Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng
Hồng y thứ 3 Việt Nam (1994 - 2009)
Tổng Giám mục Tổng giáo phận Hà Nội
(1994 - 2005)
Giáo hội Công giáo Rôma
Giáo tỉnh Hà Nội
Tổng giáo phận Tổng giáo phận Hà Nội
Bổ nhiệm 1994
Hết nhiệm 2005
Tiền nhiệm Giuse Maria Trịnh Văn Căn
Vinh Sơn Phạm Văn Dụ
Phêrô Khuất Văn Tạo
Giuse Nguyễn Phụng Hiểu
Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương
Kế nhiệm Giuse Ngô Quang Kiệt
Giuse Maria Nguyễn Quang Tuyến

Giuse Vũ Văn Thiên
Antôn Vũ Huy Chương
Thụ phong 6 tháng 6, 1949
Tấn phong 15 tháng 8, 1963
Thăng hồng y 26 tháng 11, 1994
Các chức khác Hồng y đẳng linh mục Nhà thờ Santa Maria Regina Pacis in Ostia mare

Tổng giám mục giám quản tông tòa
Tổng giáo phận Hà Nội (1990 - 1994)
Giám mục Chánh tòa Giáo phận Bắc Ninh
(1963 - 1994)
Giám quản tông tòa Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng (1998 - 1999)
Giám quản tông tòa Giáo phận Hưng Hoá
(1994 - 2002?)
Giám quản tông tòa Giáo phận Hải Phòng
(1999 - 2002?)
Thông tin cá nhân
Sinh 20 tháng 5, 1919
Yên Mô, Phát Diệm
Mất 22 tháng 2, 2009 (89 tuổi)
Hà Nội
Nơi an táng Nhà thờ chính tòa Hà Nội
Quốc tịch Việt Nam, Rôma
Tôn giáo Công giáo
Cách xưng hô với
Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng
Khẩu hiệu: Tôi tin vào tình yêu Thiên Chúa
Danh hiệu Đức Hồng Y
Trang trọng Đức Hồng Y
Thân mật Cha
Sau khi chết Đức Cố Hồng Y
Khẩu hiệu Tôi tin vào tình yêu Thiên Chúa'
Tòa Hà Nội

Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng (19192009) là một hồng y Công giáo người Việt thứ ba sau hồng y Giuse Maria Trịnh Như KhuêGiuse Maria Trịnh Văn Căn. Ông cũng từng là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam 2 khoá liên tiếp từ năm 1995 đến năm 2001.[1]. Ông cũng là người nhận chức vụ Tổng giám mục cao tuổi nhất trong lịch sử giáo hội Công giáo tại Việt Nam khi 75 - 76 tuổi.[2]

Ông sinh ngày 20 tháng 5 năm 1919 trong một gia đình Công giáo tại Ninh Bình.

Năm 1940, ông theo học tại Đại Chủng viện Liễu Giai, Hà Nội.Năm 1945, Cách mạng tháng 8 nổ ra, ông nghỉ học do đại chủng viện Liễu Giai tạm ngưng hoạt động. Tháng 9 năm 1946, Đại Chủng viện Liễu Giai tái mở cửa, ông lại trở về Chủng viện học tập.[3] Tháng 12 năm 1946, chiến tranh bùng nổ, Đại Chủng viện bị quân Pháp trưng dụng, một lần nữa phải ngưng hoạt động.

Mãi đến năm 1948, ông tiếp tục học để hoàn tất chương trình thần học tại Học viện Dòng Chúa Cứu Thế tại Thái Hà, Hà Nội.[3] Một năm sau, Đại Chủng viện Hà Nội mới được thành lập tại 40 Nhà Chung, ông chuyển về học tại đây.[3]

Ngày 6 tháng 6 năm 1949, ông được thụ phong chức Linh mục tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội. Năm 1950, ông được bổ nhiệm làm phó xứ Hàm Long, Hà Nội. Ngày 18 tháng 4 năm đó, ông được cử làm Chánh xứ thay cho tân Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê lên nhậm chức Giám mục Tông tòa Giáo phận Hà Nội.

Ngày 5 tháng 4 năm 1963, Tòa Thánh bổ nhiệm ông làm Giám mục chính tòa Giáo phận Bắc Ninh và ông được tấn phong Giám mục tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội ngày 15 tháng 8 năm 1963, do Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội Giuse Maria Trịnh Như Khuê làm chủ phong. Khẩu hiệu Giám mục của ông là Tôi tin vào tình yêu Thiên Chúa.

Tháng 7 năm 1990, ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám quản Tông tòa Giáo phận Hà Nội, kiêm chức Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội. Ngày 13 tháng 4 năm 1994, ông chính thức được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Hà Nội.[3] Ngày 26 tháng 11 năm 1994, ông được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong làm Hồng y linh mục nhà thờ Santa Maria "Regina Pacis" in Ostia mare.

Ngày 7 tháng 5 năm 2003, ông trao quyền cai quản Tổng giáo phận Hà Nội cho Tổng Giám mục Giám quản Giuse Ngô Quang Kiệt vì già yếu. Ngày 19 tháng 2 năm 2005, Toà Thánh chính thức cho phép ông về hưu theo Giáo luật. Ông qua đời vào ngày 22 tháng 2 năm 2009, thọ 90 tuổi.

Thân thế & tu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 20 tháng 5 năm 1919 trong một gia đình Công giáo tại thôn Cầu Mễ, xã Yên Thắng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, thuộc giáo xứ Quảng Nạp, Giáo phận Phát Diệm.[3] Cha mẹ ông là Phêrô Phạm Văn Hiến và Anna Nguyễn Thị Bống.[3]

Năm 1925, ông bắt đầu đi học tiểu học tại trường làng. Năm 1927, ông được cha nuôi là Linh mục Phêrô Phạm Bá Trực đưa lên học tại giáo xứ Kẻ Sét, Hà Nội.[3]

Năm 1929 ông được gia nhập Trường Tập Hà Nội.[3] Sau này, trong lễ tang ông, Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa kể về ông trong việc may mắn trúng tuyển vào trường:[4]

Năm 1929, Tràng (Trường) tập được thiết lập tại Hà nội, tọa lạc tại chính cơ sở của Ðại chủng viện ngày nay. Ðầu niên khóa 1931 - 1932, cũng như mọi năm, Tràng (Trường) tập tổ chức thi tuyển để chọn học sinh vào lớp mới với con số tối đa khoảng trên 30 em. Lần đó, chú Phaolô Phạm Ðình Tụng bị lọt sổ, chỉ suýt nữa trúng tuyển, có nghĩa là bị trượt, bị rớt. Nhưng chú vui vẻ về lại xứ Khoan Vĩ với cha nghĩa phụ Phêrô Phạm Bá Trực. Bỗng mấy ngày sau, một tin vui đưa tới, chú lại nhận được giấy gọi từ cha Décréaux, Bề trên Tràng tập gửi về Khoan Vĩ, gọi chú Tụng lên Tràng tập nhập lớp mới, vì có một chú, tuy đã trúng tuyển nhưng bị bệnh không thể tiếp tục học được phải rút lui, nên chú Tụng được gọi lên lấp vào chỗ trống. Chú Tụng mừng quá chừng, khi được đậu vớt và đã rất chăm chỉ học tập.

Năm 1931, ông thi đậu bằng sơ học yếu lược và được tuyển vào Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Hà Đông. [3] Sau khi tốt nghiệp Tiểu Chủng viện năm 1939, ông được cử đi phục vụ tại giáo xứ Xuy Xá, thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông.

Năm 1940, ông theo học tại Đại Chủng viện Liễu Giai, Hà Nội. [3] Năm 1942, ông được phân về phục vụ tại giáo xứ Khoan Vĩ, thuộc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, là nơi Linh mục Phêrô Phạm Bá Trực đang làm linh mục chánh xứ. [3] Đến năm 1943, ông lại tiếp tục trở về Đại chủng viện tiếp tục tu học.

Năm 1945, Cách mạng tháng 8 nổ ra, ông nghỉ học do đại chủng viện Liễu Giai tạm ngưng hoạt động. Tháng 9 năm 1946, Đại Chủng viện Liễu Giai tái mở cửa, ông lại trở về Chủng viện học tập.[3] Tuy nhiên, chỉ 3 tháng sau, ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh bùng nổ, Đại Chủng viện bị quân Pháp trưng dụng, một lần nữa phải ngưng hoạt động.

Mãi đến năm 1948, ông tiếp tục học để hoàn tất chương trình thần học tại Học viện Dòng Chúa Cứu Thế tại Thái Hà, Hà Nội.[3] Một năm sau, Đại Chủng viện Hà Nội mới được thành lập lại ở số 40 Nhà Chung, ông chuyển về học tại đây.[3]

Linh mục[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 6 tháng 6 năm 1949, ông được thụ phong chức Linh mục tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội và được cử về làm Tuyên úy Cô nhi viện Têrêsa tại Quần Ngựa, do linh mục người Pháp là Paul Seitz làm giám đốc.[5] Trước đó, ông đã mất đi người mẹ vào ngay thời gian trước khi được phong chức linh mục. Khi nghe tin ông sắp được thụ phong, bà xuống thuyền từ Phát Diệm ra Hà Nội sắm sửa áo lễ và chén thánh cho con. Thời gian đó, con đường đi lại giữa Phát diệm và Hà Nội là trên những chiếc ca nô, bất chấp những nguy hiểm của chiến tranh. Thật bất hạnh cho ông, mẹ ông bị trúng một phát đạn trong khi ca nô đang di chuyển trên sông tại khu vực gần Ðò Lèn. Bà qua đời và xác cũng không được tìm thấy.[6]

Năm 1950, ông được bổ nhiệm làm phó xứ Hàm Long, Hà Nội. Ngày 18 tháng 4 năm đó, ông được cử làm Chánh xứ thay cho tân Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê lên nhậm chức Giám mục Tông tòa Giáo phận Hà Nội.

Năm 1953, ông thành lập nhà tế bần Bạch Mai nhằm cứu giúp các nạn nhân chiến tranh nghèo khổ từ các vùng nông thôn trôi dạt về Hà Nội.[3]

Năm 1954, trong phong trào di cư, rất nhiều linh mục trong giáo phận di cư vào Nam. Ông đã hai ba lần đi theo giáo dân xứ vào Nam, lo liệu và giúp đỡ họ trong thời gian định cư, nhưng sau đó lại trở về phục vụ giáo dân tại Hàm Long.[6]

Năm 1955, ông được bổ nhiệm làm giám đốc Tiểu Chủng viện Thánh Gioan Hà Nội – một tiểu chủng viện liên giáo phận với khoảng hơn 200 chủng sinh thuộc hầu hết các giáo phận ở Miền Bắc lúc bấy giờ.[3]

Năm 1960, vì muốn bảo vệ sự độc lập của giáo hội Công giáo trong lãnh vực đào tạo giáo sĩ, ông đã cùng các đấng hữu trách quyết định cho các chủng sinh về lại các giáo phận của mình, chấp nhận giải tán tiểu chủng viện.[7]

Năm 1963, ông sáng lập tu hội Đức Mẹ Hiệp nhất.[3]

Giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng

Giáo hoàng Gioan XXIII bổ nhiệm ông làm Giám mục chính tòa Giáo phận Bắc Ninh vào ngày 5 tháng 4 năm 1963 và được tấn phong Giám mục tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội ngày 15 tháng 8 năm 1963, do Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội Giuse Maria Trịnh Như Khuê làm chủ phong. Khẩu hiệu Giám mục của ông là Tôi tin vào tình yêu Thiên Chúa.[1]

Giáo phận Bắc Ninh, một giáo phận trải dài từ Đồng bằng Sông Hồng đến giáp biên giới Việt Trung gồm “năm tỉnh trực thuộc và 7 tỉnh liên hệ". Số linh mục già yếu ở lại giáo phận sau cuộc di cư 1954 đếm được trên đầu các ngón tay![8] Ông về nhận giáo phận ngày lễ Đức Mẹ Mân Côi 5 tháng 10 năm 1963.[9]

Trong hoàn cảnh rất ít linh mục, ông xây dựng, củng cố Ban Hành giáo, sáng lập Tu hội Đức Mẹ Hiệp Nhất, cho in Kinh bản giáo phận, cổ vũ lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa.[9]

Năm 1983, đại lễ mừng 100 năm thành lập Giáo phận Bắc Ninh.[9]

Hơn 20 năm ông không được ra khỏi Tòa Giám mục để thi hành mục vụ.[8] Vì thế, Tòa giám mục Bắc Ninh đã thật sự trở thành Nhà Chung của giáo phận. Hàng ngày, ông cùng ăn, cùng đọc kinh chung với giáo dân. Trong thời kỳ khó khăn mà nhà ăn Tòa Giám mục thường xuyên đông vui, đầm ấm. Những ngày lễ trọng, ông kêu gọi và tổ chức cho giáo dân “góp gạo thổi cơm chung”.[8]

Về sau, trong tang lễ 100 ngày của ông, Giám mục Phụ tá Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh nhận xét ông vào thời kì này:[1]

Chúng tôi được nghe kể là Đức cố Hồng Y Phaolô Giuse trong hoàn cảnh hết sức khó khăn về mặt xã hội mà lại thiếu thốn về nhân sự, Ngài đã biến Toà Giám mục Bắc Ninh của mình thành một trung tâm hành hương để mỗi tuần, vào Chúa nhật, từng đoàn người đông đảo khắp nơi đổ về đó, Ngài lo cho có chỗ ăn chỗ ngủ rồi lo dạy giáo lý, làm lễ, ban các bí tích cho anh chị em giáo dân. Tất cả mọi người đều nhìn thấy nơi Đức cố Hồng y hình ảnh của một người Cha hết lòng yêu thương chăm sóc con cái trong giáo phận.

Từ năm 1991 đến năm 1993, Tòa Giám mục Bắc Ninh 3 tầng hiện nay được khởi xây dựng, dưới thời ông là Giám mục Giáo phận Bắc Ninh.[10]

Tổng giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Phạm Đình Tụng

Ngày 5 tháng 7 năm 1990, ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám quản Tông tòa Giáo phận Hà Nội, kiêm chức Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội.[8]

Ngày 13 tháng 4 năm 1994, ông chính thức được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Hà Nội.[3]

Lễ nhậm chức Tổng giám mục của ông cử hành vào ngày 14 tháng 8 năm 1994.[11] Khi đó, dư luận lo ngại rằng: đây là giải pháp tình thế của hoàn cảnh, chứ cụ già đã đến tuổi làm đơn nghỉ hưu theo giáo luật (khi đó ông 75 tuổi),[2] lại gầy gò ốm yếu thì còn đâu mà sức lực làm việc? Ông vào nhà thờ và quỳ, đề nghị mọi người thinh lặng tưởng nhớ linh mục Phạm Bá Trực- người cha linh hướng của mình, tưởng nhớ Hồng y Giuse Maria Trịnh Như Khuê - người nâng đỡ và tấn phong giám mục cho ông năm 1963. Lời chia sẻ của ông đầy ưu tư:[11]

Thưa anh chị em thân mến, tôi về nhận giáo phận trong giai đoạn nước nhà đổi mới. Giáo hội cũng cần thích nghi theo nhịp đổi mới của dân tộc. Biết bao công việc phải làm, biết bao vấn đề cần giải quyết. Nhiều nhà thờ xuống cấp lâu ngày, hư hỏng vì chiến tranh cần tu sửa, nhiều giáo xứ thiếu thánh lễ đang mong chờ có linh mục khôn ngoan, đạo đức hết mình phục vụ theo gương Thày Chí Thánh... Các em thiếu nhi cần được giúp đỡ để nâng cao trình độ giáo lý và văn hoá. Các thanh niên chuẩn bị bước vào đời cần được hướng dẫn trở nên giáo dân tốt"...

Hồng y[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng y Tụng nhận mũ Hồng y năm 1994

Ngày 26 tháng 11 năm 1994, ông được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong làm Hồng y linh mục nhà thờ Santa Maria "Regina Pacis" in Ostia mare và trở thành vị Hồng y người Việt thứ ba được vinh thăng.[12] Ngay sau khi vinh thăng Hồng y, ông nhận thêm nhiệm vụ Giám mục giám quản Tông Toà Giáo phận Hưng Hoá vì Giám mục Chánh toà giáo phận Giuse Nguyễn Phụng Hiểu qua đời.[11]

Năm 1995, ông được bầu làm chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam và giữ chức vụ này trong 6 năm.[1] Cùng năm, ông bị ngã gẫy xương vai phải vào viện bó bột, đóng đinh và khi nghe tin Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng bị ngã, ông vẫn thảo điện thăm hỏi.[11]

Ông đã tái thiết Đại Chủng viện Hà Nội, tìm cách đối thoại với chính quyền để Giáo hội được độc lập và tự chủ hơn trong việc tuyển chọn chủng sinh, đưa các linh mục thụ phong bí mật trước đây được công nhận công khai, xúc tiến mối liên hệ giữa Toà Thánh và chính quyền Việt Nam.[3] Năm 1996, ông vừa khôi phục vừa mở rộng Hội Thầy Giảng cũ của tổng giáo phận, thành lập Tu Ðoàn Tông Ðồ Truyền Tin không chỉ cho nam giới mà cả cho nữ giới.[12].

Ngày 22 tháng 10 năm 1996, ông công bố Thư chung về vấn đề nghiện hút ma tuý ở ngoài xã hội.[11] Trong thư có câu:[11]

Ðây là một tai hoạ cho xã hội và nguy hại cho giáo hội hôm nay. Bởi vì nó phá hoại sức khoẻ, hạ thấp nhân phẩm con người, gây rối loạn trong gia đình, làm mất trật tự xã hội, đe doạ đức tin và nếp sống của người tín hữu, chẳng những cướp đi hạnh phúc trần gian mà còn đe doạ hạnh phúc đời sau nữa. Vì thế tôi khẩn thiết kêu gọi mọi người hảy chung tay góp sức chặn đứng và tẩy sạch tệ nạn này ra khỏi gia đình, giáo xứ và làng xóm chúng ta.

Năm 1997, Giáo hoàng Gioan Phaolô II gửi thư cho ông trên cương vị Chủ tịch Hội đồng giám mục Việt Nam về việc kỉ niệm 200 năm Đức Mẹ La Vang.[13]

Ngày 13 tháng 8 năm 1998, ông làm đại sứ cho giáo hoàng tại Đại hội Thánh Mẫu La Vang.[7] Ngày 1 tháng 9 cùng năm, Giám mục Chánh toà Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng Vinh Sơn Phạm Văn Dụ qua đời và ngày 10 tháng 3 năm 1999, Giám mục Chánh toà Giáo phận Hải Phòng Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương cũng qua đời.[11] Ông phải kiêm nhiệm làm Giám mục Tông Toà 2 giáo phận này. Vì vậy là ông chạy đi chạy về qua lại như con thoi.[11]

Sáng ngày 15 tháng 3 năm 1999, ông chủ sự lễ tang Giám mục Chánh toà Giáo phận Hải Phòng Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương và buổi chiều về Hà Nội làm việc với phái đoàn của Toà thánh do Ðức ông Cetetino Migiliore đẫn đầu.[11] Ngày 15 tháng 6 cùng năm, ông mất quyền tham gia Mật nghị Hồng y do đã quá tuổi quy định.

Về hưu[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 7 tháng 5 năm 2003, ông trao quyền cai quản Tổng giáo phận Hà Nội cho Tổng Giám mục Giám quản Giuse Ngô Quang Kiệt.[1]

Hồng y Phạm Đình Tụng tháng 11 năm 2005

Ngày 19 tháng 2 năm 2005, Toà Thánh chính thức cho phép ông về hưu theo Giáo luật và bổ nhiệm Tổng giám mục Giám quản Giuse Ngô Quang Kiệt làm Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội.[14]

Trước đó, khi Tổng giám mục Giám quản Tổng giáo phận Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt về làm giám quản có dư luận cho là không phải dân Hà Nội gốc và mới làm giám mục. Chính ông soạn văn thư gửi Tòa Thánh chấp thuận Giuse Ngô Quang Kiệt (kế vị mình). Trong buổi nhậm chức Tổng giám mục của Tân Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt ngày 20 tháng 2 năm 2005, ông thay mặt cộng đoàn giáo dân thuộc Tổng giáo phận Hà Nội nguyện hiệp thông và trung thành với tân Tổng giám mục, coi tân Tổng giám mục là người thầy dạy dỗ cộng đoàn.[11]

Sau khi nghỉ hưu, ông định đi nơi khác tĩnh dưỡng nhưng Tổng giám mục Giuse Kiệt xin ông ở lại không chỉ để tiện chăm sóc mà còn là chỗ nương tựa cho mình. Vậy là ông ở lại Toà Giám mục.[11]

Ngày 29 tháng 11 năm 2005, ông dự lễ phong chức cho 57 linh mục, một lịch sử chưa từng có tại Việt Nam, cho thấy một sự nới lỏng tôn giáo tại Việt Nam. Cùng đồng tế có Hồng y Crescenzio Sepe.[15]

Từ năm 2006, ông bị bệnh nặng.[7]

Ngày 25 tháng 1 năm 2008 đã diễn ra lễ mừng thọ 90 tuổi, 60 năm linh mục và 40 năm Giám mục cho hồng y Phạm Đình Tụng tại nhà thờ lớn Hà Nội dưới sự chủ trì của hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn. Ngay sau sự kiện này, hàng trăm giáo dân đã tràn vào khu vực Tòa Khâm sứ cũ trên phố Nhà Chung, tăng áp lực trong đợt cầu nguyện đòi đất làm chính quyền thành phố đau đầu.[7]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Qua đời và tẩm liệm[sửa | sửa mã nguồn]

Thi thể HY Phạm Đình Tụng

Ông qua đời vào 10 giờ sáng ngày 22 tháng 2 năm 2009, thọ 90 tuổi.[16] Lúc 5 giờ chiều ngày 22 tháng 2, các nhà thờ trong tổng giáo phận Hà Nội đã đồng loạt đánh chuông tang.[1] Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt đã làm phép thi hài cố Hồng y tại Nhà Nguyện tòa Tổng Giám mục.[1] Lúc 7 giờ sáng ngày 23 tháng 2 diễn ra nghi thức tẩm liệm và sau đó 8 giờ có lễ phát tang tại Nhà Thờ Chính Tòa và các tín hữu bắt đầu đến kính viếng linh cữu.[1]

Thư chia buồn của Giáo hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong dịp này, Giáo hoàng Biển Đức XVI đã gửi điện văn chia buồn với Tổng Giáo phận Hà Nội, cách riêng với Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt:[1]

Tôi đau buồn hay tin Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, Tổng Giám mục Hà Nội, Vị Tiền nhiệm của Đức Cha, qua đời, tôi muốn bày tỏ sự hiệp thông nồng nhiệt của tôi trong kinh nguyện với toàn thể các Giám Mục Việt Nam, tất cả các tín hữu thuộc Tổng Giáo phận Hà Nội và toàn quốc, cũng như gia đình Đức Cố Hồng Y và những người có liên hệ với cái tang này. Tôi cầu xin Chúa là Cha, nguồn mạch mọi tình thương xót, đón nhận vị Mục Tử trổi vượt này vào bên Ngài, trong an bình và ánh sáng nơi Chúa. Đức Cố Hồng Y đã phục vụ Giáo Hội trong những hoàn cảnh khó khăn với lòng can đảm lớn lao và trong niềm quảng đại trung thành với Tòa Thánh Phêrô, xả thân tận tụy rao giảng Tin Mừng. Như bảo chứng niềm an ủi, tôi thành tâm ban Phép Lành Tòa Thánh cho Đức Cha, Đức Cha Phụ Tá, các Giám Mục Việt Nam, các linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội, cũng như thân nhân của Đức Cố Hồng Y và những người tham dự lễ an táng.

Hoạt động trước tang lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng y Tarcisio Bertone, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, Giám mục Chánh toà Giáo phận Đà Lạt Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch Hội đồng giám mục Việt Nam, các giám mục của các giáo phận trên cả nước, linh mục Jean-Baptiste Etcharren, Bề trên Tổng quyền Hội thừa sai Paris, và các bề trên các dòng và linh mục, tu sĩ, chủng sinh, giáo dân trong và ngoài nước đã gửi điện văn hoa phúng viếng, dâng thánh lễ, đọc kinh cầu nguyện cho ông liên tục đến tận nửa đêm 25 tháng 02 đến rạng sáng 26 tháng 2 năm 2009 bên linh cữu ông.[4]

Cũng trong dịp này, các phái đoàn ngoại giao tại Hà Nội, chính quyền thành phố Hà Nội, đông đảo đại diện các tôn giáo bạn cũng đã đến viếng ông, phân ưu với Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt và giáo phận Hà Nội:[4] Chiều 23 tháng 2, đoàn đại biểu Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội do Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Đào Văn Bình dẫn đầu đã đến viếng ông tại Nhà thờ Lớn Hà Nội. Ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã gửi vòng hoa viếng. Cùng ngày, đoàn đại biểu Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội và Ban Tôn giáo Thành phố đã đến viếng Hồng y Phạm Đình Tụng.[17]

Thánh lễ an táng[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh lễ an táng ông do Hồng y - Tổng giám mục Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn - được Giáo hoàng Biển Đức XVI cử làm đặc sứ đại diện Tòa Thánh chủ tọa thánh lễ an táng ngày 26 tháng 2.[4] Ðúng 9g đoàn đồng tế gồm Hồng y Mẫn, Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt, Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn và các giám mục, linh mục đến từ 26 giáo phận và các dòng tu trên cả nước.[4] Tham dự thánh lễ là cả một rừng người chật kín các phố khu vực Nhà thờ Chánh tòa như nhà thờ, Nhà Chung, Lý Quốc Sư, sân trước Văn phòng giáo xứ Chính tòa, đường kiệu chung quanh nhà thờ...[4] Linh mục Nguyễn Văn Thật, một trong những người tham dự thánh lễ an táng chia sẻ quang cảnh buổi lễ:[18]

Sáng nay dự lễ an táng, tôi tham gia đồng tế với các linh mục khác, chừng 300. Giáo dân thì tôi không đếm được nhưng người ta đoán chừng 20 ngàn người

Tuy vậy, nguồn quốc tế lại cho rằng số người tham dự tang lễ ông ít nhất là 30.000 người và khoảng 500 linh mục.[19] Tất cả các người tham dự đều đeo băng tang trắng.[19] Tang lễ cũng có sự tham dự của đại diện chính phủ và các tôn giáo khác, các đại diện ngoại giao của Đại sứ quán Mỹ, cộng đồng người Hàn Quốc, và các cơ quan đại diện nước ngoài của Paris.[19]

Linh cữu của ông được an táng trong cung lòng nhà thờ Chính Toà Hà Nội.[1]

Lễ giỗ[sửa | sửa mã nguồn]

Chiều ngày 2 tháng 6 năm 2009, tại Nhà thờ Chính Toà Hà Nội đã diễn ra một Thánh lễ cầu nguyện cho Cố Hồng y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, nhân kỷ niệm 100 ngày ông qua đời.[1] Thánh lễ do Tổng giám mục kế vị Giuse Ngô Quang Kiệt chủ sự. Cùng đồng tế là Giám mục Chánh toà Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Phụ tá Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh Phêrô Nguyễn Văn Khảm cùng khoảng 200 linh mục của giáo tỉnh Hà Nội.[1]

Vào sáng ngày 22 tháng 2 năm 2010, tại Nhà thờ Chính toà Hà Nội đã diễn ra một Thánh lễ cầu nguyện cho ông, nhân kỷ niệm một năm ông qua đời.[20]

Thánh lễ do Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt chủ sự. Cùng đồng tế có các giám mục từ các giáo phận trong giáo tỉnh Hà Nội: Giám mục Phaolô Maria Cao Đình Thuyên, Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Giuse Nguyễn Văn Yến, Giám mục Cosma Hoàng Văn Đạt, Giuse Hoàng Văn Tiệm, Giuse Nguyễn Chí Linh, Giuse Vũ Văn Thiên, Antôn Vũ Huy Chương, Lôrensô Chu Văn Minh, và khoảng 150 linh mục của Tổng giáo phận Hà nội, Lạng Sơn, Bắc Ninh.[20]

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hoàng Biển Đức XVI đã nói về ông:[4]

Một vị mục tử xuất sắc, đã phục vụ Giáo Hội trong những hoàn cảnh khó khăn với lòng can đảm vô song và sự trung thành, hết sức quảng đại với Tòa thánh Phêrô, đã xả thân không tính toán cho việc loan báo Tin Mừng.

Giám mục Phụ tá Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh Phêrô Nguyễn Văn Khảm nhận xét về ông trong lễ giỗ 100 ngày:[1]

Chúng ta thấy rõ hơn con tim của Đức cố Hồng y Phaolô Giuse - một Trái Tim không ngủ yên! Một trái tim không ngủ yên trước những nhu cầu của dân Chúa, và vì thế, cho dù hoàn cảnh bên ngoài có khó khăn đến đâu đi nữa thì trái tim không ngủ yên ấy vẫn thúc đẩy ngài tìm mọi cách để nuôi sống dân Chúa, để đáp ứng nhu cầu của dân Chúa. Chính vì hoàn cảnh khó khăn bên ngoài không thể dập tắt nhiệt tình của trái tim không ngủ yên ấy cho nên những khó khăn ấy vẫn không thể dập tắt sức sống đức tin của anh chị em giáo dân.

Giáo hoàng Biển Đức XVI nói trong Huấn từ với Hội đồng Giám mục Việt Nam dịp các Giám mục Việt Nam thăm viếng Toà Thánh (Ad Lima) tháng 06 năm 2009:[8]

Tôi muốn tưởng nhớ ở đây Đức Hồng Y đáng kính Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, Tổng Giám mục Hà Nội trong nhiều năm. Cùng với Anh Em, tôi tạ ơn Thiên Chúa vì lòng nhiệt thành mục tử của Ngài đã thể hiện cách khiêm nhường, với tình yêu hiền phụ sâu xa đối với đoàn dân của Ngài và tình huynh đệ lớn lao đối với các linh mục.

Bảng tóm tắt chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l “Lễ giỗ 100 ngày cố Hồng Y Phạm Đình Tụng: một Trái Tim không ngủ yên”. Việt Catholic. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  2. ^ a ă “Lễ giỗ Đức Cố Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng tại Nhà Thờ Chính Tòa Hà Nội”. TGP. Hà Nội. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ “ĐHY Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng - chứng nhân lịch sử GHVN- đã qua đời”. Việt Catholic. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  4. ^ a ă â b c d đ “Vĩnh Biệt Ðức Cố Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Ðình Tụng”. Catholic. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  5. ^ Về sau được thăng Giám mục.
  6. ^ a ă “Chuỗi ngày thử thách trong cuộc đời Ðức Hồng Y Phạm đình Tụng.”. Catholic. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2015. 
  7. ^ a ă â b “Giáo Hoàng chia buồn vì Hồng y qua đời”. BBC Tiếng việt. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  8. ^ a ă â b c “Đức Hồng y Phaolô Giuse PHẠM ĐÌNH TỤNG (1919–2009)”. HĐGMVN. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  9. ^ a ă â “Niên lịch sử giáo phận Bắc Ninh”. GP. Bắc Ninh. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  10. ^ “Tòa Giám Mục GP Bắc Ninh”. CPN. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  11. ^ a ă â b c d đ e ê g h “Mấy kỷ niệm về Ðức Hồng y Phaolô Giuse Phạm Ðình Tụng”. Catholic. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  12. ^ a ă “Một Công nghị Hồng y đã rất gần - Sẽ có tân Hồng y Việt Nam?”. Simon Hoà Đà Lạt. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  13. ^ “LETTER OF HIS HOLINESS POPE JOHN PAUL II TO CARDINAL PAUL JOSEPH PHAM DÌNH TUNG ARCHBISHOP OF HÀ NÔI PRESIDENT OF THE EPISCOPAL CONFERENCE OF VIÊT NAM FOR BICENTENARY OF THE VIRGIN MARY'S APPARITIONS IN LA VANG”. Vatican. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  14. ^ “Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm Ðức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt làm Giám Quản Tông Tòa Tổng Giáo Phận Hà Nội”. Catholic. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2015. 
  15. ^ “Thousands Attend Unprecedented Catholic Ordination”. Getty Images. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2015. 
  16. ^ “Hồng y Phạm Đình Tụng qua đời”. BBC Tiếng Việt. 22 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2009. 
  17. ^ “Hồng y Phaolo Giuse Phạm Đình Tụng qua đời”. Tin mới. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  18. ^ “Lễ an táng Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng”. RFI. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  19. ^ a ă â “Cardinal Pham Dinh Tung, a model for all Vietnamese”. Asia News. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  20. ^ a ă “Thánh Lễ Giỗ một năm Đức Cố Hồng y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng”. HĐGMVN. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]