Bình Đại

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Huyện Bình Đại
Huyện
Địa lý
Tọa độ: 10°11′12″B 106°42′9″Đ / 10,18667°B 106,7025°Đ / 10.18667; 106.70250 (Thị trấn Bình Đại)Tọa độ: 10°11′12″B 106°42′9″Đ / 10,18667°B 106,7025°Đ / 10.18667; 106.70250
Diện tích 401 km²
Dân số (2015)  
 Tổng cộng 162.193 người
 Thành thị 36.580 người.
 Nông thôn 125.623 người.
 Mật độ 404 người/km²
Dân tộc kinh
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
Tỉnh Bến Tre
Huyện lỵ Thị trấn Bình Đại

Huyện Bình Đại thuộc tỉnh Bến Tre, đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện nằm trên cù lao An Hoá, so với các huyện khác trong tỉnh Bến Tre thì Bình Đại có phần cô lập, nằm lẻ loi trên một dãy cù lao:

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Bình Đại có 20 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 1 thị trấn huyện lị Bình Đại (đô thị loại IV) và 19 : Bình Thắng, Bình Thới, Châu Hưng, Đại Hòa Lộc, Định Trung, Lộc Thuận (đô thị loại 5), Long Định, Long Hòa, Phú Long, Phú Thuận, Phú Vang, Tam Hiệp (cù lao Tam Hiệp), Thạnh Phước, Thạnh Trị, Thới Lai, Thới Thuận, Thừa Đức, Vang Quới Đông, Vang Quới Tây.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Do vị trí cô lập này nên vào thời các chúa Nguyễntriều Nguyễn, Bình Ðại không cùng thuộc một địa giới hành chính với các huyện khác trong tỉnh Bến Tre. Năm 1779, vùng đất Bình Đại thuộc địa phận tổng Kiến Hòa, huyện Kiến Khương, dinh Phiên Trấn. Về sau, dinh Phiên Trấn đổi thành dinh Trấn Định, huyện Kiến Khương đổi thành Kiến An, tổng Kiến Hòa được nâng lên thành huyện; phần đất Bình Đại trở thành tổng Hòa Bình của huyện Kiến Hòa.

Năm 1831, vua Minh Mạng tách huyện Kiến Hòa ra thành hai huyện là Kiến Hòa và Tân Hòa. Huyện Kiến Hòa mới thành lập có 5 tổng, 162 thôn. Sau năm 1832, huyện Kiến Hòa thuộc tỉnh Định Tường, phần đất Bình Đại nằm trong địa giới hai tổng Hòa HằngHòa Thinh. Dưới triều vua Tự Đức, tổng Hòa Hằng đổi tên là tổng Hòa Quới, vẫn thuộc huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường.

Ngày 1 tháng 1 năm 1900, tỉnh Mỹ Tho được thành lập, hai tổng Hòa Quới, Hòa Thinh thuộc tỉnh này. Năm 1902, địa giới huyện Bình Đại hôm nay nằm trọn vẹn trong tổng Hòa Thinh và một phần tổng Hòa Quới, thuộc tỉnh Mỹ Tho. Những năm 30 của thế kỷ XX, Pháp lập quận An Hòa thuộc tỉnh Mỹ Tho, bao gồm đất của hai tổng Hòa Quới, Hòa Thinh và một phần tổng Thuận Trị, nghĩa là toàn bộ cù lao An Hòa. Ban đầu, quận lỵ đặt tại chợ An Hòa, sau dời về chợ Bà Khoai thuộc xã Bình Đại.

Sau năm 1950, quận An Hòa được đổi thành quận Bình Đại, vẫn thuộc tỉnh Mỹ Tho. Ngày 28 tháng 6 năm 1956, quận Bình Đại thuộc tỉnh Bến Tre. Ngày 22 tháng 10 năm 1956, tỉnh Bến Tre đổi thành tỉnh Kiến Hòa, quận Bình Đại lúc này bao gồm 13 xã: Bình Đại, Châu Hưng, Long Phụng, Long Thạnh, Lộc Thuận, Phú Thuận, Phước Thuận, Tân Phú, Thành Tân, Thới Thuận, Thới Vinh, Thừa Đức, Vang Quới.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Bình Đại trở thành huyện của tỉnh Bến Tre, gồm thị trấn Bình Đại và 9 xã: Bình Đại, Bình Yên, Định Hòa, Lộc Thuận, Tân Phú Trung, Thạnh Phước, Thới Thuận, Thừa Đức, Vinh Thới.

Ngày 3 tháng 4 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 141-CP về việc điều chỉnh địa giới một số xã thuộc tỉnh Bến Tre:

  • Chia xã Bình Đại thành ba xã lấy tên là xã Thạnh Trị, xã Đại Hòa Lộc và xã Bình Thới.
  • Chia thị trấn Bình Đại thành hai đơn vị hành chính lấy tên là xã Bình Thắng và thị trấn Bình Đại.
  • Chia xã Tân Phú Trung thành hai xã lấy tên là xã Phú Long và xã Định Trung.
  • Chia xã Lộc Thuận thành hai xã lấy tên là xã Phú Vang và xã Lộc Thuận.
  • Chia xã Vinh Thới thành hai xã lấy tên là xã Thới Lai và xã Vang Quới.
  • Chia xã Bình Yên thành hai xã lấy tên là xã Châu Hưng và xã Phú Thuận.
  • Thành lập ở cù lao Cồn Tàu một xã mới lấy tên là xã Tam Hiệp.

Ngày 14 tháng 3 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 41-HĐBT phân vạch địa giới xã, thị trấn, thị xã thuộc tỉnh Bến Tre:

  • Chia xã Định Hòa thành hai xã lấy tên là xã Long Định và xã Long Hòa.
  • Chia xã Vang Qưới thành hai xã lấy tên là xã Vang Qưới Đông và xã Vang Qưới Tây.

Cuối năm 2004, huyện bao gồm thị trấn Bình Đại và 19 xã: Tam Hiệp, Long Định, Long Hòa, Phú Thuận, Châu Hưng, Vang Quới Tây, Vang Quới Đông, Thới Lai, Phú Vang, Lộc Thuận, Định Trung, Phú Long, Bình Thới, Thạnh Trị, Đại Hòa Lộc, Bình Thắng, Thạnh Phước, Thừa Đức, Thới Thuận.

Giáo dục y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Đại là một trong ba huyện ven biển của Bến Tre, nhưng không được nhiều thuận lợi như Ba TriThạnh Phú. Bình Đại thường xuyên chịu sự xâm nhập của nước mặn vào tận các xã ở giữa cù lao như Lộc Thuận, Vang Quới Đông, biến nơi đây thành khu vực hoang vu mà người dân gọi là đồng Bưng Lớn.

Người dân Bình Đại làm vườn, làm ruộng, trồng giồng và đánh cá biển, chế biến những sản phẩm của biển.

Đặc sản[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc sản dưa hấu mà Nguyễn Liên Phong từng ca ngợi trong Nam Kỳ phong tục, nhân vật diễn ca: "Tư bề Thừa Đức nội thôn. Đất trồng dưa hấu ngọt ngon quá chừng", chính là dưa hấu Cửa Đại. Dưa Cửa Đại từng được bằng khen trong hội chợ đấu xảo canh nông Nam Kỳ do Pháp tổ chức vào đầu những năm ba mươi của thế kỷ này. Ngoài ra, bí đỏ Giồng Giếng (Thạnh Phước), mãng cầu Thới Thuận cũng là đặc sản có tiếng trong vùng.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Người dân Bình Đại ngoài nghề làm vườn, làm ruộng còn có nghề trồng giồng và nghề đánh cá biển, chế biến những sản phẩm của biển. Ở các xã Thừa Đức, Thới Thuận, Thạnh Phước có những gia đình chuyên sống bằng nghề trồng giồng.[1]

Nghề đánh cá[sửa | sửa mã nguồn]

Nghề đánh cá ở Bình Đại là một nghề có truyền thống lâu đời và có những nét độc đáo riêng. Chuyên khảo tỉnh Mỹ Tho ghi nghề cá tỉnh Mỹ Tho gồm có bốn làng: Thừa Đức, Thới Thuận, Thọ Phú, Phước Thuận (tức các xã Thừa Đức, Thới Thuận, Thạnh Phước hiện nay).[1]

Một nghề đáng lưu ý nữa của ngư dân Bình Đại là nghề câu kiều. Dụng cụ của nghề này là một giàn lưỡi câu to, rất bén nhưng không có ngạnh (có giàn tới cả ngàn lưỡi câu), phao câu được tra vào những sợi dây giềng với khoảng cách và chiều dài theo một quy tắc nhất định. Sóng và dòng nước chảy làm dao động dàn phao, chuyển thành làn xoáy, khiến các loài cá như cá mập, cá đuối, cá đao... phải lặn xuống sâu để vượt qua giàn lưỡi câu, chúng bị lưỡi câu sắc bén ấy móc vào thịt. Lúc ấy, ngư dân dùng dao đâm chết cá rồi trục lên ghe đem về.[1]

Nghề đóng ghe[sửa | sửa mã nguồn]

Gắn liền với nghề đánh bắt hải sản ở Bình Đại là nghề đóng ghe nổi tiếng của cánh thợ vùng Thới Thuận. Ghe của vùng biển Bình Đại thường được gọi là ghe cửa. Đặc điểm của loại ghe này là mũi cao vừa phải, lườn rộng, thân vững chắc, bánh lái dẹp và dài, hai buồm, trục cuốn và buồm đan bằng lá buông.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm ở vị trí bốn bên là sông và biển bao bọc, Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy. Ghe tàu đi đánh cá ngoài biển, khi về thường đổ ở bến Bình Thắng để đưa sản phẩm lên chợ Bà Khoai, chợ lớn nhất của huyện. Tỉnh lộ 883 dài 58,33 km, chạy từ đầu huyện đến cuối huyện, một đầu nối với quốc lộ 60.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]