Jean Cassaigne Sanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Jean Cassaigne)
Jump to navigation Jump to search
Gioan Cassaigne Sanh
Đại diện Tông Tòa
Hạt Đại diện Tông Tòa Sài Gòn (1941 - 1955)
Gm sanh.png
Khẩu hiệu: Bác Ái và Tình Yêu
(Caritas et Amor)
Giáo phận Sài Gòn
Tòa giám mục Sài Gòn
Tấn phong 24 tháng 6 năm 1941
Hưu 30 tháng 11 năm 1955
Tiền nhiệm Isidore-Marie-Joseph Dumortier Đượm
Kế vị Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền
(Giám mục Tông Toà GP. Sài Gòn)
Thụ phong 19 tháng 12 năm 1925
Ngày sinh 30 tháng 1 năm 1895
Ngày mất 31 tháng 10, 1973 (78 tuổi)
Quốc tịch Pháp
Giáo hội Công giáo Rôma
Quê quán Landes, Pháp
Thánh quan thầy Gioan

Gioan Cassaigne Sanh (tiếng Anh: Jean Cassaigne Sanh) là một giám mục Công giáo người Pháp thuộc Hội Thừa Sai Paris, phục vụ tại Việt Nam. Ông từng giữ chức Giám mục Tông Toà giáo phận Sài Gòn từ năm 1941 đến năm 1955. Ông nổi tiếng là vị giám mục người phong vì các quan tâm đặc biệt của ông đến người bị bệnh phong cùi.[1]

Thiếu thời và tu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 30 tháng 1 năm 1895, là con trai duy nhất của một tiểu thương bán rượu là ông Joseph Cassaigne, mẹ là Nelly ở phường Grenade, Adour, địa phận Dax, vùng Tây Nam nước Pháp.[2][3]

Là học sinh của các sư huynh Lasan, ông là một thiếu niên tinh nghịch nhưng ham đọc sách, đặc biệt là ham thích đọc cuộc đời các vị truyền giáo ở Á Châu.[3]

Lên cấp II Trung học, ông bị buộc theo ngành Thương nghiệp để nối tiếp nghề của cha. Nhưng ông chỉ muốn vào Chủng viện. Năm 1914, chiến tranh Pháp-Đức bùng nổ, ông phải đầu quân tham chiến, đến 1918 được huy chương Anh dũng bội tinh và từ chối đề nghị hôn nhân. Năm 1920, ông vào Chủng viện Thừa sai Hải ngoại Paris để nối gót các thừa sai đã ra đi vì Chúa.[3]

Linh mục[sửa | sửa mã nguồn]

Bổ nhiệm truyền giáo tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 19 tháng 12 năm 1925, Cassaigne được thụ phong linh mục. Năm 1926, tên ông nằm trong danh sách 8 tu sĩ thừa sai đuợc cử đi các nước Viễn Đông: Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Lào. Trong đó, ông được chọn mục vụ tại Việt Nam.[1] Ngày 06 tháng 04 năm 1926, linh mục Gioan từ giã gia đình tại ga Lyon đi Marseille rồi qua Việt Nam, ngày 05 tháng 05, tàu cập bến Sài Gòn, Linh mục Cassaigne được đưa về Cái Mơn học tiếng Việt, chọn tên Việt Nam là Gioan Sanh.[3]

Ngày 24 tháng 01 năm 1927, Giám mục Isidore Marie Joseph Dumortier Đượm (MEP) cử ông làm Linh mục Chánh xứ Giáo họ Di Linh. Giám mục Sài Gòn Dumortier cử ông lên loan báo Tin Mừng ở rừng núi Di Linh. Di Linh có người dân tộc K’Ho. Ông bắt đầu học tiếng K’Ho chỉ bằng cách lắng nghe suốt ngày, đêm mò mẫm soạn cuốn "Thượng ngữ" bỏ túi với 3 thứ tiếng: K’Ho, Pháp, Việt.[3], lần đầu tiên xuất bản ngày 28 tháng 12 năm 1929.[4]

Năm 1929, Jean Cassaigne thành lập trường học đầu tiên tại Di Linh, lúc đầu trường chỉ có 2 lớp với 32 học sinh (toàn là người dân tộc Cơ Ho) đặt ở trong nhà xứ.[4]

Linh mục trẻ và người phong[sửa | sửa mã nguồn]

Vì nơi đây bệnh phong không ít, ông đi tìm bệnh nhân, cho họ ít gạo, muối. Lần nọ ông đến thăm một bà bệnh nặng, ông nói cho bà nghe về Thiên Chúa bằng tiếng K’Ho rồi hỏi bà có muốn làm con Chúa về Trời với Chúa không? bà cúi đầu ưng thuận. Ông vội chạy về nhà, lấy nước thanh tẩy bà. Bà tỏ vẻ xúc động, nói: Ông lớn ơi (theo tiếng K’Ho) tôi sẽ nhớ ông khi tôi về Trời.[3]

Một ngày khác, đi xa hơn, ông gặp một đoàn người xơ xác kêu gào: Ông lớn ơi, xin thương đến chúng tôi, rồi tất cả sụp lạy, khóc oà lên. Vị linh mục trẻ nghẹn ngào, dựng một mái nhà để chăm sóc những người này. Ông kêu gọi các bệnh nhân từ trong rừng đến đây chung sống. Với sự hỗ trợ của nhiều người quen, ông mở được một nhà phát thuốc, băng bó, chữa trị. Rồi ông cũng lâm bệnh sốt rét rừng hành hạ, ông buộc phải về Pháp chữa trị trong 9 tháng. Ngày ông trở lại Di Linh, già trẻ đua nhau chạy, mừng quá, có người quên đóng khố. Ông nhắc: Các con phải luôn choàng áo và khăn khố để tránh nhiễm độc chứ![3]

Công việc ngày càng nhiều, làng phong thêm con cháu, ông kêu gọi các chị Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn giúp cha chia sẻ số phận của người phong và được 3 chị hết lòng cùng ông chăm sóc bệnh nhân.[3]

Tháng 06 năm 1936, ông ban bí tích Thánh Tẩy cho 46 dự tòng, trong đó có 26 người mắc bệnh phong.[3] Ông mời các nữ tu Đà Lạt về Di Linh đỡ đầu cho các tân tòng phong, các Nữ Tử Bác Ái, các kinh sĩ thánh Âu Tinh dòng Đức Bà vui mừng và hết lòng cộng tác với ông tinh thần và vật chất, như mở trường, dạy giáo lý… Nam Phương Hoàng hậu gửi một số tiền để tổ chức lễ Rửa Tội cho các tân tòng, bà nhiệt tình ủng hộ hàng năm công việc truyền giáo của ông.[3]

Một hôm, một viên chức cao cấp bộ Thanh tra Giáo dục Đông Dương đến Di Linh săn bắn, đi lạc đến làng phong, trông thấy ông đang băng bó cho một người rụng hết ngón tay, ngón chân, ông rợn người và ngạc nhiên hỏi linh mục Sanh:[3]

- Ông có quyền nào mà dám mở nhà điều trị căn bệnh ghê sợ này? Ông xuất thân từ Đại học Y khoa nào?
- Tôi chỉ là một linh mục nhưng thấy bệnh nhân quá khổ, sống chui rúc trong rừng sâu rồi chết chẳng ai hay biết, nên tôi thấy có bổn phận thương và chăm sóc họ. Nơi đây tôi vừa là giám đốc vừa là y tá, y công, kể cả hộ sinh nữa! Hiện nay có 129 bệnh nhân, tôi phải ngửa tay xin các nhà từ tâm trợ lực mới kéo dài được cuộc sống của họ đến hôm nay.

Ông Tây ra về. Một tháng sau ông nhận một thùng thuốc ký tên: Tổng Thanh tra giáo dục Đông Dương. Bốn tháng sau, công nhận tin đến Phnom Penh gấp gặp ông giám đốc này. Đến nơi thì mới biết là ông giám đốc đang chờ ông ban phép Thanh Tẩy![3]

Hương thơm bác ái của vị linh mục này bay đến tận Paris. Năm 1939, ông được nhận Huy chương bạc của Hàn lâm viện y khoa Paris gửi tặng mặc dầu ông chưa bao giờ đặt chân vào một trường y nào. Vậy mà ông còn làm "hộ sinh" nữa, giúp một người mẹ phong cùi sinh con. Biết sự việc, Giám mục Drapier trách ông quá liều lĩnh. Ông giải thích: Ở đây cả làng không có một y tá hay cô đỡ. Tôi là người duy nhất có 10 ngón tay. Nếu một người cùi chạm đến thai nhi thì nguy hiểm lắm. Bà sản phụ lại là một bệnh nhân lở loét, không ai dám đến gần.[3]

Giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 20 tháng 2 năm 1941, Toà Thánh bổ nhiệm ông làm Giám mục, vị trí Đại diện Tông Toà Hạt Đại diện Tông Tòa Sài Gòn.[5] Sau những ngày do dự, mặc dầu tâm hồn nặng trĩu, ông đã phải đánh điện qua Rôma: FIAT (Xin Vâng!)[3]

Thời khói lửa, xã hội và Giáo hội, đất nước bị phân chia nhiều thành phần đối kháng nhưng Giám mục Sài Gòn không thiên vị một phe nào, tận tình phục vụ mọi người. Cửa tòa Giám mục luôn mở rộng đón tiếp mọi người. Nơi nào có nhu cầu hay tai họa, ngài kiếm cách giúp đỡ ủi an.[3]

Ngày 24 tháng 6 ngày 1941, lễ tấn phong cho Tân giám mục Cassaigne lễ diễn ra ở Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn.[5]

Ngày 23 tháng 06 năm 1943, linh mục Bùi Văn Nho đến mừng lễ Bổn mạng ông (Lễ Thánh Gioan Baotixita), ông vừa đọc phiếu kết quả xét nghiệm xác nhận mình bị nhiễm vi trùng Hansen (Phong). Ông cười nói: Đây là quà lễ quan thầy của tôi.[3]

Linh mục Nho sững sờ: Ôi Đức Cha bị nhiễm Phong rồi?

Ông cười và đáp: Không phải bị mà là được vì được về Di Linh với đoàn con! Có đau mới hiểu người đau và biết thương họ nhiều hơn.[3]

Ông gửi thư cho Khâm sứ Tòa thánh ở Việt Nam và Tổng quyền Hội Thừa Sai Paris xin từ chức trở về Di Linh. Mãi đến năm 1954, Tân Giám mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền được Toà thánh bổ nhiệm thay ngài làm Giám mục Tông Toà Giáo phận Sàigòn. Ông về Di Linh.[3]

Năm 1955, ông tiếp tục phục vụ bệnh nhân mặc dù bản thân còn mang thêm bệnh sốt rét rừng, lao xương, lao phổi… Nhiều người muốn đưa ông về Pháp chữa trị nhưng bị ông từ chối: Tôi là người Pháp nhưng trái tim tôi là của người Việt Nam. Tôi muốn sống trong đau khổ và chết nơi đây. Việt nam là quê hương của tôi.[2][3]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1973, ông lâm vào trạng thái lúc tỉnh lúc hôn mê. Cho đến ngày 30 tháng 10 năm 1973 thì ông qua đời. Tang lễ của ông có khoảng trên 3000 người đến viếng. Trong số những người đến viếng ông có cả Thượng toạ Phật giáo và đại diện chính quyền Việt-Pháp. Năm đêm liền, có rất đông người K’Ho cả bệnh tật và khoẻ mạnh từ các rừng núi, buôn làng cùng về, mặc tang phục trắng, canh thức suốt đêm bên cạnh linh cữu ông.[3]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Chân dung linh mục Việt Nam: Đức cha Jean Cassaigne”. Hội đồng Giám mục Việt Nam. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2015. 
  2. ^ a ă Trần Trung Sáng (ngày 8 tháng 11 năm 2013). “Một người Pháp mang trái tim Việt Nam”. Công an TP Đà Nẵng. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2015. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p “Sống Nhân Ái: ĐGM phong cùi Jean Cassaigne-Gioan Sanh (1895-1973”. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2015. 
  4. ^ a ă “Địa chí Lâm Đồng (Nhà xuất bản văn hóa dân tộc - Hà Nội, 2001): Chương 1: Giáo dục và đào tạo - Thời kỳ trước năm 1945”. Cổng thông tin điện tử, thuộc Sở Thông tin & Truyền thông Lâm Đồng. 
  5. ^ a ă Chân dung linh mục Việt Nam: Đức cha Jean Cassaigne