hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giám mục
 Phaolô Nguyễn Văn Hòa
Giám mục chính tòa Giáo phận Nha Trang
(1975 - 2009)
Dc-NgVHoa-3 r.jpg
Giáo hội Công giáo Rôma
Giáo tỉnh Giáo tỉnh Huế
(1975 – 2009)
Giáo tỉnh Sài Gòn (1975)
Giáo phận Giáo phận Nha Trang
(1975 – 2009)
Giáo phận Phan Thiết (1975)
Giám quản Giáo phận Ban Mê Thuột
(2006 – 2009)
Tòa Giáo phận Nha Trang
(1975 – 2009)
Giáo phận Phan Thiết (1975)
Bổ nhiệm 30 tháng 1 năm 1975
(Giám mục Phan Thiết)
24 tháng 4 năm 1975
(Giám mục Nha Trang)
Tựu nhiệm 5 tháng 4 năm 1975
(Giám mục Phan Thiết)
7 tháng 5 năm 1975
(Nhận GP. Nha Trang)
25 tháng 5 năm 1975
(Lễ nhận GP Nha Trang)
Hết nhiệm 4 tháng 12 năm 2009
Tiền nhiệm Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Kế nhiệm Giuse Võ Đức Minh
Các chức khác Giám mục chính tòa Giáo phận Phan Thiết (1975)
Giám mục Giám quản Tông Tòa Giáo phận Ban Mê Thuột
(2006 – 2009)
Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam (2001 - 2007)
Truyền chức
Thụ phong 20 tháng 12 năm 1959
Tấn phong 5 tháng 4 năm 1975
Thông tin cá nhân
Tên khai sinh Nguyễn Văn Hòa
Sinh 2 tháng 2, 1931(1931-02-02)
Bối Kênh, Bình Lục, Hà Nam, Việt Nam
Mất 14 tháng 2, 2017 (86 tuổi)
Tòa GM Nha Trang
Quốc tịch Việt Nam Việt Nam
Hệ phái Công giáo
Con cái Không
Nghề nghiệp Tu sĩ Công giáo
Alma mater Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên
(1945 – 1950)
Tiểu chủng viện Pio XII Hà Nội
(1950 -1954)
Đại chủng viện Xuân Bích Vĩnh Long
(1954 – 1956)
Trường Truyền giáo Roma
Học viện Roma.
Khẩu hiệu "Trong tinh thần và chân lý"
Cách xưng hô với
Phaolô Nguyễn Văn Hòa
Gmhoantcoat.jpg
Danh hiệu Đức Giám mục
Trang trọng Đức Giám mục, Đức Cha
Thân mật Cha
Khẩu hiệu "’Trong tinh thần và chân lý"
Tòa Giáo phận Nha Trang
Giáo phận Phan Thiết

Phaolô Nguyễn Văn Hòa (2 tháng 2 năm 1931 - 14 tháng 2 năm 2017) là một giám mục Công giáo người Việt. Ông từng giữ các vị trí Giám mục Giáo phận Phan Thiết, Giám mục Giáo phận Nha Trang, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam (2001 - 2007). Khẩu hiệu giám mục của ông là: "Trong Tinh thần và Chân lý" [1].

Thân thế và bước đầu tu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 02 tháng 2 năm 1932[2], tại Bối Kênh, Bình Lục, Hà Nam.

Năm lên 10 tuổi, ông nhập Trường Tập địa phận Hà Nội và theo học trường dòng Puginier. Năn 1945, ông trở thành chủng sinh Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên, Hà Đông, sau đó tiếp tục tu tập tại Tiểu chủng viện Pio XII Hà Nội từ năm 1950. Năm 1954, ông di cư vào nam, theo học tại Đại chủng viện Xuân Bích Vĩnh Long. Sau hai năm học triết học, ông được gửi sang Trường Truyền giáo Roma, theo học bậc tiến sĩ thần học và cử nhân thánh nhạc thuộc Học viện Roma.

Ông thụ phong linh mục ngày 20 tháng 12 năm 1959. Năm 1963, ông về Việt Nam gia nhập giáo phận Đà Lạt, được bổ nhiệm làm linh mục phó xứ, Hiệu trưởng trường Trung học Trí Đức và điều khiển ca đoàn Sêraphim. Với cương vị này, ông đã soạn một số bài thánh ca, trong đó có các bài thuộc Bộ Lễ Sêraphim khá phổ biến trong cộng đồng Công giáo Việt Nam. Năm 1968, ông được chuyển về bổ sung cho Giáo phận Ban Mê Thuột vừa mới thành lập, giữ chức vụ thư ký tòa giám mục và Tuyên úy Dòng Nữ Vương Hòa Bình.

Giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 1 năm 1975, Tòa Thánh Vatican công bố sắc phong giám mục chính tòa Giáo phận Phan Thiết vừa được thành lập. Lễ tấn phong giám mục được tổ chức ngày 5 tháng 4 năm 1975 tại Ban Mê Thuột. Tuy nhiên, do tình hình chiến sự nên ông không thể về Phan Thiết nhận nhiệm vụ, trên lý thuyết ông chỉ làm giám mục chính tòa giáo phận Phan Thiết 20 ngày (thực tế chưa ở Phan Thiết ngày nào). Ngày 24 tháng 4 năm 1975, Tòa Thánh gửi điện thư điều chuyển ông về làm giám mục chính tòa Giáo phận Nha Trang. Ngày 7 tháng 5 năm 1975, ông chính thức nhận "bàn giao giáo phận" để Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận lên đường làm tổng giám mục phó Tổng giáo phận Sài Gòn.

Tuy nhiên, chính quyền mới Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tuyên bố không công nhận Giám mục Thuận là tổng giám mục phó Tổng giáo phận Sài Gòn vì họ cho rằng đó là một "mưu đồ chính trị" (Giám mục Thuận là cháu gọi Tổng giám mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục và cố Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm là cậu ruột). Ngày 1 tháng 7 năm 1975, chính quyền mới chính thức yêu cầu Giám mục Thuận trở về chức vụ cũ tại Giáo phận Nha Trang như trước đây. Chính vì vậy, mặc dù cử đại diện tham dự lễ nhận chức giám mục chính tòa ngày 25 tháng 5 năm 1975, nhưng chính quyền mới vẫn xem việc chức vụ Giám mục Nha Trang của Giám mục Phaolô Hòa là "bất hợp pháp" trong một thời gian dài. Mặc dù vậy, "nhờ đức hiền hòa và nhẫn nại"[3], ông khéo léo lãnh đạo Giáo phận Nha Trang tránh được nhiều rắc rối và hiểu lầm với chính quyền và cộng đồng lương dân.

Các chức vụ khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ông cũng là một trong các sáng lập viên của Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) và Đài phát thanh Chân lý Á Châu. Tại Hội đồng Giám mục Việt Nam, nhiệm kỳ IV và V (1989-1992-1995), ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Giám mục về Linh mục, Tu sĩ và Chủng sinh. Nhiệm kỳ VI (1995-1998), ông là Phó chủ tịch II; và trong nhiệm kỳ VII (1998-2001), là Chủ tịch Ủy ban Giám mục về Thánh nhạc. Hai nhiệm kỳ VIII và IX (2001-2007), ông được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Giám mục.

Năm 2006, ông được Tòa Thánh bổ kiệm kiêm chức giám quản Tông tòa Giáo phận Ban Mê Thuột, coi sóc giáo phận thay Giám mục Giuse Nguyễn Tích Đức xin từ chức vì lý do sức khỏe. Ông giữ nhiệm vụ này đến ngày 21 tháng 2 năm 2009, khi Tòa Thánh Vatican bổ nhiệm tân Giám mục Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản làm giám mục chính tòa.

Ngày 4 tháng 12 năm 2009, nhân lễ kim khánh (kỷ niệm 50 năm) linh mục tại Nhà thờ chính tòa Nha Trang, ông công bố quyết định nghỉ hưu. Kế vị ông là Giám mục phó Giuse Võ Đức Minh. Sau đó, ông nghỉ hưu tại nhà hưu dưỡng các linh mục Giáo phận Nha Trang và qua đời tại đây vào ngày 14 tháng 2 năm 2017.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Tiên khởi
Giám mục chính tòa
Giáo phận Phan Thiết

1975
Kế nhiệm:
Nicôla Huỳnh Văn Nghi
Tiền nhiệm:
Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Giám mục chính tòa
Giáo phận Nha Trang

1975 - 2009
Kế nhiệm:
Giuse Võ Đức Minh
Tiền nhiệm:
Giuse Nguyễn Tích Đức
(GM chính tòa)
Giám mục Giám quản
Giáo phận Ban Mê Thuột

2006 - 2009
Kế nhiệm:
Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản (GM chính tòa)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]