Giáo phận Công giáo tại Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Giáo hội Công giáo tại Việt Nam hiện tại được tổ chức theo không gian địa giới gồm có 3 giáo tỉnh là Hà Nội, HuếSài Gòn. Mỗi giáo tỉnh nêu trên lại được chia thành các giáo phận cùng một tổng giáo phận. Hiện nay, Việt Nam có tất cả 3 tổng giáo phận và 23 giáo phận. Đứng đầu mỗi tổng giáo phận là một Tổng giám mục (có thể mang thêm tước Hồng y), đứng đầu mỗi giáo phận là một Giám mục. Những giáo phận tông tòa được thành lập sớm nhất ở Việt Nam vào năm 1659. Hiện nay, tên của các giáo phận ở Việt Nam được đặt theo địa danh có tòa giám mụcnhà thờ chính tòa.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn sơ khởi[sửa | sửa mã nguồn]

Khâm định Việt sử Thông giám cương mục có đề cập đến sự truyền bá đạo Công giáo vào Đại Việt năm 1533. Tiếp theo đó là những nỗ lực của một số cá nhân và nhóm truyền giáo khác. Các cộng đoàn tín hữu lâu bền hơn được thành lập sau khi các tu sĩ Dòng Tên xuất hiện tại Đàng Trong năm 1615 và tại Đàng Ngoài năm 1626. Vào ngày 9 tháng 9 năm 1659, Giáo hoàng Alexanđê VII ra sắc chỉ Super Cathedram[1] thiết lập hai Hạt Đại diện Tông tòa đầu tiên của Việt Nam. Giáo hoàng bổ nhiệm hai Giám mục: François Pallu hiệu tòa Heliopolis in AugustamnicaPierre Lambert de la Motte hiệu tòa Berytus làm Giám mục tiên khởi cho hai Hạt Đại diện Tông tòa (cũng gọi là Địa phận hoặc Giáo phận Tông tòa) này với địa giới như sau:

Ngoài ra, sắc chỉ cũng thiết lập Hạt Đại diện Tông tòa Nam Kinh còn gồm cả Bắc Kinh, Sơn Tây, Sơn Đông, Triều TiênTartaria nhưng chưa chỉ định giám mục.

Trong năm 1668, tại Ayutthaya (kinh đô cũ của Thái Lan), Giám mục Lambert de la Motte truyền chức linh mục cho các thầy giảng Giuse Trang và Luca Bền thuộc Đàng Trong, cùng với Bênêđictô Hiền và Gioan Huệ thuộc Đàng Ngoài. Đây là 4 vị linh mục tiên khởi của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Năm 1669, Giám mục Lambert de la Motte truyền chức thêm 7 linh mục Việt Nam nữa. Năm 1670, ông chuẩn y thành lập Dòng Mến Thánh Giá cho các nữ tu Việt Nam.

Năm 1678, Giám mục Pallu từ Thái Lan về Roma, đề nghị tấn phong Giám mục cho 6 linh mục trong số các linh mục tiên khởi. Tuy nhiên đề nghị này đã bị Tòa Thánh bác bỏ.

Năm 1679, Giáo phận Đàng Ngoài tách rời thành hai giáo phận mới, lấy sông Hồng làm ranh giới (cụ thể là trục sông Lô–sông Hồng–sông Đàosông Đáy). Hai giáo phận Đàng Ngoài mới, gồm 2 Giám mục, 7 linh mục thừa sai người Pháp, 3 linh mục Dòng Đa Minh Tây Ban Nha, một số linh mục Dòng Tên và Dòng Âu Tinh, 11 linh mục người Việt và hơn 200.000 tín hữu, là:

Năm 1693, Giám mục Deydier qua đời, Giám mục Bourges kiêm nhiệm Địa phận Đông Đàng Ngoài. Vì thiếu hụt thừa sai nên Địa phận Đông được bổ sung các nhà truyền giáo Dòng Đa Minh, Phan Sinh và Âu Tinh. Năm 1696, Giám mục Raimondo Lezzoli Cao được Tòa Thánh bổ nhiệm cai quản Địa phận Đông. Năm 1756, việc truyền giáo tại Đông Đàng Ngoài chính thức được giao cho Tỉnh Rất Thánh Mân Côi của Dòng Đa Minh, trụ sở tại Manila, Philippines.

Giai đoạn cận đại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1844, Giáo hoàng Grêgôriô XVI chia giáo phận Đàng Trong thành hai giáo phận mới:

Năm 1846, Giáo phận Nam Đàng Ngoài – bao gồm Nghệ An, Hà Tĩnh và Bắc Quảng Bình tách từ Giáo phận Tây Đàng Ngoài – được thành lập, do Giám mục Jean-Denis Gauthier Hậu coi sóc.

Năm 1848, Giáo phận Trung Đàng Ngoài được thành lập, gồm phần lớn tỉnh Nam ĐịnhHưng Yên, tách từ Giáo phận Đông Đàng Ngoài, giao cho Giám mục D. Martin Gia cai quản.

Năm 1850, Giáo phận Bắc Đàng Trong được tách từ Giáo phận Đông Đàng Trong, bao gồm Nam Quảng Bình, Quảng TrịThừa Thiên, do Giám mục Pellerin Phan cai quản.

Năm 1850, một địa phận mới được tách ra từ Giáo phận Tây Đàng Trong là Cao Miên, Giám mục Jean-Claude Miche Mịch được chỉ định làm Giám quản Tông tòa. Năm 1868, hai tỉnh Hà Tiên và Châu Đốc của Nam Kỳ lục tỉnh được sáp nhập vào Địa phận Cao Miên.

Năm 1883, Giáo phận Bắc Đàng Ngoài được thành lập, tách rời từ Giáo phận Đông Đàng ngoài, và bao gồm các tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng SơnCao Bằng, trao cho Giám mục Colomer Lễ coi sóc.

Năm 1895, Giáo phận Thượng Đàng Ngoài (Đoài), gồm các tỉnh Sơn Tây, Yên Bái, Hòa BìnhLai Châu, được thành lập và được trao cho Giám mục Paul Maris Raymond.

Năm 1901, Giáo phận Duyên hải Đàng Ngoài (Thanh) được thành lập gồm hai tỉnh Ninh BìnhThanh Hóa, cùng với tỉnh Hủa Phăn của Lào (có tỉnh lỵ là Sầm Nưa), tách rời từ Giáo phận Tây Đàng Ngoài và đặt dưới sự cai quản của Giám mục Alexandre Marcou Thành. Năm 1905, tỉnh Bình Thuận được chuyển đổi từ Giáo phận Đông Đàng Trong sang Tây Đàng Trong.

Năm 1913, Hạt Phủ doãn Tông tòa Lạng Sơn và Cao Bằng được thành lập, tách từ Giáo phận Bắc Đàng Ngoài, và được ủy thác cho các thừa sai Dòng Đa Minh Lyon đảm trách.

Ngày 3 tháng 12 năm 1924, Giáo hoàng Piô XI đã cho đổi tên một loạt các giáo phận tại Việt Nam theo địa danh nơi đặt tông tòa giám mục, bấy giờ gồm 10 giáo phận gồm Hưng Hóa (trước là Thượng Đàng Ngoài), Bắc Ninh (trước là Bắc Đàng Ngoài), Hải Phòng (trước là Đông Đàng Ngoài), Hà Nội (trước là Tây Đàng Ngoài), Bùi Chu (trước là Trung Đàng Ngoài), Phát Diệm (trước là Duyên hải Đàng Ngoài), Vinh (trước là Nam Đàng Ngoài), Huế (trước là Bắc Đàng Trong), Qui Nhơn (trước là Đông Đàng Trong), Sài Gòn (trước là Tây Đàng Trong). Giáo phận Cao Miên được đổi tên thành Nam Vang.

Năm 1932, Giáo phận Thanh Hóa, gồm các tỉnh Thanh HóaHủa Phăn, tách ra từ Giáo phận Phát Diệm, được thiết lập và đặt dưới sự hướng dẫn của Giám mục Louis de Cooman Hành.

Năm 1932, Giáo phận Kon Tum được thành lập, bao gồm 3 tỉnh Kontum, DarlacPleiku, tách ra từ Địa phận Qui Nhơn và đặt dưới sự hướng dẫn của Giám mục Jannin Phước.

Các Giám mục người Việt tiên khởi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 6 năm 1933, tại Đền Thánh Phêrô (Roma), Giáo hoàng Piô XI đã bổ nhiệm vị Giám mục tiên khởi cho Giáo hội Công giáo Việt Nam là Giám mục Baotixita Nguyễn Bá Tòng. Ông là Giám mục phó với quyền kế vị Giáo phận Phát Diệm. Năm 1935, Giám mục Marcou Thành từ chức, trao quyền Giám mục Giáo phận Phát Diệm cho Giám mục Nguyễn Bá Tòng. Đây là giáo phận đầu tiên được ủy thác cho hàng giáo sĩ Việt Nam.

Cũng năm 1935, Giám mục Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn được tấn phong tại nhà thờ Phủ Cam (Huế), trở thành vị Giám mục thứ hai của Việt Nam. Ông là Giám mục phó với quyền kế vị Giáo phận Bùi Chu. Ngày 17 tháng 6 năm 1936, Giám mục Hồ Ngọc Cẩn trở thành Giám mục Việt Nam tiên khởi của Giáo phận Bùi Chu, khi kế vị Giám mục chính Pedro Muzagorri Trung vừa qua đời. Đây là giáo phận thứ hai được ủy thác cho hàng giáo sĩ Việt Nam.

Cùng trong năm 1936, Giáo phận Thái Bình được thiết lập, tách rời từ Giáo phận Bùi Chu, bao gồm hai tỉnh Thái Bình, Hưng Yên. Tân giáo phận đặt dưới sự cai quản của Giám mục Cassado Thuận.

Năm 1938, Giáo phận Vĩnh Long được thành lập, gồm các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, và Vĩnh Long, trong đó có một phần tỉnh Đồng Tháp ngày nay, tách từ Giáo phận Sài Gòn, và được trao cho Giám mục tân cử Phêrô Martino Ngô Đình Thục cai quản. Đây là giáo phận thứ ba được ủy thác cho hàng giáo sĩ Việt Nam.

Năm 1939, Hạt Phủ doãn Tông tòa Lạng Sơn và Cao Bằng được Tòa Thánh nâng lên hàng Giáo phận Tông tòa, do Giám mục Felix (Minh) quản nhiệm.

Năm 1940, thêm một vị Giám mục nữa được tấn phong là Giám mục Gioan Maria Phan Ðình Phùng. Ông là Giám mục phó với quyền kế vị giáo phận Phát Diệm.

Năm 1945, linh mục Anselmô Tađêô Lê Hữu Từ, khi đó đang là Bề trên Đan viện Xitô Châu Sơn (Nho Quan), được bổ nhiệm và trở thành vị Giám mục người Việt thứ năm.

Trong năm 1950, 3 Giám mục mới được bổ nhiệm là:

Năm 1951, Giáo phận Vinh trao cho tân Giám mục Gioan Baotixita Trần Hữu Ðức.

Năm 1955, Giáo phận Cần Thơ được thành lập, tách từ Giáo phận Nam Vang và được giao cho tân Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình.

Năm 1955, Linh mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền được tấn phong Giám mục và đảm nhận Giáo phận Sài Gòn, thay thế Giám mục Cassaige Sanh từ chức để đi làm tuyên úy Trại cùi Di Linh.

Năm 1957, Tòa Thánh cắt hai tỉnh Khánh HòaNinh Thuận (thuộc địa phận Qui Nhơn) và hai tỉnh Bình ThuậnBình Tuy (thuộc địa phận Sài Gòn) để thiết lập Giáo phận Nha Trang và trao cho Giám mục Piquet Lợi coi sóc.

Hàng Giáo phẩm Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1960, với Tông hiến Venerabilium Nostrorum ("Chư huynh đáng kính"),[2] Giáo hoàng Gioan XXIII thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, tất cả các Hạt Đại diện Tông tòa (còn gọi là Giáo phận Tông tòa) được nâng lên thành các Giáo phận (Chính tòa) và Tổng giáo phận, đồng thời nhóm vào ba Giáo tỉnh Hà Nội, Giáo tỉnh HuếGiáo tỉnh Sài Gòn. Ba giáo phận mới là Đà Lạt, Mỹ Tho, và Long Xuyên cũng được thành lập.

Năm 1963, Giáo phận Đà Nẵng được thành lập, địa giới gồm có thị xã Đà Nẵng và hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín. Năm 1965, Tổng giáo phận Sài Gòn được chia tách để thành lập hai giáo phận mới là Phú CườngXuân Lộc. Năm 1967, Giáo phận Ban Mê Thuột được thành lập. Năm 1975, Giáo phận Phan Thiết được thành lập với địa giới là hai tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy, tách ra từ Giáo phận Nha Trang.

Ngày 5 tháng 12 năm 2005, Giáo phận Bà Rịa được tách ra từ giáo phận Xuân Lộc với Tự sắc Ad Aptius Consulendum do Giáo hoàng Biển Đức XVI ban hành ngày 22 tháng 11 cùng năm. Vào tháng 5 năm 2006, Tổng giáo phận Huế chuyển giao hạt Nam Quảng Bình cho Giáo phận Vinh.

Trong cuộc họp thường niên lần I năm 2013 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, các Giám mục đã thảo luận về việc chia tách và thành lập một số giáo phận trong tương lai, gồm giáo phận Hà Tuyên (tương ứng hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang, tách từ 3 giáo phận Bắc Ninh, Hưng Hóa và Lạng Sơn)[3], Hà Tĩnh (tương ứng tỉnh Hà Tĩnh, tách từ giáo phận Vinh) và Pleiku (tương ứng tỉnh Gia Lai, tách từ giáo phận Kontum).[4] Tháng 9 năm 2015, họp Hội đồng Giám mục Việt Nam thường niên lần II, các Giám mục đã đồng ý dự án tách Giáo phận Lào Cai từ Giáo phận Hưng Hóa.[5]

Bảng thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

STT Giáo phận Thành lập Giám mục quản nhiệm Nhà thờ chính tòa
1 Tổng giáo phận Hà Nội 1659
1960
Hồng y.png Phêrô Nguyễn Văn Nhơn
Giám mục phụ tá.png Lôrensô Chu Văn Minh
Nhà thờ chính tòa
Thánh Giuse
2 Giáo phận Bắc Ninh 1883 Giám mục chính tòa.png Cosma Hoàng Văn Đạt Nhà thờ chính tòa
Nữ vương Rất thánh Mân Côi
3 Giáo phận Bùi Chu 1848 Giám mục chính tòa.png Tôma Vũ Đình Hiệu Nhà thờ chính tòa
Nữ vương Rất thánh Mân Côi
4 Giáo phận Hải Phòng 1679 Giám mục chính tòa.png Giuse Vũ Văn Thiên Nhà thờ chính tòa
Nữ vương Rất thánh Mân Côi
5 Giáo phận Hưng Hóa 1895 Giám mục chính tòa.png Gioan Maria Vũ Tất
Giám mục phụ tá.png Alfonso Nguyễn Hữu Long
Nhà thờ chính tòa
Thánh Têrêsa Hài Đồng
6 Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng 1939 Giám mục chính tòa.png Giuse Châu Ngọc Tri Nhà thờ chính tòa
Thánh Giuse
7 Giáo phận Phát Diệm 1901 Giám mục chính tòa.png Giuse Nguyễn Năng Nhà thờ chính tòa
Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi
8 Giáo phận Thái Bình 1936 Giám mục chính tòa.png Phêrô Nguyễn Văn Đệ Nhà thờ chính tòa
Thánh Tâm Chúa Giêsu
9 Giáo phận Thanh Hóa 1932 Giám mục trống tòa.png Trống tòa Nhà thờ chính tòa
Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội
10 Giáo phận Vinh 1846 Giám mục chính tòa.png Phaolô Nguyễn Thái Hợp
Giám mục phụ tá.png Phêrô Nguyễn Văn Viên
Nhà thờ chính tòa
Đức Mẹ Lên Trời
11 Tổng Giáo phận Huế 1850
1960
Tổng giám mục.png Giuse Nguyễn Chí Linh Nhà thờ chính tòa
Trái tim Cực sạch Đức Mẹ
12 Giáo phận Ban Mê Thuột 1967 Giám mục chính tòa.png Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản Nhà thờ chính tòa
Thánh Tâm Chúa Giêsu
13 Giáo phận Đà Nẵng 1963 Giám mục chính tòa.png Giuse Đặng Đức Ngân Nhà thờ chính tòa
Thánh Tâm Chúa Giêsu
14 Giáo phận Kon Tum 1932 Giám mục chính tòa.png Aloisiô Nguyễn Hùng Vị Nhà thờ chính tòa
Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội
15 Giáo phận Nha Trang 1957 Giám mục chính tòa.png Giuse Võ Đức Minh Nhà thờ chính tòa
Chúa Kitô Vua
16 Giáo phận Qui Nhơn 1659 Giám mục chính tòa.png Mátthêu Nguyễn Văn Khôi Nhà thờ chính tòa
Đức Mẹ Lên Trời
17 Tổng Giáo phận TP.HCM 1844
1960
Tổng giám mục.png Phaolô Bùi Văn Đọc
Giám mục phụ tá.png Giuse Đỗ Mạnh Hùng
Giám mục phụ tá.png Louis Nguyễn Anh Tuấn
Nhà thờ chính tòa
Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội
18 Giáo phận Bà Rịa 2005 Giám mục chính tòa.png Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn Nhà thờ chính tòa
Thánh Giacôbê và Thánh Philípphê
19 Giáo phận Cần Thơ 1955 Giám mục chính tòa.png Stêphanô Tri Bửu Thiên Nhà thờ chính tòa
Thánh Tâm Chúa Giêsu
20 Giáo phận Đà Lạt 1960 Giám mục chính tòa.png Antôn Vũ Huy Chương
Giám mục phụ tá.png Đa Minh Nguyễn Văn Mạnh
Nhà thờ chính tòa
Thánh Nicôla Bari
21 Giáo phận Long Xuyên 1960 Giám mục chính tòa.png Giuse Trần Xuân Tiếu
Giám mục phụ tá.png Giuse Trần Văn Toản
Nhà thờ chính tòa
Nữ vương Hòa Bình
22 Giáo phận Mỹ Tho 1960 Giám mục chính tòa.png Phêrô Nguyễn Văn Khảm Nhà thờ chính tòa
Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội
23 Giáo phận Phan Thiết 1975 Giám mục trống tòa.png Trống tòa Nhà thờ chính tòa
Thánh Tâm Chúa Giêsu
24 Giáo phận Phú Cường 1965 Giám mục chính tòa.png Giuse Nguyễn Tấn Tước Nhà thờ chính tòa
Thánh Tâm Chúa Giêsu
25 Giáo phận Vĩnh Long 1938 Giám mục chính tòa.png Phêrô Huỳnh Văn Hai Nhà thờ chính tòa
Thánh Anna
26 Giáo phận Xuân Lộc 1965 Giám mục chính tòa.png Giuse Đinh Đức Đạo
Giám mục phụ tá.png Gioan Đỗ Văn Ngân
Nhà thờ chính tòa
Chúa Kitô Vua

Địa giới ngày nay[sửa | sửa mã nguồn]

Stt (Tổng) Giáo phận Địa giới Diện tích Ghi chú
1 Hà Nội phần lớn Hà Nội, Hà Nam, một phần Nam Định, Hòa Bình 7.000
2 Bắc Ninh Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Vĩnh Phúc 25.110
3 Bùi Chu 4/5 Nam Định 1.350
4 Hải Phòng Tp. Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh 9.079
5 Hưng Hóa Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, một phần Hòa Bình, Hà Giang, Tuyên Quang, và thị xã Sơn Tây 54.350
6 Lạng Sơn – Cao Bằng Lạng Sơn, Cao Bằng, một phần Hà Giang 18.359
7 Phát Diệm Ninh Bình, một phần Hòa Bình 1.787
8 Thái Bình Thái Bình, Hưng Yên 2.221
9 Thanh Hóa Thanh Hóa 11.700
10 Vinh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình 30.599
11 Huế Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị 9.822
12 Ban Mê Thuột Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước 21.723
13 Đà Nẵng Tp. Đà Nẵng, Quảng Nam 11.664
14 Kon Tum Kon Tum, Gia Lai 25.240
15 Nha Trang Khánh Hòa, Ninh Thuận 9.486
16 Qui Nhơn Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên 16.194
17 TP. Hồ Chí Minh TP. Hồ Chí Minh 2.030
18 Bà Rịa Bà Rịa - Vũng Tàu 1.988
19 Cần Thơ Tp. Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau 13.423
20 Đà Lạt Lâm Đồng 9.774
21 Long Xuyên An Giang, Kiên Giang, Tp. Cần Thơ (Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ) 10.256
22 Mỹ Tho Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp 9.262
23 Phan Thiết Bình Thuận 7.828
24 Phú Cường Tây Ninh, Bình Dương, Tp. HCM (Củ Chi), Bình Phước (tx. Bình Long, Hớn Quản, Lộc Ninh, Chơn Thành) 9.543
25 Vĩnh Long Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp (Tp. Sa Đéc, Lai Vung, Lấp Vò, Châu Thành) 6.772
26 Xuân Lộc Đồng Nai, Bình Dương (tx. Dĩ An) 5.964

(Cập nhật thời điểm tháng 5 năm 2017)

Số liệu tổng quát[sửa | sửa mã nguồn]

STT Giáo phận/Tổng giáo phận Giám mục giáo phận Diện tích(km2) Số LM Số giáo xứ Số giáo dân Nguồn ước tính
01 Hà Nội Mũ hồng y.pngTổng giám mục.png Phêrô Nguyễn Văn Nhơn
Giám mục phụ tá.png Lôrensô Chu Văn Minh
07.000* 117 145^ 346.000 [1]
*[2](7.000)
^[3]
02 Huế Tổng giám mục.png Giuse Nguyễn Chí Linh 185.822 135 82 69.255 *[4]
[5]
03 Tp. Hồ Chí Minh Tổng giám mục.png Phaolô Bùi Văn Đọc
Giám mục phụ tá.png Giuse Đỗ Mạnh Hùng
Giám mục phụ tá.png Louis Nguyễn Anh Tuấn
02.093 724 203 683.988 [6]
[7] (giáo xứ 11/2015)
04 Ban Mê Thuột Giám mục chính tòa.png Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản 24.462 98 128 388.615 [8]
05 Bà Rịa Giám mục chính tòa.png Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn 01.988 172 145 254.302 [9] [10] [11]
06 Bắc Ninh Giám mục chính tòa.png Cosma Hoàng Văn Đạt 24.600 85 55 125.000 [12]
07 Bùi Chu Giám mục chính tòa.png Tôma Aquinô Vũ Đình Hiệu 01.350 173 163 381.906 [13]
08 Cần Thơ Giám mục chính tòa.png Stêphanô Tri Bửu Thiên 13.423 147 196 187.846 [14]
09 Đà Lạt Giám mục chính tòa.png Antôn Vũ Huy Chương
Giám mục chính tòa.png phó Đa Minh Nguyễn Văn Mạnh
09.774 290 96 377.500 [15] (2017)
10 Đà Nẵng Giám mục chính tòa.png Giuse Đặng Đức Ngân 11.664 74 50 67.577 [16]
11 Hải Phòng Giám mục chính tòa.png Giuse Vũ Văn Thiên 09.079 81 92 136.400 [17] Lm (2017)
[18] Số giáo xứ (2016)
12 Hưng Hóa Giám mục chính tòa.png Gioan Maria Vũ Tất
Giám mục phụ tá.png Anphongsô Nguyễn Hữu Long
55.000 98 117 235.500 [19]
[20] (DT, số LM, giáo xứ 2015)
13 Kon Tum Giám mục chính tòa.png Aloisiô Nguyễn Hùng Vị 25.240 88 169 314.000 [21]
[22] (2015, toàn dữ liệu, không gồm giáo dân)
(2016, giáo dân) [23]
14 Lạng Sơn và Cao Bằng Giám mục chính tòa.png Giuse Châu Ngọc Tri 18.359 22 15 5.354 [24]
15 Long Xuyên Giám mục chính tòa.png Giuse Trần Xuân Tiếu
Giám mục phụ tá.png Giuse Trần Văn Toản
10.256 157 251 240.000 [25]
16 Mỹ Tho Giám mục chính tòa.png Phêrô Nguyễn Văn Khảm 09.262 110 125 126.560 [26]
17 Nha Trang Giám mục chính tòa.png Giuse Võ Đức Minh 09.486 90 191 200.385 [27]
18 Phan Thiết Giám mục trống tòa.png Tôma Nguyễn Văn Trâm 07.828 172^ 93 171.518 [28] ^ LM triều, dòng 2016
19 Phát Diệm Giám mục chính tòa.png Giuse Nguyễn Năng 01.787 77 76 163.036 [29]
20 Phú Cường Giám mục chính tòa.png Giuse Nguyễn Tấn Tước 09.543 96 161 141.239 [30]
21 Qui Nhơn Giám mục chính tòa.png Mátthêu Nguyễn Văn Khôi 16.194 99 50 71.615 [31]
22 Thái Bình Giám mục chính tòa.png Phêrô Nguyễn Văn Đệ 02.221 102 90 129.245 [32]
23 Thanh Hóa Giám mục trống tòa.png Giuse Nguyễn Chí Linh 11.700 51 85 145.000 [33]
24 Vinh Giám mục chính tòa.png Phaolô Nguyễn Thái Hợp
Giám mục phụ tá.png Phêrô Nguyễn Văn Viên
30.599 186 219 523.046 [34]
25 Vĩnh Long Giám mục chính tòa.pngPhêrô Huỳnh Văn Hai 06.772 209 207 199.404 [35]
26 Xuân Lộc Giám mục chính tòa.png Giuse Đinh Đức Đạo
Giám mục phụ tá.png Gioan Đỗ Văn Ngân
05.964 535 246 921.489 [36]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]