Giuse Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đa Minh Maria Hồ Ngọc Cẩn
Giám mục Bùi Chu
Gm Ho Ngoc Can.jpg
Khẩu hiệu: "Hết tình nhẫn nhục và tận tâm giao huấn"
Giáo phận Bùi Chu
Tòa giám mục Bùi Chu
Tấn phong 29 tháng 3 năm 1935 tại nhà thờ Phú Cam, Huế
Hưu
Tiền nhiệm Pedro Muzagorri Trung
Kế vị Giuse Maria Phạm Năng Tĩnh
Tên khai sinh Hồ Ngọc Ca
Ngày sinh 3 tháng 12, 1876
Ngày mất 27 tháng 11, 1948 (71 tuổi)
Nơi an táng Nhà thờ chính tòa Bùi Chu
Quốc tịch Việt Nam
Giáo hội Công giáo Rôma
Quê quán Thừa Thiên Huế
Thánh quan thầy Đa minh

Đa Minh Maria Hồ Ngọc Cẩn (3 tháng 12, 187627 tháng 11, 1948) là Giám mục người Việt đầu tiên của giáo phận Bùi Chu, Giáo hội Công giáo Việt Nam. Khẩu hiệu Giám mục của ông là: "Hết tình nhẫn nhục và tận tâm giáo huấn". Ông không chỉ là một Giám mục Công giáo mà còn là một nhà đạo đức, nhà văn hóa-giáo dục, nhà sư phạm lỗi lạc của Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX.

Thân thế và bước đầu tu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Hồ Ngọc Ca, sinh ngày 3 tháng 12 năm 1876, tại xứ đạo Ba Châu (làng Vĩnh Lưu, xã Phú Lương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên), là con đầu của ông Giuse Hồ Ngọc Thi và bà Anna Nguyễn Thị Đào. Khi rửa tội, ông lấy tên thánh là Đôminicô (Dominique), nay gọi là Đa Minh. Ông còn có một người em trai tên là Hồ Ngọc Vịnh.

Thân thế họ nội của ông ở làng Cổ Thành, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị không theo Công giáo. Cha ông vì hoàn cảnh riêng, vào lập nghiệp ở Thừa Thiên và cải đạo tại đây. Lúc sinh thời, cha của ông làm nghề đông y, kiêm nghề giáo làng, vì thế ông được thừa hưởng từ nhỏ một sự giáo dục cơ bản về chữ Hán cũng như các kiến thức y dược và tinh thần yêu mến văn hóa quê hương. Điều này về sau đã có ảnh hưởng lớn đến vị Giám mục và nhà văn hóa Hồ Ngọc Cẩn trong tương lai.

Do cha mất sớm, thân mẫu đem ông và người em trai về sống tại quê ngoại ở làng Trường An (còn có nghệ danh là Phường Đúc, vì làng này chuyên nghề đúc đồng nổi danh xứ Huế), họ đạo Trường An, giáo xứ Thợ Đúc, thuộc huyện Hương Thủy, cùng tỉnh Thừa Thiên. Năm 1889, ông vào học tại Tiểu chủng viện An Ninh, ở Cửa Tùng, Quảng Trị. Năm 1891, ông được Linh mục Eugène Marie Joseph Allys (tên Việt là Lý, về sau trở thành Giám mục Giáo phận Huế), Linh mục Chánh xứ Phú Cam (Huế) nhận làm con nuôi. Ngày 5 tháng 8 năm 1896, ông vào học tại Đại chủng viện Phú Xuân - Huế. Năm 1898, ông đổi tên thành Hồ Ngọc Cẩn.

Cuộc đời truyền giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 20 tháng 12 năm 1902, ông thụ phong chức Linh mục lúc mới 26 tuổi. Từ năm 1903 đến 1906, ông nhậm chức Linh mục phó giáo xứ Kẻ Văn (nay thuộc xã Hải Tân, huyện Hải Lăng, Quảng Trị). Từ năm 1907, ông là linh mục chánh xứ Kẻ Hạc (nay thuộc xã Vạn Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình.

Tháng 9 năm 1910, ông được cử làm giáo sư tại Tiểu chủng viện An Ninh và là một giáo sư người Việt Nam đầu tiên giảng dạy tại chủng viện Công giáo. Ông dạy các môn Latin, Pháp, Toán, Việt với một phương pháp sư phạm rất tiến bộ, dễ hiểu, dễ nhớ, trình bày rất rõ ràng, sáng sủa khiến cho học trò rất thích thú.

Năm 1923, ông được bổ nhiệm làm cha Sở họ đạo Trường An, cùng với Giám mục Eugène Allys Lý xây dựng Dòng Thánh Tâm (Institution Coeur) tại Trường An (Huế). Năm 1924, ông được cử làm Bề trên tiên khởi của Dòng.

Ngày 12 tháng 3 năm 1935, Giáo hoàng Piô XI ký sắc phong ông làm Giám mục phó Giáo phận Tông tòa Bùi Chu. Lễ tấn phong Giám mục hiệu tòa Zenobis diễn ra vào ngày 29 tháng 3 năm 1935 tại nhà thờ Phú Cam, Huế, do Khâm sứ Columban Dreyer chủ phong với sự phụ phong của hai Giám mục Chabanon Giáo (Giáo phận Huế) và GB Nguyễn Bá Tòng (Giáo phận Bùi Chu), cùng với sự chứng kiến của cựu Thượng thư Nguyễn Hữu Bài. Ông trở thành vị Giám mục người Việt thứ 2 sau Giám mục GB Tòng và là Giám mục đầu tiên được thụ phong trong nước. Sau khi thụ phong, ông lấy tên tên thánh Giuse, vì thế trong một số tài liệu ghi tên đầy đủ của ông là Giuse Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn (Giuseppe Dominique Hồ Ngọc Cẩn).

Ngày 17 tháng 6 năm 1936, ông chính thức trở thành Giám mục Việt Nam tiên khởi của Giáo phận Tông tòa Bùi Chu, khi kế vị Giám mục chính Pedro Muzagorri Trung vừa qua đời.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, hưởng ứng Lời kêu gọi "Tuần lễ vàng" của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Giám mục Hồ Ngọc Cẩn đã hiến tặng một dây chuyền vàng.

Ngày 8 tháng 9 năm 1946, ông cho lập dòng tu Chị em con Đức Mẹ Mân côi Bùi Chu (còn gọi là Dòng Dòng Nữ Ðức Mẹ Mân côi).

Ngày 27 tháng 11 năm 1948, ông qua đời sau 13 năm cai quản Giáo phận, hưởng thọ 72 tuổi và được an táng tại nhà thờ chính tòa Bùi Chu.

Sự nghiệp văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Không chỉ là một Giám mục được giáo dân yêu quý, ông còn là tác giả nhiều sách đạo và sách học, như các sách về ngữ pháp Latin và tiếng Pháp, sách giáo khoa Toán và Văn học Việt Nam.

Trong thời gian 10 năm là Bề trên của Dòng Thánh Tâm, ông đã cho mở 4 trường tiểu học bổ túc do các sư huynh trong Giáo đoàn đảm nhận giảng dạy tại Trường An, Kim Long, Phú Cam và Lại Ân cho các chủng sinh trước khi vào Chủng viện. Ông cũng cho mở nhà in "Thánh Tâm" (lúc đầu gọi là Trường An ấn quán) để in sách báo, tài liệu Công giáo của Giáo phận Huế. Thượng thư Nguyễn Hữu Bài đã dâng cúng thửa vườn và nhà cửa để lập cơ sở này.

Năm 1937, ông cho lập trường tiểu học Trung Linh. Từ năm 1938, ông đã cải tổ Tiểu chủng viện theo chương trình mới, để đào tạo linh mục. Năm 1937, khai trương Đại chủng viện từ Bùi Chu, qua Phú Nhai, rồi tiến tới Đại chủng viện Quần Phương vào năm 1940, một chủng viện đầu tiên do giáo sĩ Việt Nam điều khiển.

Tên ông từng được đặt tên cho cho một trường Trung học tại Giáo xứ Lục Thủy, thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, Nam Định, được thành lập năm 1949. Sau năm 1954, trường dời vào Nam, vẫn lấy tên là Hồ Ngọc Cẩn, với trụ sở chính thức tại Bà Chiểu, Gia Định. Sau năm 1975, trường đổi tên thành trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, den nam 1977 doi thanh Truong Tieu hoc Nguyen Dinh Chieu cho đến ngày nay (2013).

Ngoài ra, tên ông còn được đặt cho một con đường ở Sài Gòn từ năm 1967. Tên đường này vẫn được giữ cho đến ngày nay, thuộc địa bàn phường Tân Thành, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (2010).

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Văn phạm La Tinh (02 cuốn)
  2. Văn phạm tiếng Pháp (02 cuốn). (được giải thưởng của Khâm Sứ Tòa Thánh)
  3. Mẹo tiếng An Nam (tức Văn phạm chữ Quốc ngữ) (2 cuốn)
  4. Toán pháp (02 cuốn)
  5. Hán tự quy giảng (Văn phạm Hán văn)
  6. Thường đàm nhật dụng, văn khế đơn tự.
  7. Luận Quốc văn (02 cuốn)
  8. Pháp tự khúc ca
  9. Tán nữ khúc ca
  10. Ngạn nhữ kinh thơ
  11. Hán Việt thường đàm (nhà in Trường An Huế, 1942)
  12. Văn chương thi phú An Nam (in lần thứ hai, nhà in Truyền giáo hải ngoại, Hồng Kong, 1923).
  13. Con muốn ở nhà Ðức Chúa Trời (In lần thứ ba, Hồng Kông, nhà in Nazareth, 1930)
  14. Tu viện trinh nữ.
  15. Tu phân minh cảnh
  16. Tu sĩ thần lương
  17. Giúp Linh Mục cấm phòng (nhà in Bùi Chu, 1938)
  18. Tháng Trái Tim Chúa Giêsu
  19. Tháng Ðức Bà, tháng Thánh Giuse
  20. Gẫm quanh năm (dịch, 5 cuốn)
  21. Phước họa thị phi (3 cuốn)
  22. Tuồng (Bảy Mối)
  23. Truy tầm chân đạo (nhà in Thánh gia Bùi Chu, 1951)
  24. Sách cha mẹ dạy con
  25. Thận chung truy viễn
  26. Giáo nhơn hành thiện
  27. Triết nhơn tri kỷ
  28. Quê ta ở đâu?
  29. Bổn Ðồng ấu (sách giáo lý cho thiếu nhi)
  30. Tháng giáo thuyết minh (sách giáo lý cho người lớn)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]