Viết tắt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Sách học tiếng Việt do Henri Oger soạn in năm 1918, viết tắt một số chữ như "người" thành "ng`" và "không" thành "khĝ"
Viết tắt trong văn bản chữ Latin

Viết tắt là một dạng rút gọn cách viết của một từ hoặc từ ngữ. Thông thường, nó bao gồm một hoặc nhiều chữ cái lấy từ chính từ ngữ được viết tắt. Ví dụ, chính chữ viết tắt có thể được viết tắt thành "vt".

Tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Việt tại Việt Nam hiện sử dụng chữ Quốc ngữ (chữ Latinh) là chủ yếu, áp dụng cách viết tắt không nhất định theo một thể duy nhất. Thông dụng nhất là dùng chữ cái đầu tiên của mỗi âm tiết. Đối với những ngôn ngữ dùng chữ cái Latinh thì họ thường lấy chữ cái đầu tiên của một từ, nhưng tiếng Việt phụ thuộc nhiều vào âm tiết nên không theo hẳn các ngôn ngữ dùng chữ Latinh khác. Ví dụ như tiếng Anh viết United States Agency for International Development thành USAID, dịch sang tiếng Việt là Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ. Nếu áp dụng quy tắc theo tiếng Anh như trên thì sẽ viết tắt tiếng Việt là "CPQH", nhưng vì tiếng Việt căn cứ theo âm tiết nên sẽ viết là "CQPTQTHK".

Dùng chữ cái đầu tiên của mỗi âm tiết[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là cách phổ biến nhất khi viết tắt tiếng Việt, dùng chữ cái đầu tiên của mỗi âm tiết:

Ngoài ra có một số danh từ khác cũng hay xuất hiện trên sách báo dưới dạng viết tắt như:

Dùng gạch xiên[sửa | sửa mã nguồn]

Cách viết tắt dùng gạch xiên cũng có trong các văn bản:

  • đ/c: địa chỉ
  • k/g: kính gửi
  • th/g: thân gửi
  • v/v: về việc

Giảm bớt mẫu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng có khi cách viết tắt dùng hai chữ cái của một âm tiết hay giảm bớt một số mẫu âmphụ âm như:

  • tr: trang giấy trong một cuốn sách
  • khg, khĝ, ko: không
  • đc, dc: được
  • ng: người
  • bt: biết
  • hc: học
  • vt: viết

Những chữ này thường thấy trong thư từ, ít khi thấy trong sách in.

Viết tắt chỉ một âm tiết[sửa | sửa mã nguồn]

Lối viết tắt trong tiếng Việt cũng có khi rút ngắn 1 trong 2 phần cấu tự mà thôi. Ví dụ như:

Rút ngắn âm tiết[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Việt có một số tên dùng nguyên tắc viết tắt nhưng thay vì rút lại chỉ chữ cái thì rút lại thành một âm tiết đơn giản:

Danh từ ngoại quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Một số danh từ ngoại quốc cũng du nhập tiếng Việt dưới dạng viết tắt như:

  • bis: tiếng Pháp có nghĩa là "lần nữa", thường dùng trong cách viết địa chỉ ở Việt Nam khi xưa có một căn nhà, sau chia thành hai thì cả hai giữ cùng số nhà nhưng một căn sẽ kèm chữ "bis" như: "12 đường Lê Thái Tổ" và "12bis đường Lê Thái Tổ".
  • CD: đọc là "xi-đi" theo tiếng Anh compact disc
  • DVD: đọc là "đi-vi-đi" digital video disc
  • HIV, SIDA, AIDS
  • TV: đọc là "ti-vi", tức truyền hình

Ngoài ra, có một số từ ngữ viết tắt mà giới trẻ tự tạo ra trên các trang, mạng xã hội: Facebook, Messenger, Zalo,...

  • Nek: nè
  • Hk, hok, k, ko: không
  • Bit, bik: biết
  • ak, ă: á
  • Vk: vợ
  • Ck: chồng
  • ik: đi
  • cs: có
  • mk: mình
  • R: Rồi

Viết tắt và chat[sửa | sửa mã nguồn]

Với kỹ thuật tin học và sự phát triển của các ngành thông tin mới như điện thoại thông minh, máy tính bảng, cách đánh chữ cũng đã thay đổi và hiện tượng viết tắt càng phổ biến với nhiều cách viết chưa từng thấy trong tiếng Việt dưới dạng sách báo.[1] Chẳng hạn, "không" viết tắt thành "ko", "k",...; "được" viết tắt là "dc",... Thậm chí tại Việt Nam, có nhiều học sinh còn dùng ngôn ngữ viết tắt để sử dụng và che giấu đi sự thiếu văn hóa hay che đi những từ thô tục, tục tĩu của mình khi chat.[1][2]

Nhược điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Viết tắt giúp giảm ký tự một cách tuyệt đối, tiết kiệm mực và giấy, giảm bộ nhớ lưu trữ văn bản. Tuy nhiên viết tắt cũng khiến các vấn đề khác nảy sinh như tối nghĩa hay nhầm nghĩa.

Đối với tiếng Việt, viết tắt còn khiến cho việc biểu âm của chữ Quốc ngữ bị kém đi. Do thường chỉ lấy chữ cái đầu tiên của mỗi âm tiết, những chữ cùng ký tự đầu như C-Ch thành C; G-Gh-Gi thành G; N-Ng-Ngh-Nh thành N; K-Kh thành K; P-Ph thành P; T-Th-Tr thành T, nếu không giải thích thì khó phân biệt. Thậm chí là việc viết tắt không dấu (thường trong tin nhắn SMS) phát sinh A-Ă-Â thành A, D-Đ thành D; E-Ê thành E; O-Ô-Ơ thành O; U-Ư thành U, khiến việc đoán âm trở nên khó hơn.

Áo thi đấu của các đội tuyển thể thao (bóng đá, bóng chuyền,...) Việt Nam thường in tên vận động viên bằng cách viết tắt các âm đầu và chỉ để lại đầy đủ phần tên cuối (như Đỗ Hùng Dũng = D.H.Dung, Hà Đức Chinh = H.D.Chinh). Cách in "tiết kiệm hết sức" này vừa khiến cho tên bị "ngắn cụt" và mang cảm giác ít trang trọng (người nhìn thường sẽ đọc "đê-hát-Dũng" hay "hát-đê-Chinh", hoặc bỏ chữ viết tắt và chỉ đọc "Dũng" hay "Chinh", một cách đọc theo kiểu "nói trống không" và không mang tính lịch sự), vừa sai khi nhầm phần đệm sang phần họ thay vì phần tên cuối. Tại Sea Games 2019 và Giải U23 châu Á 2020, tên cầu thủ trên áo thi đấu của đội bóng đá nam đã được in lại là viết tắt họ và in đủ phần đệm+tên (như Đỗ Hùng Dũng = D. Hung Dung, Hà Đức Chinh = H. Duc Chinh), khi nhìn sẽ thấy rõ ràng và trang trọng hơn (người nhìn sẽ đọc là "Hùng Dũng" hay "Đức Chinh", xoá bỏ đi vấn đề "nói trống không"). Riêng vấn đề chữ D-Đ thành D, vì quy tắc bỏ dấu luôn được áp dụng nhưng người Việt không linh động dùng chữ Z thay D hoặc biến D thành Dz, người nước ngoài khi nhìn chữ "D" thường đọc âm /d/ (đờ), và Hung Dung có thể bị đọc như "Hùng Đũng" (nếu áo in "D. Hung Dzung" thì sẽ dễ đọc đúng "Hùng Dũng" hơn).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]