Etienne-Théodore Cuénot

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Etienne-Théodore Cuénot (1802-1861) là một giám mục Công giáo người Pháp. Ông từng giữ chức Giám mục Tông Tòa tại Việt Nam và được Tòa Thánh Vatican tôn phong bậc Hiển Thánh. Ông có tên Thánh là Stephanus và tên Việt là Thể, vì vậy các tài liệu Công giáo tiếng Việt thường ghi tên ông là Cuénot Thể hoặc Stêphanô Théodore Cuénot Thể

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế, tu tập và linh mục[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 8 tháng 02 năm 1802 tại Bélieu nước Pháp, là con cả trong một gia đình nghèo gồm 11 anh chị em. Nhờ sự giúp đỡ của họ hàng, ông được gửi đến trường. Sau thời gian học tập, ngày 24 tháng 09 năm 1825, ông thụ phong linh mục.

Theo ước nguyện từ nhỏ, ngày 23 tháng 06 năm 1827, ông xin gia nhập Hội Thừa sai Paris và được chỉ định đi truyền giáo tại Ðông Dương. Ông đến đây vào ngày 15 tháng 10 năm 1828 tại hải cảng Macao, và ngày 02 tháng 05 năm 1829, ông đến Chủng viện Lái Thiêu (Nam Kỳ).

Giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 03 tháng 05 năm 1835, ông được tấn phong Giám mục hiệu tòa Métellopolis, Giám quản Tông Tòa Giáo phận Đàng Trong. Trước sắc chỉ cấm đạo của vua Minh Mạng ngày 03 tháng 10 năm 1839, ông vẫn hăng say và tận tụy với chức vụ, duy trì những tổ chức và cổ vũ việc truyền giáo, đặc biệt chú tâm đào tạo các linh mục bản xứ. Kể từ năm 1842, số người trở lại mỗi năm trung bình là 1.000. Cũng do sự vận động của ông, Tòa Thánh đã chấp thuận thiết lập nhiều giáo khu mới, như việc chia giáo phận Đàng Trong thành hai địa phận miền Ðông và Tây (1844), sau đó thêm địa phận miền Nam (1850).

Tháng 11 năm 1847, vua Tự Ðức lên kế vị và chính sách cấm đạo càng gay gắt hơn từ năm 1855. Nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân bị cầm tù. Cuối cùng, ngày 29 tháng 10 năm 1861, ông bị bắt. Vì kiệt sức, ông ngã bệnh, và đêm 14 tháng 11 năm 1861, ông đã qua đời tại nhà giam Bình Ðịnh, vài giờ trước khi án lệnh trảm quyết từ triều gửi tới.

Phong Thánh[sửa | sửa mã nguồn]

Ông được phong Chân Phước do Giáo hoàng Piô X ngày 02 tháng 05 năm 1909 và Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển thánh ngày 19 tháng 06 năm 1988.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]