Kim Bảng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Kim Bảng

Huyện
Hành chính
VùngĐồng bằng sông Hồng
TỉnhHà Nam
Huyện lỵthị trấn Quế
Trụ sở UBND67 Trần Hưng Đạo, thị trấn Quế
Phân chia hành chính2 thị trấn, 16 xã
Chính quyền
Chủ tịch UBNDPhạm Hồng Sơn
Chủ tịch HĐNDLê Anh Đông
Chủ tịch UBMTTQBùi Ngọc Hạnh
Bí thư Huyện ủyLê Anh Đông
Địa lý
Diện tích184km2
Dân số
Tổng cộng125.713 người
Dân tộcKinh
Khác
Biển số xe90-B1-B2
WebsiteCổng thông tin điện tử huyện Kim Bảng

Kim Bảng là một huyện nằm ở phía tây bắc tỉnh Hà Nam, Việt Nam.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Kim Bảng nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Hà Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 60 Km. Diện tích tự nhiên của huyện là 17.540 ha chiếm 20,38 % tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Hà Nam. Vị trí địa lý:

Kim Bảng nằm trong vùng tiếp xúc giữa vùng trũng "Đồng bằng sông Hồng" và dải đá trầm tích ở phía Tây nên có địa hình đa dạng. Phía Bắc sông Đáy là đồng bằng thấp với các dạng địa hình ô trũng, phía Tây Nam sông Đáy là vùng đồi núi có địa hình cao, tập trung nhiều đá vôi, sét.

- Vùng tả ngạn sông Đáy: Tổng diện tích 8.266,97 ha (chiếm 44,29 % diện tích đất tự nhiên của huyện) gồm địa bàn 13 xã, thị trấn. Đây là vùng đồng bằng lớn nhưng địa hình thấp, nhiều ô trũng, độ cao trung bình +2m nơi thấp nhất +1,5m đến +1,7m.

- Vùng hữu ngạn sông Đáy: Diện tích 10.395,65 ha (chiếm 55,71 % tổng diện tích tự nhiên) bao gồm 6 xã và một thị trấn. Đây là vùng bán sơn địa có những cánh đồng lớn nhỏ khác nhau nằm ven sông Đáy và xen kẽ thung lũng đá vôi nhưng diện tích nhỏ. Do đặc điểm riêng, dải đồi núi kéo dài suốt phía Tây của huyện có nguồn gốc caxtơ nên đã tạo ra nhiều hang động, hồ đầm độc đáo có giá trị để phát triển du lịch.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

- Khí hậu: Khí hậu mang những đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình năm là 24,350C, nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1 là 15,50C và cao nhất vào tháng 6 là 30,20C. Lượng mưa trung bình trong năm là 1.641 mm. Độ ẩm không khí trung bình năm 81,5 %.

- Thuỷ văn: Huyện Kim Bảng có 02 con sông lớn chảy qua là sông Đáysông Nhuệ với mạng lưới kênh mương tương đối dày đặc.

+ Sông Đáy có lượng nước khá dồi dào là nguồn cung cấp nước chính cho các xã thuộc huyện qua các trạm bơm, cống ven sông. Chiều dài sông chạy qua huyện 22,3 km.

+ Sông Nhuệ là sông đào nối sông Hồng tại Hà Nội và hợp lưu với sông Đáy tại Phủ Lý, đoạn qua huyện Kim Bảng dài 4,8 km. Sông có tác dụng tiêu nước nội vùng đổ ra sông Đáy vào mùa mưa và tiếp nước cho sản xuất vào mùa khô.

Ngoài 2 sông chính, huyện còn có mạng lưới các sông ngòi kênh mương nhỏ với các ao, hồ, đầm là nguồn bổ sung và dự trữ rất quan trọng khi mực nước các sông chính xuống thấp, đặc biệt vào mùa khô hạn.

Nhìn chung mật độ sông ngòi của huyện khá dày và đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Do địa hình bằng phẳng, dộ dốc các sông nhỏ nên khả năng tiêu thoát nước chậm. Đặc biệt vào mùa lũ, mực nước các con sông chính lên cao cùng với mưa lớn tập trung thường gây gập úng cục bộ cho vùng ven núi và vùng có địa hình thấp trũng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của nhân dân trong huyện.

Diện tích tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Bảng có diện tích tự nhiên là 17.540 ha.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số huyện Kim Bảng vào khoảng 125.713 người.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị hành chính bao gồm 2 thị trấn: Quế (huyện lị), Ba Sao và 16 xã: Đại Cương, Đồng Hóa, Hoàng Tây, Khả Phong, Lê Hồ, Liên Sơn, Ngọc Sơn, Nguyễn Úy, Nhật Tân, Nhật Tựu, Tân Sơn, Thanh Sơn, Thi Sơn, Thụy Lôi, Tượng Lĩnh, Văn Xá.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Nhất thống trí chép: huyện Kim Bảng từ đời Trần trở về trước gọi là Cổ Bảng thuộc châu Lỵ Nhân. Huyện Kim Bảng đời Trần thuộc lộ Thiên Trường. Từ năm Quang Thái 10 (1397) thuộc trấn Thiên Trường. Năm Quang Thuận 7 (1446) triều đình bỏ trấn dặt thừa tuyên, huyện Kim Bảng thuộc thừa tuyên Thiên Trường. Sau đó vài năm, năm Quang Thuận 10 (1469) vua Lê Thánh Tông cho đổi Thiên Trường thành Sơn Nam, Kim Bảng thuộc thừa tuyên Sơn Nam. Năm Hồng Đức 21 (1490), triều đình bỏ thừa tuyên đặt xứ, Kim Bảng thuộc xứ Sơn Nam. Năm Cảnh Hưng 2 (1741) Triều đình bỏ xứ, đặt lộ, chia Sơn Nam thành hai lộ: Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ. Huyện Kim Bảng thuộc Sơn Nam Thượng. Đời Tây Sơn (1788 - 1802) Kim Bảng thuộc trấn Sơn Nam Thượng. Năm Gia Long 3 (1804) huyện Kim Bảng thuộc trấn Sơn Nam. Năm Minh Mệnh 13 (1832), Triều đình thành lập tỉnh Hà Nội, Kim Bảng, phủ Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nội. Năm 1890, phủ Lỵ Nhân được tách ra lập thành một tỉnh riêng lấy tên là Hà Nam, huyện Kim Bảng thuộc tỉnh Hà Nam.[cần dẫn nguồn]

Sau năm 1975, huyện Kim Bảng thuộc tỉnh Hà Nam Ninh, gồm 20 xã: Ba Sao, Châu Sơn, Đại Cương, Đồng Hóa, Hoàng Tây, Khả Phong, Kim Bình, Lê Hồ, Liên Sơn, Ngọc Sơn, Nguyễn Úy, Nhật Tân, Nhật Tựu, Phù Vân, Tân Sơn, Thanh Sơn, Thi Sơn, Thụy Lôi, Tượng Lĩnh, Văn Xá.

Ngày 27-4-1977, huyện Kim Bảng hợp nhất với huyện Thanh Liêm và thị xã Hà Nam thành huyện Kim Thanh[1]. Tuy nhiên đến ngày 9-4-1981, huyện Kim Bảng được tái lập[2].

Ngày 1-4-1986, thành lập thị trấn Quế - thị trấn huyện lỵ huyện Kim Bảng - trên cơ sở 15 ha diện tích của xã Kim Bình, 111,13 ha diện tích của xã Văn Xá và 62,05 ha diện tích của xã Ngọc Sơn[3].

Ngày 12-8-1991, tỉnh Hà Nam Ninh chia thành hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình, huyện Kim Bảng thuộc tỉnh Nam Hà[4].

Ngày 6-11-1996, tỉnh Nam Hà lại chia thành hai tỉnh Hà Nam và Nam Định, huyện Kim Bảng thuộc tỉnh Hà Nam vừa tái lập[5].

Ngày 25-9-2000, các xã Phù VânChâu Sơn được sáp nhập vào thị xã Phủ Lý[6] (tức thị xã Hà Nam). Huyện Kim Bảng còn lại 1 thị trấn Quế và 18 xã: Ba Sao, Đại Cương, Đồng Hóa, Hoàng Tây, Khả Phong, Kim Bình, Lê Hồ, Liên Sơn, Ngọc Sơn, Nguyễn Úy, Nhật Tân, Nhật Tựu, Tân Sơn, Thanh Sơn, Thi Sơn, Thụy Lôi, Tượng Lĩnh, Văn Xá.

Ngày 27-8-2009, chuyển xã Ba Sao thành thị trấn Ba Sao[7].

Ngày 23-7-2013, xã Kim Bình và một phần xã Thanh Sơn được sáp nhập vào thành phố Phủ Lý[8]. Huyện còn lại 2 thị trấn và 16 xã, giữ ổn định cho đến nay.

Kinh tế xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp điện[sửa | sửa mã nguồn]

100% số xã, thị trấn ở Kim Bảng đã có lưới điện quốc gia với tỷ lệ hộ dùng điện là 99,6%. Toàn huyện có 59 trạm biến áp với tổng công suất 10.930 KVA. Trong những năm qua hệ thống lưới điện hạ thế đã được chú trọng đầu tư, cải tạo, nâng cấp, góp phần giảm tổn thất điện năng, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.

Cấp nước[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, 8 xã trong huyện đã có trạm cung cấp nước sạch tập trung là Đồng Hóa, Văn Xá, Nguyễn Úy, Hoàng Tây, Nhật Tựu, Nhật Tân, Lê Hồ, thị trấn Quế. Tỷ lệ số người sử dụng nước sạch trên địa bàn huyện đạt trên 83%.

Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên đất[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng diện tích đất của huyện là 17.540 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 64,5%; đất phi nông nghiệp 31,3%; đất chưa sử dụng 4,2%. Vùng đồng bằng có đất phù sa được bồi, đất phù sa không được bồi và đất phù sa gley. Vùng đồi có đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàng trên đá phiến sét, đất nâu đỏ trên đá vôi. Đất vùng gò đồi còn nhiều tiềm năng để chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng.

Tài nguyên rừng[sửa | sửa mã nguồn]

Rừng ở Kim Bảng có cây tự nhiên thưa, không tốt, mọc trên đồi núi đá. Những năm gần đây, nhân dân đã đầu tư trồng các loại cây ăn quả như nhãn, na...

Tài nguyên khoáng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Bảng có tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú, cho phép khai thác và chế biến trên quy mô công nghiệp. Trữ lượng đá vôi lớn, tập trung ở các mỏ Hồng Sơn và Bút Phong, là nguồn nguyên liệu dồi dào cho sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng. Ngoài ra, ở Tân Sơn, Thanh Sơn còn có mỏ đôlômit; than bùn Ở Ba Sao với diện tích 2 km2 nằm dưới lớp sét dày 0,5 - 1,5m, mỏ sét Trầm Tích trữ lượng hơn 30 triệu m3, nguồn nước khoáng lạnh và vàng cám…

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

quốc lộ 21A, quốc lộ 21B, quốc lộ 38 chạy qua.

Thông tin liên lạc[sửa | sửa mã nguồn]

Mạng lưới viễn thông được trang bị hiện đại với 4 tổng đài kỹ thuật số dung lượng 4.500 số, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, chất lượng cao. Toàn huyện có 100% thôn, xóm sử dụng máy điện thoại với tỷ lệ 11,5 máy trên 100 dân. 100% số xã, thị trấn có đài truyền thanh cơ sở; 98% số dân được nghe đài truyền thanh bốn cấp.

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đinh Nga võ tướng thời Đinh Tiên Hoàng có công giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân; cha là Đinh Điện, mẹ là Trần Thị Nguy. Sinh ngày 10 tháng 2 năm Giáp Dần, ở thôn Thuỵ Sơn xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng.
  • Kiều Quốc Hoàng hậu Dương Thị Nguyệt, người xã Văn Xá, Kim Bảng, là Vợ của Đinh Tiên Hoàng Đế, Bà là người đã truyền dạy trò Xuân Phả hiện còn lưu giữ và trao truyền đến ngày nay ở đền Đại Hải Long Vương (Thanh Hóa) và là người sinh ra công chúa Ngọc Nương.
  • Lê Đình Tưởng (1474-?) Nho sĩ – quan chức thời Lê, quê ở Cao Mật, nay là thôn Cao Mật, xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng. 29 tuổi đỗ Đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuât thân khoa Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502) đời Lê Hiến Tông, làm quan: Phó đô Ngự sử.
  • Trần Tông Lỗ (1480-1570) Nho sĩ – quan chức, người xã Mỹ Đê, nay thuộc xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng. Đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh 1 (1505) đời vua Lê Uy Mục, làm quan: Lễ bộ Tả Thị Lạng.

Điểm đến văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Danh sách xã, thị trấn thuộc huyện Kim Bảng