Bước tới nội dung

Sông Nhuệ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Sông Nhuệ
Tập tin:Sông Nhuệ.jpg
Tên địa phươngNhuệ Giang Error {{native name checker}}: giá trị thông số dị hình (trợ giúp)
Vị trí
Quốc giaViệt Nam
TỉnhHà Nội, Ninh Bình
Đặc điểm địa lý
Thượng nguồncống Liên Mạc (Bắc Từ Liêm, Hà Nội)
Cửa sôngsông Đáy tại phường Phủ Lý
Độ dài76 km
Diện tích lưu vực1075 km²

Sông Nhuệ hay Nhuệ Giang là một con sông nhỏ, phụ lưu của sông Đáy. Sông dài khoảng 76 km, chảy ngoằn ngoèo gần như theo hướng bắc Tây Bắc-Nam Đông Nam qua địa phận thành phố Hà Nội và tỉnh Ninh Bình

Tuyến sông

[sửa | sửa mã nguồn]

Sông Nhuệ, trước khi được đào thông với sông Hồng, lấy nước từ đầm Bát Long thuộc xã Ô Diên, thành phố Hà Nội. Trải qua nhiều lần đào, sông mới có được hình thể như ngày nay.[1]

Điểm bắt đầu của nó là rãnh Liên Mạc, lấy nước từ sông Hồng trong địa phận các phường Đông Ngạc, Phú Diễn (thành phố Hà Nội) và điểm kết thúc của nó là cống Phủ Lý khi hợp lưu vào sông Đáy gần phường Phủ Lý (tỉnh Ninh Bình). Sông chảy qua các phường: Đông Ngạc, Phú Diễn, Từ Liêm, Đại Mỗ, Hà Đông, Kiến Hưng và các xã: Đại Thanh, Bình Minh, Thanh Oai, Tam Hưng, Thường Tín, Thượng Phúc, Dân Hòa, Phượng Dực, Chuyên Mỹ, Ứng Hòa của thành phố Hà Nội ; các phường Duy Hà, Kim Thanh, Hà Nam, Phù Vân của tỉnh Ninh Binh và cuối cùng đổ vào sông Đáy ở khu vực phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình. Diện tích lưu vực của nó khoảng 1.075 km² (phần bị các đê bao bọc). Ngoài ra, nối sông Đáy với sông Nhuệ còn có các sông nhỏ như sông La Khê (qua quận Hà Đông), sông Tô Lịch, sông Vân Đình, sông Duy Tiên, sông Ngoại Độ, v.v...

Vấn đề về mặt môi sinh

[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay sông Nhuệ đang bị bồi lắngô nhiễm rất nặng do nước thải công nghiệpsinh hoạt từ thành phố Hà Nội (một phần là do nối với sông Tô Lịch gần Văn Điển), Hà Đông và ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe của những người dân sống trong lưu vực của nó.

Lượng nước thải vào sông Nhuệ với hàm lượng DO (viết tắt tiếng Anh: Dissolved Oxygen) hầu như không còn nữa đã biến con sông này thành con "sông chết" vì tôm không thể sinh sống ở mức độ đó. Vào mùa khô dòng sông cạn kiệt, trơ đáy bùn nên nhiều khúc sông không khác gì bãi rác lộ thiên.[2]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Hoài niệm một con sông đào ở Hà Nội".
  2. Mai Thanh Truyết. "Những vấn đề môi trường Việt Nam". Truyền thông Số 37 & 38. St-Léonard, Canada. tr 44-45