Thánh Đa Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thánh Đa Minh

Thánh Đa Minh, vẽ bởi Fra Angelico.
Nhà sáng lập dòng
Sinh 1170
Calaruega, Burgos, Vương quốc Castile (ngày nay là Castile-Leon, Tây Ban Nha)
Mất 6 tháng 8, 1221
Bologna, Bologna (ngày nay là Emilia-Romagna, Ý)
Tôn kính Giáo hội Công giáo Rôma, Anh giáo, Giáo hội Luther
Hiển thánh 1234
Đền chính Vương cung Thánh đường San Domenico, Bologna
Lễ kính 8 tháng 8
4 tháng 8 (trước 1970)
Biểu trưng chó, ngôi sao, hoa loa kèn, dòng Đa Minh, sách...[1]
Quan thầy của thiên văn học; nhà thiên văn; Cộng hòa Dominican; người bị vu khống; Santo Domingo Indian Pueblo, Valletta, Birgu (Malta)

Thánh Đa Minh (hoặc Thánh Đôminicô, tiếng Tây Ban Nha: Santo Domingo; 1170 - 6 tháng 8 năm 1221) là người sáng lập ra Dòng Ða Minh hay còn gọi là Dòng Anh Em Thuyết Giáo. Đa Minh còn là vị Thánh quan thầy của các nhà thiên văn học.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đa Minh (Domingo) sinh năm 1170 tại Caleruega, thuộc dòng tộc Guzmán, nên được gọi là Domingo Félix de Guzmán. Guzman là một dòng tộc danh tiếng tại Tây Ban Nha vào thời Trung Cổ. Theo tường thuật của Jordan thành Saxony, người chuyên nguyên cứu tiểu sử của Thánh Đa Minh, thì trước khi Đa Minh ra đời, mẹ ông làm một cuộc hành hương đến Silos, bà mơ thấy mình đẻ ra một con chó ngậm bó đuốc đang cháy sáng và mang lửa đến khắp thế giới[2]. Trong ngày Thanh Tẩy cho ông, bà mẹ đỡ đầu lại trông thấy trên đầu ông có một ngôi sao sáng, chiếu tỏa chung quanh. Hôm ấy là ngày Chủ Nhật nên ông được đặt tên là Domingo (tiếng Tây Ban Nha, Domingo là ngày Chủ Nhật). Có lẽ nguồn này là đáng tin cậy, bởi lẽ Dòng Đa Minh theo tiếng LatinhDominicanus, đây là một cách chơi chữ tách từ cụm từ Domini canis, nghĩa là "Con chó của Thiên Chúa".

Học tập và linh mục[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 7 tuổi, Đa Minh được gửi đến ở với người cậu là linh mục đang coi xứ gần Caleruega. Năm 14 tuổi, Đa Minh từ giã gia đình và cha mẹ để lên học tại trường Palencia, là trường học nổi tiếng nhất tại Tây Ban Nha lúc bấy giờ. Ngay từ hồi nhỏ, Đa Minh đã biết dung hòa việc học hành với cầu nguyện và các bổn phận tông đồ. Hết trung học, Đa Minh xin đi tu và có lẽ được truyền chức linh mục vào năm 1194. Sau đó, ông làm kinh sĩ tại Nhà thờ chính tòa Osma, chuyên lo đọc kinh thay cho toàn giáo phận. Với lòng đạo đức và nhiệt thành, chỉ 2 năm sau, ông được chỉ định làm bề trên hội kinh sĩ.

Năm 1203 (hoặc 1204), ông tháp tùng giám mục Diego de Acebo của giáo phận Osma làm một nhiệm vụ ngoại giao cho vua Alfonso VIII xứ Castile, để hỏi cưới công chúa Đan Mạch cho thái tử Ferdinand. Phái đoàn đến Đan Mạch băng qua Aragon và miền Nam nước Pháp. Tại đây, Đa Minh và Diego có gặp nhóm Cathars - một giáo phái mà Giáo hội Công giáo Rôma coi dị giáo. Nhóm Cathars đã thụ phong linh mục cho nam giới lẫn phụ nữ, các giáo sĩ không phục tùng giáo hoàng. Bên Đan Mạch chấp thuận hôn ước nhưng ở chuyến đi thứ hai, công chúa Đan Mạch bỗng nhiên qua đời, vì vậy, Diego và Đa Minh trở về qua ngả đường RomaCîteaux.

Lập dòng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1208, Giáo hoàng Innôcentê III đã phát động một cuộc thập tự chinh chống lại các giáo phái dị giáo do bá tước Simon IV dẫn đầu. Ða Minh đi theo đạo quân này để rao giảng cho những người lạc giáo quay về với Công giáo nhưng ông không thành công lắm. Vào năm 1214, bá tước Simon tặng cho Ða Minh một lâu đài ở Casseneuil. Ông cùng với sáu môn đệ đã thành lập một tu hội tận tụy cho việc hoán cải người lạc giáo Albigensian. Trong Công đồng Latêranô IV năm 1215, Ða Minh thất bại trong việc xin giáo quyền phê chuẩn tu hội của ông, nhưng năm sau, Giáo hoàng Hônôriô III đã chuẩn y, và Dòng Anh Em Thuyết Giáo (Ordo Praedicatorum", viết tắt: O.P.) được ra đời, về sau người ta thường gọi là Dòng Đa Minh[3].

Cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ða Minh dùng quãng đời còn lại để tổ chức dòng, đi khắp nước Ý, Tây Ban NhaPháp để rao giảng và thu hút các thành viên mới, cũng như thiết lập các trung tâm của dòng. Dòng Anh Em Thuyết Giáo đã thành công trong việc hoán cải nhiều người khi họ áp dụng quan niệm là hài hoà giữa đời sống trí thức với nhu cầu của quần chúng. Năm 1220, tại Bologna, Đa Minh triệu tập hội đồng chung của dòng. Năm sau, trong chuyến rao giảng ở Hungary, ông lâm bệnh và buộc phải trở về Bologna và qua đời tại đó vào ngày 6 tháng 8 năm 1221.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]