Tứ pháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tứ pháp là danh từ để chỉ các Phật , Bồ Tát được dân gian coi như các nữ thần trong tín ngưỡng Việt Nam gồm: Mây-Mưa-Sấm-Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò quan trọng trong xã hội nông nghiệp. Sau này khi Phật giáo vào Việt Nam thì xuất hiện tín ngưỡng Tứ pháp với truyền thuyết về Phật Mẫu Man Nương. Tuy cai quản các vấn đề tự nhiên như : Vân - Vũ - Lôi - Điện (mây , mưa, sấm , chớp ) nhưng khái niệm Tứ Pháp khác với các Thần trong tín ngưỡng dân gian ở chỗ : nếu chư thần là cái gì đó thuộc vê tự nhiên có quyền năng ban phúc giáng họa thì Tứ Pháp là do Phật , Bồ Tát vì tâm đại bi hóa hiện ra để thỏa mãn các mong cầu của chúng sinh, tức Tứ Pháp cũng là giả danh mà bản thể căn bản là Từ Bi , Trí tuệ . Tóm lại Tứ Pháp là sự "Phương Tiện" biến hóa các Bồ Tát ra các Vị cai quản các hiện tượng tự nhiên để nhân dân cầu mưa , cầu mát chứ không phải các thần tự nhiên thâm nhập vào Phật giáo , tuy hình thức có điểm chung nhưng ý nghĩa lại khác xa nhau.

Liên quan đến tín ngưỡng thờ Tứ Pháp còn có hệ thống các chùa gọi là Tứ pháp, hiện chỉ thấy trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Các vị đó gồm:

Tượng Pháp Vân tại chùa Keo, Gia Lâm, Hà Nội
Tượng Pháp Vũ, tục gọi Bà Đậu ở Chùa Dâu, Bắc Ninh
  • Pháp Vân (chủ quản mây)
  • Pháp Vũ (chủ quản mưa)
  • Pháp Lôi (chủ quản sấm)
  • Pháp Điện (chủ quản chớp)

Tuy được dân gian gắn cho vai trò như các thần Mây , Mưa , Sấm , Chớp tự nhiên nhưng tên gọi có chữ "Pháp" đứng phía trước cho thấy các vị vẫn thuộc về Phật Giáo . Phật giáo quan niệm "chư Pháp do duyên sinh" tức các khái niệm , sự vật như sông , núi cây cỏ , thần mây , ý tưởng ... là các pháp vốn do nhiều nhân duyên tạo thành dựa trên nền tảng chung của các pháp là Tánh Không ( đại diện bởi Thạch Quang Phật), và các vị Phật , bồ tát muốn tạo lợi ích cho vô lượng chúng sinh có thể hóa ra cả các vị thần , trời , vua... để giúp đỡ họ . Được sinh ra từ Phật giáo nên họ được gọi là Tứ Pháp chứ không ai gọi là Tứ Thần. Ngay tên gọi bốn ngôi chùa Thiền Định - Thành Đạo - Phi Tướng - Trí Quả cũng nêu biểu các giai đoạn tu tập Phật giáo chứ không phải tín ngưỡng thần linh .

Các tượng Tứ Pháp rất đặc biệt , tuy các tượng còn tồn tại đa số là tạc lại vào thế kỷ 17-18 , được gọi là các "bà" nhưng tượng không hề ảnh hưởng của tín ngưỡng Mẫu bản địa vốn phát triển giai đoạn này mà vẫn giữ được những nét cổ kính như khuôn mặt của phụ nữ Ấn độ , dáng cao to ( Pháp vân) và điểm chung là đầu tượng là đầu "bụt ốc'' tức tóc xoăn bện lại như các pho tượng Phật. Đây là hình ảnh khác xa với tên gọi các "bà" hay hình ảnh mẫu , nữ thần đương thời. Tượng Tứ Pháp lại không bao giờ tạc bầu ngực của phụ nữ thay vào đó cơ thể mang đậm phong các Nam giới, có lẽ cách gọi các "bà" và tượng tạc thân nam là dạng kết hợp Từ Bi - Trí Tuệ của nhà Phật ( trong Phật giáo người nam biểu thị cho phương tiện , từ bi , người nữ biểu hiện cho trí tuệ , các Phật , bồ tát là các vị viên mãn hay tích lũy hai phẩm tính này). Mặc dầu phần đầu các pho tượng Tứ Pháp được tạc giống như chư Phật nhưng các tượng này thường là tượng sơn son chứ không thếp vàng như tượng Phật .

Trong bốn vị Tứ Pháp thì Pháp Vân , Pháp vũ là hai vị được thờ cúng rộng rãi nhất . Thông thường Pháp vân được coi là vị đại diện cho cả Tứ Pháp .

Ở bất cứ tôn giáo nào, ngoài những ý tưởng xây nên học thuyết, bên cạnh đó là cả một hệ thống kiến trúc minh họa cho ý tưởng trên, các công trình kiến trúc hoàn thành dựa trên nhận thức, thói quen, sở thích xây dựng của mỗi dân tộc, cho nên khó mà nói rằng các công trình kiến trúc bằng đá đã hơn các dạng kiến trúc được dựng từ các chất liệu khác.

Ý nghĩa Phật giáo trong truyện Man Nương Tứ Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyện Man nương và Tứ Pháp nơi đất Dâu được cho là câu chuyện cổ về Phật giáo thời kỳ đầu du nhập vào Việt Nam . Tuy nhiên câu chuyện quá là súc tính , kỳ dị nên gay cho dân gian và giới học giả không theo đạo Phật có cái nhìn xa lạ với giáo lý đạo Phật , thậm chí cho rằng đó là ảnh hưởng của thần giáo dân gian .

Tuy nhiên nếu xét về tổng thể các câu chuyện Phật giáo đặc biệt là Mật Tông ( yếu tố nổi bật của dòng Tỳ Ni Đa lưu chi lấy chùa Dâu làm tổ đình ) thì những câu chuyện lạ lùng như thế diễn ra quá nhiều , như tập chuyện 84 đại thành tựu giả Ấn độ , Các vị chân sư Đại Thủ Ấn ... thì chuyện Khâu Đà La , Man nương đất Dâu không có gì là đặc biệt . Câu chuyện chùa Dâu chỉ khó hiểu và ít liên quan Phật giáo khi người ta không hiểu được ý nghĩa ẩn dụ sâu xa trong nó , Phật giáo có vũ trụ quan sâu sắc và toàn diện ở đó ,"Van Pháp " tức tất cả sự vật , hiện tượng , khái niệm đều là đối tượng của Phật Giáo nên không có gì nằm ngoài . Sự thịnh hành của các tông Phái Mật Tông ở Việt Nam cũng gần như chấm dứt sau thời Trần , nên câu chuyện đậm màu Mật giáo này rơi vào khó hiểu thậm chí bị coi là nằm ngoài giáo lý Phật cũng là dễ hiểu.

Tất cả các câu chuyện Phật giáo dù ở 3 thừa ; Nguyên Thủy , Đại Thừa , Kim cang thừa đều chỉ về con đường tu hành , lý nhân quả , cách mà Phật và các đạo sư chỉ cho đệ tử và người đọc thấy được cái "TÂM " của chúng ta nằm ở đâu , là cái gì và khi nhận ra nó thì nương theo nó mà tu hành . Với cốt lõi này chúng ta se thấy sự viên thông giữa các câu chuyện tưởng chừng xa lạ, đối lập nhau vẫn hòa chung vào nhau vì chúng là một phần của đời sống , nơi là "vạn pháp duy tâm tạo" . ở nơi đây tất cả các chuyện về Thiền tông trung hoa , Zen nhật bản , Thiền uyển tập anh của Việt Nam hay 84 Đại Thành Tựu ấn độ ( các vị chân sư đại thủ ấn ) , Chuyện về chư đạo sư Tây Tạng .... tất cả đều một mùi giải thoát , sự giống nhau vượt lên tất cả các yếu tố bên ngoài tưởng chừng chống trái.

Chúng ta sẽ phân tích các yếu tố Phật giáo trong câu chuyện qua hai nội dung chính gồm có : các tên gọi nhân vật , địa danh trong chuyện và nội dung câu chuyện được ẩn dụ .

Câu chuyện được tóm tắt như sau : Sư Khâu Đà La một cao tăng Thiên Trúc sang Giao châu ( Việt nam ) truyền pháp , ông đến vùng Dâu và dạy cho một đệ tử tại gia là Cư sĩ Tu Định ở làng Mãn xá . Tu Định có người con gái tên Man Nương thường hay chấp tác phục vụ cho Sư . Một hôm Man nương mệt ngủ quên ở bậu cửa , Sư không chú ý bước qua người nàng , nàng tự cảm hoài thai , sau sinh ra một bé gái bèn đem trả cho sư Khâu Đà La . Sư cho Man nương cây gậy có khả năng làm phép tuôn ra nước khi cắm xuống đất . còn em bé con Man nương , sư đem bỏ vào cây Dung Thụ và bảo cây sau này thành chính quả là nhờ nó . Lâu sau , do mưa gió lớn cây dung thụ gãy trôi về Luy Lâu , không ai vớt được , chỉ có Man nương buộc dải yếm kéo vào , vua bấy giờ Sĩ Nhiếp cho tại thành 4 pho tượng , tạc xong các pho đều có điềm lành như : mây ngũ sắc , mưa , sấm , chớp nên đặt tên Pháp Vân , Pháp vũ , Pháp Lôi , Pháp Điện cho thờ ở 4 ngôi chùa Thiền Định , Thành Đạo , Phi Tướng , Trí Quả , các vị này dân gian hay cầu mưa và rất linh ứng . Còn em bé trong cây dung thụ biến thành một tảng đá được tôn Thạch Quang Vương Phật thờ chung với Pháp Vân không rời.

1.Ý nghĩa các tên gọi :[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là 1 câu chuyện tuy nội dung thần bí , ẩn dụ sâu xa nhưng tên gọi các nhân vật , địa danh đều toát lên yếu tố Phật giáo .

- Phật giáo dù ở thừa nào ( Nguyên Thủy , Đại thừa , Mật Tông ) hay quốc gia nào ( Ấn Độ, Tây tạng , Trung quốc , Việt nam , thái lan ...) đều chung nhau 3 yếu tốt cốt lõi được gọi là Tam Vô Lậu học là Giới - Định - Tuệ , đó là cách nhìn nhận cơ bản nhất về Phật giáo mà không có tôn giáo nào có điểm này . Người theo đạo Phật sẽ quy y với Phật xin thọ Giới ( nhưng điều không được làm và được làm ) rồi lựa chọn Pháp môn ( thiền , niệm phật ....) để đạt được Định , rồi từ Định sẽ sinh ra Tuệ tức trí huệ , dẹp hết vô minh gốc rễ của sự luân hồi .

Chính câu chuyện man nương ngay đầu tiền cũng có bộ ba Giới - Định - Tuệ này . Định thì dễ nhận ra nhất chính là cư sĩ TU ĐỊNH , cha Man nương . Khâu Đà La là một vị đại sư chính là người có khả năng truyền giới cho đệ tử , cha man nương muốn làm đệ tử Phật bắt buộc phải thọ giới , đó là điều tiên quyết không thể không. Man Nương thì man có nghĩa là ngu si ( vô minh) , sau này đăc đạo được gọi là Phật Mẫu Man nương tức vô minh đã được chuyển thành Trí Tuệ ( Phật mẫu ) điều mà Đạo Phật hướng đến . Vậy chúng ta có bộ ba TAM VÔ LẬU HỌC :

GIỚI sinh ra ĐỊNH , ĐỊNH sinh ra TUỆ

Khâu đà la ( giới sư ) là Thầy cư sĩ Tu Định ( Giới sinh ra Định ) , TU ĐỊNH là cha Phật Mẫu Man nương ( Định sinh ra Tuệ) .

- Ba vô lậu học cốt tủy đã có , vậy cái TÂM được ẩn dụ tên ai ? Tâm là chủ đề tìm kiếm của đạo Phật , Chân Tâm chính là Phật , chúng ta các chúng sinh bình phàm như con người , động vật ở nơi cái Tâm chưa tìm thấy ấy lại giống hệt đức Thích Ca Mâu Ni , chỉ có điều Phật đã nhận ra chân tâm , còn chúng ta tuy có mà chưa nhận ra giống như "xa tận chân trời gần ngay trước mắt". Ở đây chân tâm chính là Thạch Quang Vương Phật chính là cái cốt yếu tạo nên sự linh thiêng của 4 pho Tứ Pháp .

Thạch Quang Vương Phật là một cách gọi ẩn dụ của chân tâm như bao nhiêu cụm từ khác trong Phật giáo như : Tự tính Kim Cang , Chân Tâm , Bản Tính , Kim Quang Minh Tự Tính , Chân Kim sắc thân , Phật , ....

Danh từ chỉ gọi khác nhau nhưng tính chất thì giống nhau mô tả về tâm là Rắn chắc , bất hoại , không thể chia tách ... Ấn độ dùng KIm cương làm ẩn dụ về sự rắn chắc bất hoại ( thật ra kim cương vẫn bị kim cương cắt nhưng nó gần nhất với hình ảnh rắn chắc ) . Còn ở Việt Nam thì dùng chữ" Thạch " đá , trong văn hóa Việt Nam nôm na coi sắt và đá là 2 thứ biểu hiện cho sự rắn chắc , bền vững , giống như câu chuyện dân gian Việt nam về mặt dày do râu cứng không thể xuyên qua , khi hỏi ở đời có gì rắn chắc nhất , người đàn ông nói ngay là Sắt với Đá chứ còn gì nữa. Thạch Quang và Kim cương Tự tính là cách mà người ta nói về chân tâm rắn chắc.

Chữ Quang trong chữ Thạch Quang Vương Phật cũng là 1 chữ nổi tiếng hay xuất hiện trong Phật giáo như tên nhà sư Phật Quang thời Chử Đồng Tử . chữ quang này cũng xuất hiện trong tên các Phật bồ tát như : Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai , Nhật Quang Bồ Tát , Nguyệt Quang Bồ Tát ,Bảo Quang Như Lai ,...các tên kinh và cụm từ : Kim Quang Minh , Phật Quang Phổ Chiếu , Quang Minh Tự Tính , Hào Quang , Trí Tuệ Quang ....

Tại sao chữ Quang lại phổ biến , vì chữ Quang trong Phật giáo không phải đơn thuần là ánh sáng như ánh sáng của mặt trời mặt trăng ... mà nó nêu biểu sự "sáng suốt rõ ràng " nêu biểu của Trí Tuệ sáng suốt thứ mà Phật giáo muốn chúng sinh đạt đến .

Chữ Vương ở đây cũng là chữ phổ biến , Vương này chỉ vua nhưng Phật giáo ám chỉ sự "Tối thắng " vượt lên trên tất cả , các cụm từ Phật giáo như ; Đại Y Vương , Dược Vương Bồ tát , Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật , Kim quang minh tối thắng vương kinh , ....

Như vật ngay tên gọi Thạch Quang Vương Phật đã toát lên yếu tố mô tả về chân tâm bền chắc , sáng suốt mà chúng sinh bị tham sân si che mờ , tâm này ai trong chúng sinh đều có , tu Phật vốn để nhận rõ nó , và trong chuyện là Man nương , người được chỉ cách nhận ra nó .

- Tên bốn ngôi chùa Tứ Pháp thì quá rõ ràng đó là các cụm từ Phật giáo được sắp xếp theo trình tự như một thứ bản đồ hướng dẫn người tư tập :

Thiền Định Tự - Thành Đạo Tự - Phi Tướng Tự - Trí Quả Tự .

Từ nơi phương tiện tu tập là Thiền Định , hành giả nhận ra được con đường đi đến Đạo giác ngộ , rồi nhận ra Phi Tướng , Tướng không , hữu tướng bản thế , tính không ... rồi đạt được Trí quả , quả vị trí huệ tối thắng . Không có bất cứ tôn giáo hay tín ngưỡng nào có các khái niệm , danh tự này giống Phật giáo.

- Còn tên Pháp Vân , Pháp Vũ ,2 vị đứng đầu và quan trọng nhất của Tứ Pháp , ngự ở chùa chính cũng là tên địa thứ 10 của hàng Bồ Tát có tên là Pháp Vân Địa ,Pháp Vân địa (zh. 法雲地, sa. dharmameghā bhūmi) (hay Pháp Vũ địa): Bồ Tát đạt Nhất thiết trí (sa. sarvajñatā), đại hạnh. Pháp thân của Bồ tát đã đạt tới mức viên mãn. Bồ Tát ngự trên toà sen với vô số Bồ Tát chung quanh trong cung trời Đâu-suất. Phật quả của Bồ Tát đã được chư Phật ấn chứng. Những Bồ Tát đạt cấp này là Di-lặc (sa. maitreya), Quán Thế Âm (sa. avalokiteśvara) và Văn-thù-sư-lợi (sa. mañjuśrī).

- Chữ 'Pháp" hay dùng cho bốn vị được coi chủ quản Mây , mưa , sấm , chớp cũng không giống cách người ta gọi các thần mây mưa sấm chớp. Mà tên gọi này xuất phát từ khái niệm các Pháp ( tất cả sự vật hiện tượng , khái niệm kể cả mây mưa sấm , sét đều gọi là các Pháp )

"Chư Pháp do duyên sinh , Pháp Diệt nhân duyên diệt , thị chư pháp nhân duyên Phật Đại sa môn thuyết"

"Vạn pháp nhất thiết duy tâm tạo"

Khái niệm các Pháp do tâm tạo và dùng chữ Pháp để gọi chung các khái niệm , sự vật ... là điều chỉ Phật giáo mới có .

2 . Ý nghĩa nội dung cốt truyện :[sửa | sửa mã nguồn]

Và nếu trùng trùng các ngôn tự Phật giáo như vậy thì có đúng chuyện Man nương chùa Dâu là truyền thuyết nôm na kiểu dân gian về các thần tự nhiên được Phật giáo thu nạp hay không? , chắc chắn là không . Phật giáo lan tỏa ra vô số vùng miền và có chấp nhận một số thần thánh địa phương làm hộ pháp ,( họ cũng như các Phật tử ở cảnh giới thần thánh nhưng quy y giúp đỡ Phật như các vua chúa , người thế lực bảo trợ Phật giáo ) Nhưng giáo lý Phật thì ở đâu cũng không thay đổi .

Câu chuyện Man nương cũng vậy , quanh quẩn cũng là người Thầy giúp đệ tử nhận ra cái tâm và người đệ tử ý đó là tu hành để "Minh Tâm Kiến Tính " trở nên dần toàn thiện và thành Bồ Tát Phật rồi cứu giúp chúng sinh thoát khổ tương đối và tuyệt đối , giúp chúng sinh cũng đạt giác ngộ hoặc thỏa mãn nhưng mong cầu thế tục để bớt khổ , dễ tu như cầu tài, cầu mưa , cầu mát , cầu con cái , sức khỏe,....

- Khâu Đà La cao tăng sang Việt nam truyền pháp , rồi bước qua người Man nương : đây là cách truyền pháp kiểu lạ lùng chỉ có thầy và trò biết , giống Tâm truyền tâm của thiền tông , rồi có thể đánh đập , ... một số cũng có ẩn dụ trong hoạt động tính dục như ở các chuyện Mật tông ấn độ( dĩ nhiên các hoạt động thực sư là thanh tịnh vô nhiễm ) nhưng suy cho cùng đó là pháp khó hiểu mà chỉ thầy và trò biết , nói dễ hiểu sẽ giống chuyện Tu bồ đề đánh vào Tôn Ngộ Không ba cái rồi khoát tay bỏ đi , Tôn hiểu rằng canh ba đến phòng thầy.

- Man nương tự động mang thai : ám chỉ sau khi thọ pháp thì âm thầm tu hành , thai nhi trong bụng cũng như Phật Tính dần dần tăng trưởng rồi hiển lộ....(chùa Thiền Định - Chùa Dâu )

- Man nương sinh con rồi đem trả Thầy : đây là lúc hành giả đạt Chứng Ngộ và đem trình lên thầy ấn chứng , đây là điều bắt buộc với các Thiền sư , ngừơi tu phải được ấn chứng mới có thể biết được mình đạt Đạo hay chưa ( Thành Đạo Tự- chùa Đậu )

- Khâu đà la đem đứa con bỏ vào Cây dung thụ : chỉ cho biết tâm không chỉ ở trong người mà còn tất cả vạn pháp cũng do tâm tạo , các pháp như cây cỏ.... vốn toàn là Tánh Không ( Phi tướng tự - chùa Tướng)

- Khi thấy vạn pháp do tâm tạo thì sẽ tự tại , biến hóa vô lượng ( Ngộ Không , ngộ ra Tánh không thì có thần thông quảng đại) , có Trí huệ thì có thể làm được vô số điều mà người đời gọi là thần diệu , chuyện làm mưa , gió ... cũng chỉ là một phần trong số đó .( Trí Quả Tự - chùa Dàn).

- Hình ảnh cây dung thụ đổ : cũng là lúc đạt trí tuệ thì gốc rễ vô minh , tham sân si bị đánh bật , gốc rễ luân hồi bị đánh bật ...

- Cây dung thụ ban đầu chỉ là cây bình thường sau mang em bé của Khâu đà la mới tạc thành tượng Tứ Pháp linh thiêng và Thạch Quang Phật cũng không rời Tứ Pháp cho thấy đạo lý : tất cả do Tâm tạo , linh thiêng hay không linh thiêng vốn do Tâm ( đá Thạch Quang) tạo nên , các vị chủ quản Mây mưa sấm sét cũng do Tâm tạo nên , tin là thiêng thì thiêng .

3.Tứ Pháp và Tứ Vô Lượng Tâm :[sửa | sửa mã nguồn]

Tứ Pháp chùa Dâu vốn được cho là có quyền năng tạo ra mây mưa , sấm sét cho dân được mùa no đủ, điều này có phải giống với thần dân gian không? thực tế trong Phật giáo cũng có các vị tu hành có nhiều công đức trí tuệ , hạnh nguyện sâu xa có thể hóa ra các vị thỏa mãn sự mong cầu cho chúng sinh , các vị đó gọi là các vị Bồ Tát , họ có thể cho chúng sinh nưong tựa cầu tai quan nạn khỏi, hết bệnh , cầu tiền , cầu con , cầu mưa , cầu tạnh ....

Nhưng họ vẫn khác thần thánh thế tục ở chỗ họ làm các phương tiện thỏa mãn cho chúng sinh để chúng sinh nhất thời thoát lo âu để nếu đủ duyên sẽ dễ tiến tu đạo quả , cũng không vì khổ mà tạo nhiều điều ác .

Hai vị được thờ cúng rộng rãi và chính yếu để cầu mưa của tứ Pháp là Pháp Vân , Pháp Vũ như đã nói là trùng tên với địa thứ 10 của hàng Bồ Tát .

Ngoài ra hình ảnh Tứ Pháp còn tương ứng với một chủ đề quan trọng trong Phật giáo Đại thừa đó chính là Tứ Vô lượng Tâm : Đại Từ , Đại Bi , Đại hỷ , Đại Xả .

- Từ , đại từ : mong muốn chúng sinh được sung sướng , như đám mây che mát tất cả chúng sinh , che chở khỏi khổ đau - Đám mây Pháp Vân .

- Bi , Đại Bi : Lòng thương xót chúng sinh , muốn chúng sinh thoát khỏi cảnh khổ , được đại biểu bằng mưa , giống như giọt nước mắt - Pháp Vũ , điều này tương đồng trong tín ngưỡng Việt về thoải Phủ , các vị thánh thuộc Nước thường có truyện tích buồn dễ khóc .

- Hỷ , Đại Hỷ : Tự mình vui mừng thay cho kẻ khác khi họ làm được điều thiện , thành công , hạnh phúc - Tiếng Sấm - Pháp Lôi, Người việt có câu ca dao ' Lúa chiêm lấp ló đàu bờ / hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên " ở Nghệ an hiện còn dân tộc ơ đu có lễ hội Mừng tiếng Sấm , người Thái cũng mừng tiếng sấm đầu năm .

- Xả , Đại Xả : sự xả ly khỏi các bán chấp ; mọi sự trên đời như giấc mộng , như tia chớp lóe lên rồi vụt tắt , có hình đấy mà không có thực chất không thể nắm giữ , mà không năm giữ thì phải xả ly , buông bỏ mọi bám chấp - Tia sét - Pháp Điện.

Sự linh ứng của Tứ Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

- Thời Tam quốc , Đào Hoành làm thái thú Giao châu , phục sự linh thiêng của Phật , sai đắp đàn canh giữ tượng , trùng tu cả bốn ngôi chùa tại Luy Lâu . Vua Minh Đế nhà Đông Tấn nghe tiếng linh thiêng nên sai Thứ Sử Giao Châu Đào Khản mang quân lính đến kéo tượng Pháp Vân về kinh đô Kiến Khang . Khản sai lực sĩ đến kéo , kéo không được , lại sai 1000 lực sĩ cũng kéo không được , sai 3000 lực sĩ kéo về , đi giữa đường đến Long Pha , chúng kiệt sức ngã gãy chân tay nhiều . Khản thắp hương lễ tạ xin kéo trả về chỗ cũ tượng lại nhẹ tênh . Từ đó tiếng linh thiêng càng lừng lẫy .

- Khi Vua Lý Nhân Tông lên ngôi , trời mùa thu mưa hàng tháng . Vua sai thỉnh tượng Pháp Vân về chùa Báo Thiên ở kinh đô để cầu tạnh , trời dừng mưa . Vua mừng lắm bèn sai rước tượng từ chùa vào điện Hội Tiên trong cấm thành để cúng dàng lễ tạ , thân dẫn lục cung đến lễ bái , dâng cúng nhiều trân bảo.

- Năm Thái Ninh thứ 3 , mùa thu hạn hán , Vua sai rước Tượng Pháp Vân về điện Thủy Tinh trong đại nội và thân mặc pháp phục lễ bái trước tượng , trời mưa dạt dào.

Hệ thống "Thần điện " Tứ Pháp và các nhân vật liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Phong hiệu/ danh tính quan hệ với Tứ Pháp niên đại xuất hiện ghi chú
Bà Dâu Pháp Vân Thế Kỷ 3
Bà Đậu Pháp Vũ Thế Kỷ 3
Bà Tướng Pháp Lôi Thế Kỷ 3
Bà Dàn Pháp Điện Thế Kỷ 3
Thạch Quang Thạch Quang Vương Phật em trai Tảng đá trong cây Dung Thụ ,

Nêu biểu "Tự Tính kim cương bất hoại"

Phật tính , từ đó khởi lên vạn Pháp ,

trong đó có Tứ Pháp - Mây , Mưa , Sấm , Sét.

Man Nương Phật Mẫu mẹ
Khâu Đà La cha Người đầu tiên mang Phật giáo đến

Việt Nam ,và là thầy của Man Nương

Bà Keo em út/ một hóa của Pháp Vân khi khắc xong 4 pho Tứ pháp ,

còn 1 mẩu gỗ xấu , thợ họ Đào

đã khắc thêm tượng bà Keo

Pháp Thông Đại thánh Pháp Thông Vương Phật -

Tứ Pháp Trưởng

Là một mô típ giống với tứ Pháp , thế kỷ 13 bà được thờ ở chùa Dàn Xuân Quan

gần chùa của Pháp điện , bà là 1 nữ

hành giả Phật giáo thế kỷ 11 , để tử của

Từ Đạo Hạnh , là người vùng Dâu tu hành đắc đạo

Vợ chồng Tu Định cha mẹ của Man Nương , cư sĩ tư

Phật giáo theo Khâu Đà La

Sỹ Nhiếp Sỹ Vương Tiên thế kỷ thứ 3 người cho khắc tượng tứ Pháp
Tỳ Ni Đa Lưu Chi trụ trì chùa Dâu thế kỷ thứ 9
Bà Trắng Bà Chúa Ghênh / Thái phi

Trịnh Thị Ngọc Chử

em nuôi Tứ Pháp thế kỷ 17/18 Cúng Ruộng và xây chùa nên được

bầu làm Hậu Phật

Bà Đỏ Bà vú Khe / Nguyễn Thị Cảo em nuôi Tứ Pháp thế kỷ 17/18 Cúng Ruộng và xây chùa nên được

bầu làm Hậu Phật

Hệ Thống tự viện thờ tự[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm Tứ Pháp Bắc Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Đầy đủ và quan trọng nhất là ở Thuận Thành, Bắc Ninh:

  • Chùa Dâu (tên chữ Hán là Diên Ứng, Cổ Châu, Thiền Định), chùa nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, thờ Pháp Vân, nên gọi là bà Dâu
  • Chùa Đậu tên chữ là Thành Đạo Tự, nằm ở xã Thanh Khương, thờ Pháp Vũ, nên gọi là bà Đậu
  • Chùa Tướng (chùa Phi Tương) có tên chữ là Phi Tướng Đại Thiền Tự, chùa nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, chùa thờ Pháp Lôi, nên gọi là bà Tướng.
  • Chùa Dàn (chùa Xuân Quang) nằm ở thôn Phương Quan, xã Trí Quả, thờ Pháp Điện, nên gọi là bà Dàn

Chùa Đậu ở Bắc Ninh đã bị Pháp phá hủy, nên pho tượng Pháp Vũ đem về thờ chung trong chùa Dâu. Ngoài 4 chùa trên, còn chùa Tổ Mãn Xá (chùa Phúc Nghiêm) thờ Man Nương, mẹ của Tứ pháp.

Nhóm Tứ Pháp ở Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chùa Keo (Sùng Nghiêm) nằm ở xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm thờ Pháp Vân, nên gọi là bà Keo
  • Chùa Nành (Ninh Hiệp) xã Ninh Hiệp thờ Pháp Vân, gọi là bà Nành
  • Chùa Sét (Đại Bi) nằm ở thôn Giáp Lục, xã Thịnh Liệt, huyện Thanh trì (nay là phường Giáp Lục, quận Hai Bà Trưng), thờ cả Tứ pháp

Ngoài ra ở Thanh Trì có chùa Pháp Vân, chùa Pháp Vũ.

Nhóm Tứ Pháp ở Hưng Yên[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Lạc Hồng:

  • Chùa Thái Lạc thờ Pháp Vân
  • Chùa Hồng Cầu thờ Pháp Vũ
  • Chùa Nhạc Miếu thờ Pháp Lôi
  • Chùa Hồng Thái thờ Pháp Điện

Xã Lạc Đạo

  • Chùa Thôn Cầu thờ Pháp Vân
  • Chùa Hoằng thờ Pháp Vũ
  • Chùa Hướng Đạo thờ Pháp Lôi
  • Chùa Tân Nhuế thờ Pháp Vân

Nhóm Tứ Pháp ở Hà Tây (cũ)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chùa Pháp Vân (xã Văn Bình, huyện Thường Tín) thờ Pháp Vân
  • Chùa văn hội.( xã văn Bình huyện Thường Tín) thờ Pháp Lôi
  • Chùa Đậu (Hà Nội) (chùa Thành Đạo, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín) thờ Pháp Vũ
  • Chùa Pháp Vũ ( xã yên sở , huyện Hoài Đức)

Nhóm Tứ Pháp ở Hà Nam[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chùa Quế Lâm (chùa Bến, nên gọi là bà Bến), chùa Do Lễ, chùa Thôn Bốn, chùa Tiên thờ Pháp Vân.
  • Chùa Trinh Sơn, chùa Bảo Sơn (chùa Bà Đanh) thờ Pháp Vũ (nên gọi là bà Đanh)
  • Chùa Đặng Xá, chùa Nứa thờ Pháp Lôi
  • Chùa Bầu thờ Pháp Điện (gọi là bà Bầu)

Các chùa khác như chùa Quyển Sơn (Thi Sơn, Kim Bảng), chùa Thanh Nộn, chùa Phú Viên, chùa và đình làng Lạt Sơn (xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng), chùa Chanh Thôn (Văn Xá, Kim Bảng) có phối tự thờ Tứ Pháp trong thần điện. Tại Hà Nam, Tứ Pháp đã được gọi bằng những cái tên nôm na thân mật. Dân làng Đanh Xá gọi Pháp Vũ là bà Đanh (chùa Bà Đanh), dân làng Quế Lâm gọi Pháp Vân là bà Bến (chùa Quế Lâm), dân thành phố Phủ Lý gọi Pháp Điện là bà Bầu (chùa Bà Bầu)...

Ghi chú

- Chùa Đặng Xá (Văn Xá), tên tự là Khánh Hưng. thờ Pháp Vũ.

Trong các chùa thờ những nữ thần này, tượng của các nữ thần được tạc với kích thước to lớn hơn rất nhiều so với các tượng Phật. Hệ thống chùa Tứ pháp là chứng tích cho sự kết hợp giữa Phật giáo với các tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc nguyên thuỷ ở Việt Nam.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]