Châu Thành, Bến Tre

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Châu Thành

Huyện
Hành chính
VùngĐồng bằng sông Cửu Long
TỉnhBến Tre
Trụ sở UBNDthị trấn Châu Thành
Phân chia hành chính1 thị trấn, 21 xã
Thành lập1929
Địa lý
Diện tích224,82 km2
Dân số (2018)
Tổng cộng157.138 người
Mật độ699 người/km²
Dân tộcViệt, Hoa, Khmer
Khác
Biển số xe71-B1-B2-B3
Websitehttp://www.chauthanh.bentre.gov.vn

Châu Thành là một huyện của tỉnh Bến Tre, đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam.

Huyện có diện tích 224,82 km2 và dân số là 157.138 người[1]. Huyện lị là thị trấn Châu Thành nằm trên đường quốc lộ 60 cách thành phố Bến Tre khoảng 10 km về hướng bắc và cách thành phố Mỹ Tho khoảng 7 km về hướng nam.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện nằm ở phía bắc tỉnh Bến Tre:

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình

Châu Thành có địa hình đặc thù, đó là địa hình đồng bằng ven biển với những giồng cát chạy dài. Nhìn chung, địa hình tương đối thấp và bằng phẳng. Độ cao trung bình phổ biến từ 0,4 – 1,2 m (chiếm khoảng 87% diện tích toàn huyện). Nơi có địa hình cao nhất (+5 m) là các đỉnh giồng thuộc Đa Lộc - Mỹ Chánh. Nơi có địa hình trũng (+ 0,2 m) thuộc các cánh đồng ở xã Thanh Mỹ và rãi rác ở các xã Phước Hảo, Lương Hoà, Lương Hoà A, Song Lộc, Hoà Thuận. Do sự phân cách giữa các dòng cát và hệ thống sông rạch đã tạo nên địa hình của huyện khá phức tạp và có đặc tính riêng của từng vùng. Huyện có 2 xã cù lao là Long Hoà, Hoà Minh nằm trên sông Cổ Chiên.

Khí hậu

Huyện nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ven biển, có 2 mùa mưa, nắng rõ rệt trong năm. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ tương đối cao và ổn định, trung bình từ 25 - 280C; nhiệt độ cao nhất 35,80C vào tháng 4, 5; nhiệt độ thấp nhất là 18,70C vào tháng 1, 2. Tổng lượng mưa/năm đạt khoảng 1.400-1.500 mm tập trung chủ yếu vào mùa mưa (tháng 7,8,9 đạt 300 mm/tháng). Nhìn chung, điều kiện khí hậu của huyện Châu Thành rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, do lượng mưa tập trung theo mùa nên thường xảy ra ngập úng cục bộ đối với một số vùng có địa hình thấp, trũng.

Thủy văn

Trên địa bàn huyện có nhiều sông ngòi, kênh rạch lớn, chằng chịt, cung cấp tốt cho việc sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt của nhân dân. Bên cạnh đó, nước ngầm tần sâu khá phong phú cũng góp phần phục vụ nguồn nước sinh hoạt cho dân cư: - Sông Cổ Chiên đi qua huyện Châu Thành dài khoảng 30 km, chia thành hai nhánh bởi cù lao Long Hoà – Hoà Minh đổ ra biển Đông qua cửa Cung Hầu. Sông rộng trung bình 1,8 – 2,1k m và rất sâu, chịu ảnh hưởng của thủy triều nên khả năng tích nước và thoát nước lớn, lưu lượng bình quân 12.000 – 19000 m3/s, hàm lượng phù sa từ 100 – 500g/m3. - Sông Láng Thé - Ba Si: bắt nguồn từ sông Cổ Chiên chạy theo ranh giới hai huyện Càng Long và Châu Thành, chia làm hai nhánh có chiều dài 16,3 km, ảnh hưởng chủ yếu đến đất đai các xã phía Bắc của huyện. - Sông Song Lộc: hình thành từ nhánh rẽ của sông Ba Si chảy qua địa bàn các xã Song Lộc, Lương Hoà đến kênh Thống Nhất tại xã Thanh Mỹ, tổng chiều dài khoảng 14 km. - Sông Bãi Vàng – Vĩnh Kim: bắt đầu từ ranh giới giữa hai huyện Châu Thành và Cầu Ngang chạy theo hướng Đông – Nam dài khoảng 8 km. Toàn huyện có 355 km kênh mương thủy lợi chính, gồm 80 km kênh cấp I và 275 km kênh cấp II, bình quân 1 ha đất canh tác có 12,62 m kênh mương thủy lợi. Do huyện nằm ven sông Cổ Chiên và cửa Cung Hầu nên chịu ảnh hưởng bởi chế độ bán nhật trìêu của biển Đông. Trong ngày nước lên xuống hai lần, mỗi tháng có 2 lần triều cường sau ngày 1 và ngày 15 âm lịch và 2 lần triều kém sau ngày 7 và 23 âm lịch (từ 2 đến 3 ngày), biên độ triều hàng ngày rất lớn, nhất là các khu vực gần cửa sông. Biên độ tắt dần khi vào nội đồng, đặc biệt vào mùa triều cường (tháng 10,12 dương lịch) đối với vùng kinh Thông Nhất qua ngọn Ô Chát chịu ảnh hưởng chung của sông Cổ Chiên và sông Hậu, biên độ triều hàng ngày nhỏ và hầu như không đáng kể vào thời kỳ triều cường nhất trong năm. Một số vùng thấp (Thanh Mỹ – Đa Lộc) có thời gian nước trên đồng không rút được, dù độ ngập không lớn. Vào mùa khô, triều cường và gió chướng đưa nước mặn xâm nhập vào nội đồng, độ mặn trung bình thay đổi từ 2,24‰ - 9,96‰ từ cuối tháng 1 đến tháng 6, tháng 4 có độ mặn cao nhất trên 18‰ (Hưng Mỹ). Các cửa sông gần biển thì độ mặn càng cao. Do dự trữ nước nội đồng và nguồn bổ sung từ trên xuống, từ sông Hậu sang nên độ mặn giảm dần khi vào nội đồng.

Tài nguyên thiên nhiên

Đất: Theo số liệu thống kê của huyện hồi 01-2008, huyện Châu Thành có diện tích tự nhiên là 33.485,97 ha, trong đó, đất nông nghiệp là 26.110,56 ha, chiếm 79,1% diện tích tự nhiên (gồm: đất cây hàng năm 17.899,56 ha, chiếm 75,9% đất nông nghiệp, trong đó đất trồng lúa 17.132,91; đất trồng cây lâu năm 5.676,75 ha; đất nuôi trồng thủy sản 836 ha); đất phi nông nghiệp 7.373,61 ha.

Theo kết quả khảo sát thành lập bản đồ thổ nhưỡng trước tháng 1/2000, đất đai của huyện chia thành 4 nhóm:

- Đất giồng cát: 1.340 ha (chiếm 3.84% diện tích đất). Phân bố ở các xã Hoà Thuận, Đa Lộc, Lương Hoà, thị trấn Châu Thành.

- Đất cát triền giồng 605 ha (chiếm 1,73% diên tích đất). Phân bố dọc theo những giồng cát trong huyện. - Đất phù sa: 16.430 ha (chiếm 47,11% diện tích đất). Phân bố rải rác trong huyện.

- Đất phèn 10.381 ha (chiếm 29,77% diện tích đất). Chủ yếu là đất phèn tiềm tàng nhiễm mặn ít ở các xã Hưng Mỹ, Thanh Mỹ, Phước Hảo; đất phèn tiềm tàng nhiễm mặn trung bình tập trung ở Long Hoà – Hoà Minh. Nhìn chung, đất đai của huyện thích hợp cho cây trồng hằng năm (đặc biệt là lúa nước – thủy sản). Riêng đất cát giồng hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất nghèo và có tầng chứa độc phèn. Hạn chế chung trong khai thác sử dụng đất là thiếu nước ngọt, nhiều vùng đất bị nhiễm mặn vào mùa khô.

Rừng: Diện tích rừng tự nhiên trong huyện năm 2007 là 42,66 ha, tập trung ở các xã Long Hoà (37,33 ha) và xã Hưng Mỹ 5,33 ha. Rừng phòng hộ ven biển trồng mới đến 2007 là 135,7 ha. Cây rừng chủ yếu là quần thể bần, mắm. Rừng được khoanh nuôi ở khu vực bãi bồi ven cửa sông nhằm bảo vệ môi trường và chống xói lở giữ ổn định cho đất.

Biển: Huyện Châu Thành có 2 xã cù lao Hoà Minh, Long Hoà nằm tiếp giáp với cửa Cung Hầu thông ra biển Đông. Đây là một trong những cửa biển lớn và quan trọng của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và của tỉnh Trà Vinh nói riêng, có nguồn tài nguyên hải sản với nhiều loại hải sản có giá trị thương phẩm cao. Cùng với việc khai thác nguồn thủy sản nội đồng trong môi trường nước mặn, lợ với các sản phẩm có thế mạnh như tôm sú, cua biển, tôm càng xanh.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Châu Thành có 22 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thị trấn Châu Thành (huyện lị) và 21 : An Hiệp, An Hóa, An Khánh, An Phước, Giao Hòa, Giao Long, Hữu Định, Phú An Hòa, Phú Đức, Phú Túc, Phước Thạnh, Quới Sơn, Quới Thành, Sơn Hòa, Tam Phước, Tân Phú, Tân Thạch, Thành Triệu, Tiên Long, Tiên Thủy, Tường Đa.

Giáo dục y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Nông nghiệp

Năm 2007, giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện đạt 483 tỷ 838 triệu đồng, giảm 2,65% so năm 2006.

- Trồng trọt: tổng diện tích gieo trồng đạt 39.683,87 ha, giảm 7,09% so năm 2006. Cụ thể:

+ Cây lúa: diện tích gieo trồng đạt 35.640,17 ha, giảm 8,90% so năm 2006; năng suất bình quân 3,82 tấn/ha, giảm 0,42 tấn/ha so năm 2006; sản lượng lúa thực hiện 135.985,27 tấn, so năm 2006 giảm 18,10% tương đương 30.062,13 tấn.

+ Cây màu: diện tích gieo trồng màu 3.105 ha, (tăng 328,9 ha so năm 2006), sản lượng 64.379,2 tấn; trong đó bao gồm: màu lương thực có diện tích gieo trồng 787 ha, sản lượng 7.588,7 tấn; màu thực phẩm có diện tích gieo trồng 2.318 ha, sản lượng 56.790,5 tấn.

+ Cây công nghiệp ngắn ngày: diện tích gieo trồng đạt 688,7 ha, sản lượng 28.988,72 tấn.

- Chăn nuôi: Năm 2007, tổng số lượng đàn heo của huyện là 53.842 con, đàn bò 27.136, đàn trâu 329 con, đàn dê - cừu 1.848 con, đàn gia cầm 464.477 con, đàn thỏ 1.623 con.

- Thủy sản: năm 2007, giá trị sản xuất ngành thủy sản trên địa bàn huyện đạt 314 tỷ 871 triệu đồng, tăng 30,54% so năm 2006; tổng sản lượng thực hiện 14.945,6 tấn, tăng 13,29% so năm 2006; trong đó, tôm các loại 3.089,6 tấn; tăng 26,82% so năm 2006.

+ Nuôi trồng: sản lượng thu hoạch 9.015,6 tấn, tăng 12,57% so năm 2006. Trong đó: tôm sú 1.929,6 tấn, tăng 38,11% so năm 2006; tôm càng xanh 190 tấn, tăng 30,14% so năm 2006; nghêu 58 tấn, tăng 20,83% so năm 2006; cua biển 350 tấn, tăng 68,43% so năm 2006; cá các loại đạt 6.150 tấn, tăng 4,27% so năm 2006; cá tra 338 tấn, tăng 8,33% so năm 2006.

+ Khai thác biển 3.060 tấn, tăng 16,60% so năm 2006. Khai thác nội đồng 2.870 tấn; tăng 12,14% so năm 2006.

Công nghiệp - Xây dựng

Năm 2007, giá trị sản xuất công nghiệp của huyện đạt 206 tỷ 290 triệu đồng, tăng 19,13% so năm 2006. Trong năm, huyện phát triển mới 23 cơ sở. Đến cuối năm 2007, trên địa bàn huyện có 862 cơ sở hoạt động sản xuất trên các lĩnh vực chủ yếu như: may mặc, se chỉ tơ sơ dừa, đan đát, chế biến thức ăn tôm, cá... Trong năm 2007, huyện đã huy động đầu tư được 384 tỷ 571 triệu đồng vốn phát triển trên địa bàn, tăng 26,04% so năm 2006. Trong đó, vốn từ ngân sách nhà nước đạt 15 tỷ 571 triệu đồng, chiếm 4,05% tổng vốn đầu tư; vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước 32 tỷ đồng, chiếm 8,32% tổng vốn đầu tư; vốn đầu tư của khu vực dân cư và doanh nghiệp tư nhân đạt 337 tỷ đồng chiếm 87,63% tổng vốn đầu tư.

Thương mại - Dịch vụ

Thương mại - Dịch vụ của huyện có bước tăng trưởng khá cao; giá trị sản xuất thương mại - dịch vụ năm 2007 của huyện là 222 tỷ đồng đạt, tăng 28,18% so năm 2006. Trong năm 2007, huyện phát triển mới 157 cơ sở, nâng tổng số toàn huyện có 2.405 cơ sở hoạt động trên lĩnh vực thương mại dịch vụ.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi cầu Rạch Miễu đã hoàn thành, khánh thành vào ngày 19/01/2009, và đưa vào khai thác sử dụng, huyện Châu Thành trở thành cửa ngõ của tỉnh Bến Tre.

Đây là nơi có khu công nghiệp Giao Long, khu công nghiệp An Hiệp.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quận Châu Thành hiện nay bao gồm 2 phần đất nằm trên hai cù lao khác nhau (cù lao Bảo và cù lao An Hóa), ngăn cách bởi sông Ba Lai. Trong lịch sử phát triển, hai vùng đất này từng thuộc những đơn vị hành chính khác nhau.

Năm 1867, sau khi chiếm xong Nam Kỳ, Pháp chia Lục tỉnh thành 25 sở tham biện (inspection). Cù lao Bảo nằm trong sở tham biện Bến Tre, còn cù lao An Hóa nằm trong sở tham biện Kiến Hòa.

Năm 1929, tỉnh Bến Tre được chia làm 4 quận: Châu Thành, Ba Tri nằm trên cù lao Bảo; Mỏ Cày, Thạnh Phú nằm trên cù lao Minh. Quận Châu Thành lúc này bao gồm phần đất phía Nam sông Ba Lai của huyện Châu Thành, thành phố Bến Tre và một phần của huyện Giồng Trôm ngày nay. Còn cù lao An Hóa thuộc về tỉnh Mỹ Tho. Năm 1930, phần đất phía đầu cù lao Bảo nằm giữa sông Ba Lai và sông Hàm Luông được cắt ra, lập thành quận Sóc Sãi gồm 5 tổng, 27 làng.

Về phía cách mạng, sau Đồng khởi (1-1960), tỉnh ủy Bến Tre ra quyết định nhập hai huyện Sóc Sãi và Châu Thành thành huyện Châu Thành (mới). Đến tháng 7 năm 1972, tỉnh ủy lại có quyết định chia đôi huyện Châu Thành (mới) thành 2 huyện Châu Thành Đông và Châu Thành Tây.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hai huyện Châu Thành Đông và Châu Thành Tây nhập lại làm một, lấy tên là huyện Châu Thành, gồm 24 xã: An Hiệp, An Hóa, An Khánh, An Phước, Giao Hòa, Giao Long, Hữu Định, Mỹ Thành, Phú An Hòa, Phú Đức, Phú Hưng, Phú Túc, Phước Thạnh, Qưới Sơn, Qưới Thành, Sơn Đông, Sơn Hòa, Tam Phước, Tân Phú, Tân Thạch, Thành Triệu, Tiên Long, Tiên Thủy, Tường Đa.

Ngày 13 tháng 5 năm 1984, xã Phú Hưng được sáp nhập vào thị xã Bến Tre.

Ngày 14 tháng 4 năm 1985, xã Sơn Đông được sáp nhập vào thị xã Bến Tre.

Huyện Châu Thành gồm 22 xã: Phú An Hòa, Tiên Long, Tiên Thủy, Tân Phú, Quới Thành, An Hiệp, Thành Triệu, Phú Túc, Tường Đa, Sơn Hòa, Phú Đức, Mỹ Thành, Tam Phước, An Khánh, Tân Thạch, Hữu Định, Phước Thạnh, Quới Sơn, An Phước, Giao Long, Giao Hòa, An Hóa.

Ngày 8 tháng 12 năm 1995, tách đất xã Phú An Hòa thành lập thị trấn Châu Thành.

Ngày 5 tháng 4 năm 2013, xã Mỹ Thành được sáp nhập vào thành phố Bến Tre. Như vậy, huyện Châu Thành có 22 đơn vị hành chính như hiện nay.

Dự kiến sau năm 2030, xã Giao Hòa sẽ được sáp nhập vào xã Giao Long; xã An Hóa sẽ được sáp nhập vào xã An Phước và xã Sơn Hòa sẽ được sáp nhập vào xã An Hiệp.

Người nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Liên Kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Châu Thành, Bến Tre