Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hồng y
 Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng
Hồng y thứ 3 Việt Nam (1994 - 2009)
Tổng giám mục Trưởng Giáo tỉnh Hà Nội
(1994 - 2005)
Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Hà Nội (1994 - 2005)
Đức Cha Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng.jpg
Giáo hộiCông giáo Rôma
Chức vụ chính yếu
Trưởng Giáo tỉnh Hà Nội
Tổng giám mục đô thành Hà Nội
Giáo tỉnhGiáo tỉnh Hà Nội
TòaTổng giáo phận Hà Nội
Bổ nhiệmNgày 13 tháng 4 năm 1994
Tựu nhiệmNgày 14 tháng 8 năm 1994
Hết nhiệmNgày 19 tháng 2 năm 2005
Tiền nhiệmGiuse Maria Trịnh Văn Căn
Kế nhiệmGiuse Ngô Quang Kiệt
Giám mục Tiên khởi Bắc Ninh
Giáo tỉnhGiáo tỉnh Hà Nội
TòaGiáo phận Bắc Ninh
Bổ nhiệmNgày 5 tháng 4 năm 1963
Tựu nhiệmNgày 5 tháng 10 năm 1963
Hết nhiệmNgày 23 tháng 3 năm 1994
Tiền nhiệmTiên khởi
Giám mục phụ tá.png Đa Minh Hoàng Văn Đoàn
(Đại diện Tông Tòa Bắc Ninh)
Kế nhiệmGiuse Maria Nguyễn Quang Tuyến
Các chức khác
Truyền chức
Thụ phongNgày 6 tháng 6 năm 1949
Tấn phongNgày 15 tháng 8 năm 1963
Thăng Hồng yNgày 26 tháng 11 năm 1994
Thông tin cá nhân
SinhNgày 20 tháng 5 năm 1919
Yên Mô, Phát Diệm
Mất22 tháng 2, 2009(2009-02-22) (89 tuổi)
Hà Nội
Nơi an tángNhà thờ chính tòa Hà Nội
Khẩu hiệuTôi tin vào tình yêu Thiên Chúa
Cách xưng hô với
Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng
Coat of arms of Paul Joseph Pham Dinh Tung.svg
Danh hiệuĐức Hồng Y
Trang trọngĐức Hồng Y
Thân mậtCha
Sau khi chếtĐức Cố Hồng Y
Khẩu hiệuTôi tin vào tình yêu Thiên Chúa
TòaTổng Giáo phận Hà Nội

Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng (19192009) là một hồng y Công giáo người Việt Nam. Ông là vị hồng y thứ ba của Việt Nam, được vinh thăng sau hai vị Hồng y đầu tiên là Giuse Maria Trịnh Như Khuê và thứ hai là Giuse Maria Trịnh Văn Căn. Ông cũng từng là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam hai khoá liên tiếp từ năm 1995 đến năm 2001.[1] Hồng y Tụng là người nhận chức vụ Tổng giám mục cao tuổi nhất trong lịch sử giáo hội Công giáo tại Việt Nam khi đã 75 - 76 tuổi.[2]

Phạm Đình Tụng trong một gia đình Công giáo làm nghề nông tại Ninh Bình. Bắt đầu con đường tu học từ năm 1925, trải qua nhiều giai đoạn khó khăn do chiến sự và tu học tại nhiều nơi, cuối cùng, phó tế Phạm Đình Tụng được thụ phong chức Linh mục tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội tháng 6 năm 1949. Sau khi được truyền chức linh mục, linh mục Tụng được bổ nhiệm làm phó xứ rồi nhanh chóng trở thành chính xứ giáo xứ Hàm Long, Hà Nội.

Tháng 4 năm 1963, Tòa Thánh bổ nhiệm linh mục Phạm Đình Tụng làm Giám mục chính tòa Giáo phận Bắc Ninh. Tân giám mục được tấn phong Giám mục sau đó ngày 15 tháng 8 bởi chủ phong là Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội Giuse Maria Trịnh Như Khuê. Khẩu hiệu Giám mục của ông là Tôi tin vào tình yêu Thiên Chúa.

Tháng 7 năm 1990, giám mục Phạm Đình Tụng được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám quản Tông tòa Giáo phận Hà Nội, kiêm chức Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội. Ngày 13 tháng 4 năm 1994, ông chính thức được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Hà Nội.[3] Tháng 11 năm 1994, Tổng giám mục Tụng được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong làm Hồng y linh mục nhà thờ Santa Maria "Regina Pacis" in Ostia mare.

Đầu tháng 5 năm 2003, Hồng y Phạm Đình Tụng trao quyền cai quản Tổng giáo phận Hà Nội cho Giám quản Tông Tòa Giuse Ngô Quang Kiệt. Ngày 19 tháng 2 năm 2005, Toà Thánh chính thức cho phép ông về hưu theo Giáo luật khi bổ nhiệm Tổng giám mục kế vị chính là giám mục giám quản Ngô Quang Kiệt.

Thân thế & tu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm Đình Tụng sinh ngày 20 tháng 5 năm 1919 trong một gia đình Công giáo làm nghề nông tại thôn Cầu Mễ, xã Yên Thắng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, thuộc giáo xứ Quảng Nạp, Giáo phận Phát Diệm. Thân phụ ông là ông Phêrô Phạm Văn Hiến, một người thông thạo chữ quốc ngữ và chữ Nho nên giữ chức Phó lý trong làng. Thân mẫu ông là bà Anna Nguyễn Thị Bống vốn hiền lành, có lòng thương người.[3][4]

Lên sáu tuổi (1925), cậu bé Phạm Đình Tụng nhập học tiểu học tại trường làng. Chỉ hai năm sau đó, cha nuôi cậu là linh mục Phêrô Phạm Bá Trực đưa lên học tại giáo xứ Kẻ Sét, Hà Nội. Đến năm 1929, cậu bé Phạm Đình Tụng may mắn đậu vớt và được nhập học Trường Tập Hà Nội.[3] Nhắc nhớ chi tiết về vấn đề gia nhập trường tập của cậu bé Tụng, giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa có lời kể chi tiết:[5]

Năm 1929, Tràng (Trường) tập được thiết lập tại Hà nội, tọa lạc tại chính cơ sở của Ðại chủng viện ngày nay. Ðầu niên khóa 1931 - 1932, cũng như mọi năm, Tràng (Trường) tập tổ chức thi tuyển để chọn học sinh vào lớp mới với con số tối đa khoảng trên 30 em. Lần đó, chú Phaolô Phạm Ðình Tụng bị lọt sổ, chỉ suýt nữa trúng tuyển, có nghĩa là bị trượt, bị rớt. Nhưng chú vui vẻ về lại xứ Khoan Vĩ với cha nghĩa phụ Phêrô Phạm Bá Trực. Bỗng mấy ngày sau, một tin vui đưa tới, chú lại nhận được giấy gọi từ cha Décréaux, Bề trên Tràng tập gửi về Khoan Vĩ, gọi chú Tụng lên Tràng tập nhập lớp mới, vì có một chú, tuy đã trúng tuyển nhưng bị bệnh không thể tiếp tục học được phải rút lui, nên chú Tụng được gọi lên lấp vào chỗ trống. Chú Tụng mừng quá chừng, khi được đậu vớt và đã rất chăm chỉ học tập.

Chỉ sau hai năm nhập học Trường Tập, Phạm Đình Tụng là người đầu tiên thi đậu bằng sơ học yếu lược (Certificat d'étude Primaire)[4] và được tuyển vào Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Hà Đông.[3] Trong những năm ở Tiểu chủng viện, Phạm Đình Tụng là một học sinh gương mẫu, luôn đứng đầu lớp về đời sống đạo đức, kỉ luật...[4] Sau khi tốt nghiệp Tiểu Chủng viện năm 1939, chủng sinh Tụng được cử đi phục vụ tại giáo xứ Xuy Xá, thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông.

Năm 1940, chủng sinh Phạm Đình Tụng theo học tại Đại Chủng viện Liễu Giai, Hà Nội. Năm 1942, cậu được bổ nhiệm đến phục vụ tại giáo xứ Khoan Vĩ, thuộc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, là nơi Linh mục Phêrô Phạm Bá Trực đang làm linh mục chánh xứ. Sau một năm tại Khoan Vĩ, chủng sinh Phạm Đình Tụng tiếp tục con đường tu học bằng việc trở về Đại chủng viện tiếp tục tu học.[3]

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám nổ ra, chủng sinh Phạm Đình Tụng tạm hoãn việc học do Đại chủng viện Liễu Giai tạm ngưng hoạt động. Hơn một năm sau đó, tháng 9 năm 1946, Đại Chủng viện Liễu Giai tái mở cửa, chủng sinh Tụng quay trở lại Chủng viện học tập. Thời gian quay về học tập ngắn ngủi của chủng sinh Phạm Đình Tụng chỉ 3 tháng, vì ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh bùng nổ, Đại Chủng viện bị quân Pháp trưng dụng, một lần nữa phải ngưng hoạt động. Mãi đến năm 1948, chủng sinh Phạm Đình Tụng mới có thể tiếp tục học để hoàn tất chương trình thần học tại Học viện Dòng Chúa Cứu Thế tại Thái Hà, Hà Nội. Một năm sau, Đại Chủng viện Hà Nội mới được thành lập lại ở số 40 Nhà Chung, cậu chuyển về học tại đây.[3]

Linh mục[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khoảng thời gian dài tu học, ngày 6 tháng 6 năm 1949, Phó tế Phạm Đình Tụng được thụ phong chức Linh mục tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội và được cử về làm Tuyên úy Cô nhi viện Têrêsa tại Quần Ngựa, do linh mục người Pháp là Léon Seitz Kim làm giám đốc.[6] Trước khi được cử hành nghi thức truyền chức linh mục, vị linh mục tân cử mất đi người mẹ của mình. Khi hay tin con trai sắp được truyền chức linh mục, bà đi thuyền từ Phát Diệm đến Hà Nội để mua áo lễ và chén thánh cho con. Bất chấp nguy hiểm của thời chiến, con đường đi lại chính yếu tại thời điểm giữa Phát Diệm và Hà Nội là những chiếc canô. Trên hành trình này, mẹ Phó tế Phạm Đình Tụng trúng một phát đạn khi ca nô di chuyển trên sông tại khu vực gần Ðò Lèn. Bà qua đời và xác cũng không được tìm thấy.[7]

Sau khi được truyền chức, linh mục Phaolô Phạm Đình Tụng tình nguyện đến trợ giúp các trẻ em mồ côi tại Cô Nhi Viện Têrêsa do linh mục Seilz Kim thành lập. Năm 1950, linh mục Tụng được bổ nhiệm đảm trách vai trò linh mục phó giáo xứ Hàm Long, Hà Nội.[4] Ngày 18 tháng 4 năm 1950, linh mục Tụng trở thành linh mục chánh xứ giáo xứ này, kế nhiệm linh mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê được chọn làm Giám mục Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Hà Nội (Địa phận Hà Nội).

Nhằm giúp đỡ các nạn nhân nghèo khổ do chiến tranh, vốn từ các vùng nông thôn đến Hà Nội, linh mục Phạm Đình Tụng cho thành lập nhà tế bần Bạch Mai vào năm 1953.[3] Một năm sau đó, vấn đề di cư miền Nam, rất nhiều linh mục trong địa phận Hà Nội di cư vào Nam. Linh mục Phạm Đình Tụng từng hai đến ba lần đi theo giáo dân giáo xứ vào Nam, lo liệu và giúp đỡ họ trong thời gian định cư, nhưng sau đó lại trở về phục vụ giáo dân tại Hàm Long.[7]

Quyết định không di cư vào Nam, năm 1955, linh mục Phạm Đình Tụng được bổ nhiệm làm giám đốc Tiểu Chủng viện Thánh Gioan Hà Nội – một tiểu chủng viện liên giáo phận với khoảng hơn 200 chủng sinh thuộc hầu hết các giáo phận ở Miền Bắc lúc bấy giờ.[3] Vì muốn bảo vệ sự độc lập của giáo hội Công giáo trong lãnh vực đào tạo giáo sĩ, ông đã cùng các vị có trác nhiệm ra quyết định cho các chủng sinh về lại các giáo phận của mình, chấp nhận giải tán tiểu chủng viện vào năm 1960.[8]

Giám mục Bắc Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Tân giám mục Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng

Ngày 5 tháng 4 năm 1963, Tòa Thánh loan tin Giáo hoàng Gioan XXIII bổ nhiệm linh mục Giuse Maria Phạm Đình Tụng làm Giám mục chính tòa Giáo phận Bắc Ninh. Lễ tấn phong cho vị giám mục Tân cử được tổ chức tại tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội ngày 15 tháng 8 cùng năm, với phần nghi thức chính yếu được cử hành bởi Chủ phong là Tổng giám mục Tiên khởi Tổng giáo phận Hà Nội Giuse Maria Trịnh Như Khuê. Tân giám mục chọn cho mình khẩu hiệu: Tôi tin vào tình yêu Thiên Chúa.[1]

Giáo phận Bắc Ninh là một giáo phận trải dài từ Đồng bằng Sông Hồng đến giáp biên giới Việt Trung gồm "năm tỉnh trực thuộc và 7 tỉnh liên hệ". Số linh mục già yếu ở lại giáo phận sau cuộc di cư 1954 đếm được trên đầu các ngón tay![9] Tân giám mục Phạm Đình Tụng chính thức về nhận giáo phận ngày lễ Đức Mẹ Mân Côi 5 tháng 10 năm 1963.[10] Ngay trong năm đầu tiên quản lý giáo phận, Giám mục Phạm Đình Tụng đã sáng lập Tu Hội Đức Mẹ Hiệp Nhất, ban đầu gồm 20 thành viên. Nay tổ chức này có tên Hiệp hội Đức Mẹ Hiệp Nhất, là Hội Dòng thuộc quyền giáo phận với số thành viên trên 150 người.[4]

Trong thời kỳ khó khăn, Phạm Đình Tụng không thể thành lập chủng viện đào tạo chủng sinh, chính vì vậy, Phạm Đình Tụng quyết định đào tạo chủng sinh bằng phương pháp hàm thụ. Tháng 9 năm 1974, ông tấn phong bí mật chức linh mục cho 7 phó tế. Vì địa bàn giáo phận rộng lớn, số linh mục lại quá ít, Giám mục Phạm Đình Tụng cho xây dựng và huấn luyện thành phần tông đồ giáo dân. Ban hành giáo trở nên những cộng sự viên cho việc mục vụ: chủ sự suy tôn Lời Chúa, rửa tội cho trẻ sơ sinh, giảng dạy giáo lý, quản lý đất đai, tài sản của giáo xứ. Cũng trong thời gian này ông cho hành lập các đoàn thể Công giáo như: Huynh đoàn Đaminh giáo dân, Hội các bà mẹ Công giáo, Ca đoàn, Giới trẻ, Giáo lý viên, Thiếu nhi Thánh Thể...[4] Ngoài ra, ông cũng cho in Kinh bản giáo phận, cổ vũ lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa. Năm 1983, ông tổ chức đại lễ mừng 100 năm thành lập Giáo phận Bắc Ninh.[10]

Hơn 20 năm giám mục Tụng không được ra khỏi Tòa Giám mục để thi hành mục vụ. Vì thế, Tòa giám mục Bắc Ninh đã thật sự trở thành Nhà Chung của giáo phận. Hàng ngày, ông cùng ăn, cùng đọc kinh chung với giáo dân. Trong thời kỳ khó khăn mà nhà ăn Tòa Giám mục thường xuyên đông vui, đầm ấm. Những ngày lễ trọng, ông kêu gọi và tổ chức cho giáo dân "góp gạo thổi cơm chung".[9] Nhân lễ mừng ngân khánh giám mục, hơn 30.000 tín hữu tới chúc mừng Phạm Đình Tụng vào ngày 15 tháng 8 năm 1988. Sức khỏe hao mòn, giám mục Phạm Đình Tụng lo liệu và thỉnh cầu Tòa Thánh bổ nhiệm giám mục phó. Thỉnh nguyện được chuẩn thuận và bổ nhiệm giám mục Giuse Maria Nguyễn Quang Tuyến, tấn phong tháng 1 năm 1989.[4]

Năm 1992, giáo phận Bắc Ninh tổ chức kỉ niệm Bách Chu Niên Nhà thờ Chính tòa, Phạm Đình Tụng khánh thành Tòa giám mục mới và mở năm Toàn Xá trong giáo phận. Sau khi xã hội cơi mờ, Phạm Đình Tụng thực hiện thăm mục vụ nhiều giáo xứ trong giáo phận. Trong thời kỳ giám mục Bắc Ninh, giám mục Tụng đã xây dựng Bắc Ninh trở thành một giáo phận ấm cúng như gia đình, chan chứa tình cha con và có lòng tin mến vững chắc. Khi chia tay giáo phận để về làm Tổng Giám mục Hà Nội, Phạm Đình Tụng chia sẻ: "Tuy cha rời giáo phận, nhưng tâm hồn cha vẫn luôn ở với gia đình Bắc Ninh, cha luôn cầu nguyện cho các con".[4]

Về sau, trong lễ giỗ 100 ngày của ông, Giám mục Phụ tá Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh Phêrô Nguyễn Văn Khảm nhận xét, tưởng nhớ về thời kì này của Hồng y Tụng:[1]

Chúng tôi được nghe kể là Đức cố Hồng y Phaolô Giuse trong hoàn cảnh hết sức khó khăn về mặt xã hội mà lại thiếu thốn về nhân sự, Ngài đã biến Toà Giám mục Bắc Ninh của mình thành một trung tâm hành hương để mỗi tuần, vào Chúa nhật, từng đoàn người đông đảo khắp nơi đổ về đó, Ngài lo cho có chỗ ăn chỗ ngủ rồi lo dạy giáo lý, làm lễ, ban các bí tích cho anh chị em giáo dân. Tất cả mọi người đều nhìn thấy nơi Đức cố Hồng y hình ảnh của một người Cha hết lòng yêu thương chăm sóc con cái trong giáo phận.

Tổng giám mục Hà Nội, thăng Hồng y[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Phạm Đình Tụng

Ngày 5 tháng 7 năm 1990, Phạm Đình Tụng được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám quản Tông tòa Giáo phận Hà Nội, kiêm chức Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội.[9] Tổng giáo phận Hà Nội vốn trống tòa sau cái chết của Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn.[4] Bốn năm sau đó, ngày 23 tháng 3 năm 1994, ông chính thức được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục đô thành Tổng giáo phận Hà Nội.[11][12]

Lễ nhậm chức Tổng giám mục của ông cử hành vào ngày 14 tháng 8 năm 1994.[13] Khi đó, dư luận lo ngại rằng: đây là giải pháp tình thế của hoàn cảnh, chứ cụ già đã đến tuổi làm đơn nghỉ hưu theo giáo luật (khi đó ông 75 tuổi),[2] lại gầy gò ốm yếu thì còn đâu mà sức lực làm việc? Ông vào nhà thờ và quỳ, đề nghị mọi người thinh lặng tưởng nhớ linh mục Phạm Bá Trực- người cha linh hướng của mình, tưởng nhớ Hồng y Giuse Maria Trịnh Như Khuê - người nâng đỡ và tấn phong giám mục cho ông năm 1963. Lời chia sẻ của ông đầy ưu tư:[13]

Thưa anh chị em thân mến, tôi về nhận giáo phận trong giai đoạn nước nhà đổi mới. Giáo hội cũng cần thích nghi theo nhịp đổi mới của dân tộc. Biết bao công việc phải làm, biết bao vấn đề cần giải quyết. Nhiều nhà thờ xuống cấp lâu ngày, hư hỏng vì chiến tranh cần tu sửa, nhiều giáo xứ thiếu thánh lễ đang mong chờ có linh mục khôn ngoan, đạo đức hết mình phục vụ theo gương Thày Chí Thánh... Các em thiếu nhi cần được giúp đỡ để nâng cao trình độ giáo lý và văn hoá. Các thanh niên chuẩn bị bước vào đời cần được hướng dẫn trở nên giáo dân tốt"...

Ngay sau khi nhận giáo phận Hà Nội, ông tấn phong tân giám mục Phụ tá Phaolô Lê Đắc Trọng ngày 15 tháng 8 năm 1994.[4]

Hồng y Tụng nhận mũ Hồng y năm 1994

Chỉ sau 3 tháng tiếp nhận vai trò Tổng giám mục Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 1994, ông được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong làm Hồng y linh mục nhà thờ Santa Maria "Regina Pacis" in Ostia mare và trở thành vị Hồng y người Việt thứ ba được vinh thăng.[14] Ngay sau khi vinh thăng Hồng y, ông nhận thêm nhiệm vụ Giám mục giám quản Tông Toà Giáo phận Hưng Hoá vì Giám mục chính tòa giáo phận Giuse Nguyễn Phụng Hiểu qua đời.[13]

Năm 1995, ông được bầu làm chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam và giữ chức vụ này trong 6 năm (2 nhiệm kỳ).[1] Cùng năm, ông bị ngã gẫy xương vai phải vào viện bó bột, đóng đinh và khi nghe tin Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng bị ngã, ông vẫn thảo điện thăm hỏi.[13]

Ông đã tái thiết Đại Chủng viện Hà Nội, tìm cách đối thoại với chính quyền để Giáo hội được độc lập và tự chủ hơn trong việc tuyển chọn chủng sinh, đưa các linh mục thụ phong bí mật trước đây được công nhận công khai, xúc tiến mối liên hệ giữa Toà Thánh và chính quyền Việt Nam.[3] Năm 1996, ông vừa khôi phục vừa mở rộng Hội Thầy Giảng cũ của tổng giáo phận, thành lập Tu Ðoàn Tông Ðồ Truyền Tin không chỉ cho nam giới mà cả cho nữ giới.[15]

Năm 1996, ông dẫn đầu phái đoàn các giám mục Việt đi viếng thăm Tòa Thánh - Ad Limina. Ngày 1 tháng 8 cùng năm, ông cho thành lập Tu Hội Anh Em Nhà Chúa vốn kế nghiệp Hội Thầy Giảng. Hiện nay Tu Hội có danh xưng mới là Tu đoàn Truyền Tin Hà Nội. [4] Ngày 22 tháng 10 năm 1996, ông công bố Thư chung về vấn đề nghiện hút ma tuý ở ngoài xã hội. Trong thư có câu:

Ðây là một tai hoạ cho xã hội và nguy hại cho giáo hội hôm nay. Bởi vì nó phá hoại sức khoẻ, hạ thấp nhân phẩm con người, gây rối loạn trong gia đình, làm mất trật tự xã hội, đe doạ đức tin và nếp sống của người tín hữu, chẳng những cướp đi hạnh phúc trần gian mà còn đe doạ hạnh phúc đời sau nữa. Vì thế tôi khẩn thiết kêu gọi mọi người hảy chung tay góp sức chặn đứng và tẩy sạch tệ nạn này ra khỏi gia đình, giáo xứ và làng xóm chúng ta.[13]

Năm 1997, Giáo hoàng Gioan Phaolô II gửi thư cho ông trên cương vị Chủ tịch Hội đồng giám mục Việt Nam về việc kỉ niệm 200 năm Đức Mẹ La Vang.[16]

Phạm Đình Tụng được ủy quyền đại sứ cho giáo hoàng tại Đại hội Thánh Mẫu La Vang tổ chức vào ngày 13 tháng 8 năm 1998.[8] Ngày 1 tháng 9 cùng năm, Giám mục chính tòa Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng Vinh Sơn Phạm Văn Dụ qua đời và ngày 10 tháng 3 năm 1999, Giám mục chính tòa Giáo phận Hải Phòng Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương cũng qua đời. Ông phải kiêm nhiệm làm Giám mục Tông Toà 2 giáo phận này. Vì vậy là ông chạy đi chạy về qua lại như con thoi. Sáng ngày 15 tháng 3 năm 1999, ông chủ sự lễ tang Giám mục chính tòa Giáo phận Hải Phòng Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương và buổi chiều về Hà Nội làm việc với phái đoàn của Toà thánh do Ðức ông Cetetino Migiliore đẫn đầu. Ngày 15 tháng 6 cùng năm, ông mất quyền tham gia Mật nghị Hồng y do đã quá tuổi quy định.[13] Ngày 7 tháng 11, với tư cách Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông viết thư xin cứu trợ cho trận lũ lịch sử tại miền Trung Việt Nam từ 1 đến 6 tháng 11 năm 1999.[17]

Trong thời gian quản lý Tổng giáo phận Hà Nội, ông thường quan tâm tổ chức các kỳ thường huấn linh mục, cổ võ ơn gọi tu trì và thăm viếng mục vụ nhiều giáo xứ. Ngoài ra, ông đã ra nhiều thư chung gửi giáo dân. Trong thời kỳ làm Giám đốc Đại chủng viện Hà Nội từ năm 1990 đến năm 2003, Phạm Đình Tụng dùng nhiều phương thức củng cố và phát triển Đại chủng viện. Ông cũng dành thời gian quan tâm đến việc huấn dụ và cử hành lễ cho các chủng sinh học tại đây.[4]

Về hưu[sửa | sửa mã nguồn]

Do tuổi cao và nhiều công việc mục vụ, Hồng y Phạm Đình Tụng nhiều lần đau bệnh nên quyết định cử hành lễ tại phòng riêng. Chinh vì vậy, nhiều lần ông viết thư xin Tòa Thánh cho hồi hưu. Ngày 26 tháng 4 năm 2003, Giáo hoàng chấp thuận việc này bằng việc bổ nhiệm Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt, Giám mục chính tòa Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng, làm Giám quản Tông tòa Tổng Giáo phận Hà Nội.[4] Ngày 7 tháng 5 năm 2003, ông trao quyền cai quản Tổng giáo phận Hà Nội cho Giám quản Tông Tòa Giuse Ngô Quang Kiệt.[1]

Hồng y Phạm Đình Tụng tháng 11 năm 2005

Ngày 19 tháng 2 năm 2005, Toà Thánh chính thức cho phép ông về hưu theo Giáo luật và bổ nhiệm Tổng giám mục Giám quản Giuse Ngô Quang Kiệt làm Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội.[18]

Trước đó, khi Tổng giám mục Giám quản Tổng giáo phận Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt về làm giám quản có dư luận cho là không phải dân Hà Nội gốc và mới làm giám mục. Chính ông soạn văn thư gửi Tòa Thánh chấp thuận Giuse Ngô Quang Kiệt (kế vị mình). Trong buổi nhậm chức Tổng giám mục của Tân Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt ngày 20 tháng 2 năm 2005, ông thay mặt cộng đoàn giáo dân thuộc Tổng giáo phận Hà Nội nguyện hiệp thông và trung thành với tân Tổng giám mục, coi tân Tổng giám mục là người thầy dạy dỗ cộng đoàn. Sau khi nghỉ hưu, ông định đi nơi khác tĩnh dưỡng nhưng Tổng giám mục Giuse Kiệt xin ông ở lại không chỉ để tiện chăm sóc mà còn là chỗ nương tựa cho mình. Do đó, ông ở lại Toà Giám mục.[13]

Ngày 29 tháng 11 năm 2005, ông dự lễ phong chức cho 57 linh mục, một lịch sử chưa từng có tại Việt Nam, cho thấy một sự nới lỏng tôn giáo tại Việt Nam. Cùng đồng tế có Hồng y Crescenzio Sepe.[19]

Từ năm 2006, Phạm Đình Tụng bị bệnh nặng.[8] Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt, linh mục, nam nữ tu sĩ và giáo dân từ các nơi đến thăm ông và cầu nguyện cho ông. Sau đó, ông qua cơn nguy kịch và dần phục hồi sức khỏe.[4]

Ngày 25 tháng 1 năm 2008 đã diễn ra lễ mừng thọ 90 tuổi, 60 năm linh mục và 40 năm Giám mục cho hồng y Phạm Đình Tụng tại nhà thờ lớn Hà Nội dưới sự chủ trì của hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn. Ngay sau sự kiện này, hàng trăm giáo dân đã tràn vào khu vực Tòa Khâm sứ cũ trên phố Nhà Chung, tăng áp lực trong đợt cầu nguyện đòi đất làm chính quyền thành phố đau đầu.[8]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Qua đời và tẩm liệm[sửa | sửa mã nguồn]

Thi thể HY Phạm Đình Tụng

Ông qua đời vào 10 giờ sáng ngày 22 tháng 2 năm 2009, thọ 90 tuổi.[20] Lúc 5 giờ chiều ngày 22 tháng 2, các nhà thờ trong tổng giáo phận Hà Nội đã đồng loạt đánh chuông tang. Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt đã làm phép thi hài cố Hồng y tại Nhà Nguyện tòa Tổng Giám mục. Lúc 7 giờ sáng ngày 23 tháng 2 diễn ra nghi thức tẩm liệm và sau đó 8 giờ có lễ phát tang tại nhà thờ chính tòa và các tín hữu bắt đầu đến kính viếng linh cữu.[1]

Thư chia buồn của Giáo hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong dịp này, Giáo hoàng Biển Đức XVI đã gửi điện văn chia buồn với Tổng Giáo phận Hà Nội, cách riêng với Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt:[1]

Tôi đau buồn hay tin Đức Hồng y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, Tổng Giám mục Hà Nội, Vị Tiền nhiệm của Đức Cha, qua đời, tôi muốn bày tỏ sự hiệp thông nồng nhiệt của tôi trong kinh nguyện với toàn thể các Giám mục Việt Nam, tất cả các tín hữu thuộc Tổng Giáo phận Hà Nội và toàn quốc, cũng như gia đình Đức Cố Hồng y và những người có liên hệ với cái tang này. Tôi cầu xin Chúa là Cha, nguồn mạch mọi tình thương xót, đón nhận vị Mục Tử trổi vượt này vào bên Ngài, trong an bình và ánh sáng nơi Chúa. Đức Cố Hồng y đã phục vụ Giáo hội trong những hoàn cảnh khó khăn với lòng can đảm lớn lao và trong niềm quảng đại trung thành với Tòa Thánh Phêrô, xả thân tận tụy rao giảng Tin Mừng. Như bảo chứng niềm an ủi, tôi thành tâm ban Phép Lành Tòa Thánh cho Đức Cha, Đức Cha Phụ Tá, các Giám mục Việt Nam, các linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân thuộc Tổng Giáo phận Hà Nội, cũng như thân nhân của Đức Cố Hồng y và những người tham dự lễ an táng.

Hoạt động trước tang lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng y Tarcisio Bertone, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, Giám mục chính tòa Giáo phận Đà Lạt Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch Hội đồng giám mục Việt Nam, các giám mục của các giáo phận trên cả nước, linh mục Jean-Baptiste Etcharren, Bề trên Tổng quyền Hội thừa sai Paris, và các bề trên các dòng và linh mục, tu sĩ, chủng sinh, giáo dân trong và ngoài nước đã gửi điện văn hoa phúng viếng, dâng thánh lễ, đọc kinh cầu nguyện cho ông liên tục đến tận nửa đêm 25 tháng 02 đến rạng sáng 26 tháng 2 năm 2009 bên linh cữu ông.[5]

Cũng trong dịp này, các phái đoàn ngoại giao tại Hà Nội, chính quyền thành phố Hà Nội, đông đảo đại diện các tôn giáo bạn cũng đã đến viếng ông, phân ưu với Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt và giáo phận Hà Nội:[5] Chiều 23 tháng 2, đoàn đại biểu Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội do Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Đào Văn Bình dẫn đầu đã đến viếng ông tại Nhà thờ Lớn Hà Nội. Ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã gửi vòng hoa viếng. Cùng ngày, đoàn đại biểu Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội và Ban Tôn giáo Thành phố đã đến viếng Hồng y Phạm Đình Tụng.

Thánh lễ an táng[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh lễ an táng ông do Hồng y - Tổng giám mục Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn - được Giáo hoàng Biển Đức XVI cử làm đặc sứ đại diện Tòa Thánh chủ tọa thánh lễ an táng ngày 26 tháng 2. Ðúng 9g đoàn đồng tế gồm Hồng y Mẫn, Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt, Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn và các giám mục, linh mục đến từ 26 giáo phận và các dòng tu trên cả nước. Tham dự thánh lễ là cả một rừng người chật kín các phố khu vực Nhà thờ chính tòa như nhà thờ, Nhà Chung, Lý Quốc Sư, sân trước Văn phòng giáo xứ chính tòa, đường kiệu chung quanh nhà thờ...[5] Linh mục Nguyễn Văn Thật, một trong những người tham dự thánh lễ an táng chia sẻ quang cảnh buổi lễ:[21]

Sáng nay dự lễ an táng, tôi tham gia đồng tế với các linh mục khác, chừng 300. Giáo dân thì tôi không đếm được nhưng người ta đoán chừng 20 ngàn người

Tuy vậy, nguồn quốc tế lại cho rằng số người tham dự tang lễ ông ít nhất là 30.000 người và khoảng 500 linh mục. Tất cả các người tham dự đều đeo băng tang trắng. Tang lễ cũng có sự tham dự của đại diện chính phủ và các tôn giáo khác, các đại diện ngoại giao của Đại sứ quán Mỹ, cộng đồng người Hàn Quốc, và các cơ quan đại diện nước ngoài của Paris.[22]

Linh cữu của ông được an táng trong cung lòng nhà thờ Chính Toà Hà Nội.[1]

Lễ giỗ[sửa | sửa mã nguồn]

Chiều ngày 2 tháng 6 năm 2009, tại Nhà thờ Chính Toà Hà Nội đã diễn ra một Thánh lễ cầu nguyện cho ông, vào dịp kỷ niệm 100 ngày qua đời. Thánh lễ do Tổng giám mục kế vị Giuse Ngô Quang Kiệt chủ sự. Cùng đồng tế là Giám mục chính tòa Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Phụ tá Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh Phêrô Nguyễn Văn Khảm cùng khoảng 200 linh mục của giáo tỉnh Hà Nội.[1]

Vào sáng ngày 22 tháng 2 năm 2010, cũng tại Nhà thờ Lớn Hà Nội đã diễn ra một Thánh lễ cầu nguyện cho ông, dịp một năm ông qua đời. Thánh lễ do Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt chủ sự. Cùng đồng tế có các giám mục từ các giáo phận trong giáo tỉnh Hà Nội: Giám mục Phaolô Maria Cao Đình Thuyên, Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Giuse Nguyễn Văn Yến, Giám mục Cosma Hoàng Văn Đạt, Giuse Hoàng Văn Tiệm, Giuse Nguyễn Chí Linh, Giuse Vũ Văn Thiên, Antôn Vũ Huy Chương, Lôrensô Chu Văn Minh, và khoảng 150 linh mục của Tổng giáo phận Hà nội, Lạng Sơn, Bắc Ninh.[23]

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hoàng Biển Đức XVI đã nói về ông:[5]

Giám mục Phụ tá Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh Phêrô Nguyễn Văn Khảm nhận xét về ông trong lễ giỗ 100 ngày:[1]

Giáo hoàng Biển Đức XVI nói trong Huấn từ với Hội đồng Giám mục Việt Nam dịp các Giám mục Việt Nam thăm viếng Toà Thánh (Ad Lima) tháng 06 năm 2009:[9]

Trong lễ giỗ 10 năm của Hồng y Phạm Đình Tụng, một trong những vị kế vị ông, Tổng giám mục Giuse Vũ Văn Thiên đưa ra nhận định:[24]

Tông truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng được tấn phong giám mục năm 1963, thời Giáo hoàng Phaolô VI, bởi:[11]

Hồng y - Tổng giám mục Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng là giám mục chủ phong cho các giám mục:[11]

Hồng y - Tổng giám mục Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng là giám mục Phụ phong cho các giám mục:[11]

Bảng tóm tắt chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Phêrô Khuất Văn Tạo (Giám mục Giám quản GP. Bắc Ninh)
Giám mục chính tòa
Giáo phận Bắc Ninh

1964 - 1994
Kế nhiệm:
Giuse Maria Nguyễn Quang Tuyến
(Giám mục chính tòa GP. Bắc Ninh)
Tiền nhiệm:
Giuse Maria Trịnh Văn Căn
(TGM TGP. Hà Nội)
Tổng giám mục Giám quản
Tổng giáo phận Hà Nội

1990 - 1994
Kế nhiệm:
Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng (TGM TGP. Hà Nội)
Tiền nhiệm:
Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng
(Tổng giám mục Giám quản TGP. Hà Nội)
Tổng giám mục
Tổng giáo phận Hà Nội

1994 - 2003 (2005)
Kế nhiệm:
Giuse Ngô Quang Kiệt
(Tổng giám mục Giám quản TGP. Hà Nội)
Tiền nhiệm:
Giuse Nguyễn Phụng Hiểu
(Giám mục chính tòa GP. Hưng Hoá)
Giám mục Giám quản Giáo phận Hưng Hoá
1994 - 2002?
Kế nhiệm:
Antôn Vũ Huy Chương
(Giám mục chính tòa GP. Lạng Sơn và Cao Bằng)
Tiền nhiệm:
Vinh Sơn Phạm Văn Dụ
(Giám mục chính tòa GP. Lạng Sơn và Cao Bằng)
Giám mục Giám quản Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng
1998 - 1999
Kế nhiệm:
Giuse Ngô Quang Kiệt
(Giám mục chính tòa GP. Lạng Sơn và Cao Bằng)
Tiền nhiệm:
Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương
(Giám mục chính tòa GP. Hải Phòng)
Giám mục Giám quản Giáo phận Hải Phòng
1999 - 2002?
Kế nhiệm:
Giuse Vũ Văn Thiên
(Giám mục chính tòa GP. Hải Phòng)
Tiền nhiệm:
Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật
Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam [1]
1995 - 2001
Kế nhiệm:
Phaolô Nguyễn Văn Hòa

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h “Lễ giỗ 100 ngày cố Hồng y Phạm Đình Tụng: một Trái Tim không ngủ yên”. Việt Catholic. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  2. ^ a ă “Lễ giỗ Đức Cố Hồng y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội”. TGP. Hà Nội. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê “ĐHY Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng - chứng nhân lịch sử GHVN- đã qua đời”. Việt Catholic. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l “Tiểu sử Đức cố Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng”. Tổng giáo phận Hà Nội. Bản gốc lưu trữ Ngày 30 tháng 3 năm 2019. Truy cập Ngày 30 tháng 3 năm 2019. 
  5. ^ a ă â b c “Vĩnh Biệt Ðức Cố Hồng y Phaolô Giuse Phạm Ðình Tụng”. Catholic. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  6. ^ Về sau, linh mục này được thăng Giám mục.
  7. ^ a ă “Chuỗi ngày thử thách trong cuộc đời Ðức Hồng y Phạm đình Tụng.”. Catholic. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2019. 
  8. ^ a ă â b “Giáo hoàng chia buồn vì Hồng y qua đời”. BBC Tiếng việt. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  9. ^ a ă â b “Đức Hồng y Phaolô Giuse PHẠM ĐÌNH TỤNG (1919–2009)”. HĐGMVN. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  10. ^ a ă “Niên lịch sử giáo phận Bắc Ninh”. GP. Bắc Ninh. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  11. ^ a ă â b Paul Joseph Cardinal Pham Ðình Tung †
  12. ^ Diocese of Bac Ninh, Vietnam
  13. ^ a ă â b c d đ “Mấy kỷ niệm về Ðức Hồng y Phaolô Giuse Phạm Ðình Tụng”. Catholic. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2019. 
  14. ^ “Một Công nghị Hồng y đã rất gần - Sẽ có tân Hồng y Việt Nam?”. Simon Hoà Đà Lạt. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  15. ^ “Ðức Hồng y Phạm Ðình Tụng Một Người Thầy, Một Người Cha”. Catholic. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2019. 
  16. ^ “LETTER OF HIS HOLINESS POPE JOHN PAUL II TO CARDINAL PAUL JOSEPH PHAM DÌNH TUNG ARCHBISHOP OF HÀ NÔI PRESIDENT OF THE EPISCOPAL CONFERENCE OF VIÊT NAM FOR BICENTENARY OF THE VIRGIN MARY'S APPARITIONS IN LA VANG”. Vatican. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  17. ^ “Chủ tịch Hội Ðồng Giám mục Việt Nam về việc Cứu Giúp các Nạn Nhân Lũ Lụt”. Catholic. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2019. 
  18. ^ “Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm Ðức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt làm Giám Quản Tông Tòa Tổng Giáo phận Hà Nội”. Catholic. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2019. 
  19. ^ “Thousands Attend Unprecedented Catholic Ordination”. Getty Images. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2015. 
  20. ^ “Hồng y Phạm Đình Tụng qua đời”. BBC Tiếng Việt. Ngày 22 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2009. 
  21. ^ “Lễ an táng Đức Hồng y Phạm Đình Tụng”. RFI. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  22. ^ “Cardinal Pham Dinh Tung, a model for all Vietnamese”. Asia News. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  23. ^ “Thánh Lễ Giỗ một năm Đức Cố Hồng y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng”. HĐGMVN. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  24. ^ Thánh lễ giỗ 10 năm Đức Hồng Y Phaolo Giuse Phạm Đình Tụng

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]