Tứ pháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search

Tứ pháp là danh từ để chỉ các Phật , Bồ Tát được dân gian coi như các nữ thần trong tín ngưỡng Việt Nam gồm: Mây-Mưa-Sấm-Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò quan trọng trong xã hội nông nghiệp. Sau này khi Phật giáo vào Việt Nam thì xuất hiện tín ngưỡng Tứ pháp với truyền thuyết về Phật Mẫu Man Nương. Tuy cai quản các vấn đề tự nhiên như : Vân - Vũ - Lôi - Điện (mây , mưa, sấm , chớp ) nhưng khái niệm Tứ Pháp khác với các Thần trong tín ngưỡng dân gian ở chỗ : nếu chư thần là cái gì đó thuộc vê tự nhiên có quyền năng ban phúc giáng họa thì Tứ Pháp là do Phật , Bồ Tát vì tâm đại bi hóa hiện ra để thỏa mãn các mong cầu của chúng sinh, tức Tứ Pháp cũng là giả danh mà bản thể căn bản là Từ Bi , Trí tuệ . Tóm lại Tứ Pháp là sự "Phương Tiện" biến hóa các Bồ Tát ra các Vị cai quản các hiện tượng tự nhiên để nhân dân cầu mưa , cầu mát chứ không phải các thần tự nhiên thâm nhập vào Phật giáo , tuy hình thức có điểm chung nhưng ý nghĩa lại khác xa nhau.

Liên quan đến tín ngưỡng thờ Tứ Pháp còn có hệ thống các chùa gọi là Tứ pháp, hiện chỉ thấy trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Các vị đó gồm:

Tượng Pháp Vân tại chùa Keo, Gia Lâm, Hà Nội
Tượng Pháp Vũ, tục gọi Bà Đậu ở Chùa Dâu, Bắc Ninh
  • Pháp Vân (chủ quản mây)
  • Pháp Vũ (chủ quản mưa)
  • Pháp Lôi (chủ quản sấm)
  • Pháp Điện (chủ quản chớp)

Tuy được dân gian gắn cho vai trò như các thần Mây , Mưa , Sấm , Chớp tự nhiên nhưng tên gọi có chữ "Pháp" đứng phía trước cho thấy các vị vẫn thuộc về Phật Giáo . Phật giáo quan niệm "chư Pháp do duyên sinh" tức các khái niệm , sự vật như sông , núi cây cỏ , thần mây , ý tưởng ... là các pháp vốn do nhiều nhân duyên tạo thành dựa trên nền tảng chung của các pháp là Tánh Không ( đại diện bởi Thạch Quang Phật), và các vị Phật , bồ tát muốn tạo lợi ích cho vô lượng chúng sinh có thể hóa ra cả các vị thần , trời , vua... để giúp đỡ họ . Được sinh ra từ Phật giáo nên họ được gọi là Tứ Pháp chứ không ai gọi là Tứ Thần. Ngay tên gọi bốn ngôi chùa Thiền Định - Thành Đạo - Phi Tướng - Trí Quả cũng nêu biểu các giai đoạn tu tập Phật giáo chứ không phải tín ngưỡng thần linh .

Các tượng Tứ Pháp rất đặc biệt , tuy các tượng còn tồn tại đa số là tạc lại vào thế kỷ 17-18 , được gọi là các "bà" nhưng tượng không hề ảnh hưởng của tín ngưỡng Mẫu bản địa vốn phát triển giai đoạn này mà vẫn giữ được những nét cổ kính như khuôn mặt của phụ nữ Ấn độ , dáng cao to ( Pháp vân) và điểm chung là đầu tượng là đầu "bụt ốc'' tức tóc xoăn bện lại như các pho tượng Phật. Đây là hình ảnh khác xa với tên gọi các "bà" hay hình ảnh mẫu , nữ thần đương thời. Tượng Tứ Pháp lại không bao giờ tạc bầu ngực của phụ nữ thay vào đó cơ thể mang đậm phong các Nam giới, có lẽ cách gọi các "bà" và tượng tạc thân nam là dạng kết hợp Từ Bi - Trí Tuệ của nhà Phật ( trong Phật giáo người nam biểu thị cho phương tiện , từ bi , người nữ biểu hiện cho trí tuệ , các Phật , bồ tát là các vị viên mãn hay tích lũy hai phẩm tính này). Mặc dầu phần đầu các pho tượng Tứ Pháp được tạc giống như chư Phật nhưng các tượng này thường là tượng sơn son chứ không thếp vàng như tượng Phật .

Trong bốn vị Tứ Pháp thì Pháp Vân , Pháp vũ là hai vị được thờ cúng rộng rãi nhất . Thông thường Pháp vân được coi là vị đại diện cho cả Tứ Pháp .

Ở bất cứ tôn giáo nào, ngoài những ý tưởng xây nên học thuyết, bên cạnh đó là cả một hệ thống kiến trúc minh họa cho ý tưởng trên, các công trình kiến trúc hoàn thành dựa trên nhận thức, thói quen, sở thích xây dựng của mỗi dân tộc, cho nên khó mà nói rằng các công trình kiến trúc bằng đá đã hơn các dạng kiến trúc được dựng từ các chất liệu khác.

Sự linh ứng của Tứ Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

- Thời Tam quốc , Đào Hoành làm thái thú Giao châu , phục sự linh thiêng của Phật , sai đắp đàn canh giữ tượng , trùng tu cả bốn ngôi chùa tại Luy Lâu . Vua Minh Đế nhà Đông Tấn nghe tiếng linh thiêng nên sai Thứ Sử Giao Châu Đào Khản mang quân lính đến kéo tượng Pháp Vân về kinh đô Kiến Khang . Khản sai lực sĩ đến kéo , kéo không được , lại sai 1000 lực sĩ cũng kéo không được , sai 3000 lực sĩ kéo về , đi giữa đường đến Long Pha , chúng kiệt sức ngã gãy chân tay nhiều . Khản thắp hương lễ tạ xin kéo trả về chỗ cũ tượng lại nhẹ tênh . Từ đó tiếng linh thiêng càng lừng lẫy .

- Khi Vua Lý Nhân Tông lên ngôi , trời mùa thu mưa hàng tháng . Vua sai thỉnh tượng Pháp Vân về chùa Báo Thiên ở kinh đô để cầu tạnh , trời dừng mưa . Vua mừng lắm bèn sai rước tượng từ chùa vào điện Hội Tiên trong cấm thành để cúng dàng lễ tạ , thân dẫn lục cung đến lễ bái , dâng cúng nhiều trân bảo.

- Năm Thái Ninh thứ 3 , mùa thu hạn hán , Vua sai rước Tượng Pháp Vân về điện Thủy Tinh trong đại nội và thân mặc pháp phục lễ bái trước tượng , trời mưa dạt dào.

Hệ thống "Thần điện " Tứ Pháp và các nhân vật liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Phong hiệu/ danh tính quan hệ với Tứ Pháp niên đại xuất hiện ghi chú
Bà Dâu Pháp Vân Thế Kỷ 3
Bà Đậu Pháp Vũ Thế Kỷ 3
Bà Tướng Pháp Lôi Thế Kỷ 3
Bà Dàn Pháp Điện Thế Kỷ 3
Thạch Quang Thạch Quang Vương Phật em trai Tảng đá trong cây Dung Thụ ,

Nêu biểu "Tự Tính kim cương bất hoại"

Phật tính , từ đó khởi lên vạn Pháp ,

trong đó có Tứ Pháp - Mây , Mưa , Sấm , Sét.

Man Nương Phật Mẫu mẹ
Khâu Đà La cha Người đầu tiên mang Phật giáo đến

Việt Nam ,và là thầy của Man Nương

Bà Keo em út/ một hóa của Pháp Vân khi khắc xong 4 pho Tứ pháp ,

còn 1 mẩu gỗ xấu , thợ họ Đào

đã khắc thêm tượng bà Keo

Pháp Thông Đại thánh Pháp Thông Vương Phật -

Tứ Pháp Trưởng

Là một mô típ giống với tứ Pháp , thế kỷ 13 bà được thờ ở chùa Dàn Xuân Quan

gần chùa của Pháp điện , bà là 1 nữ

hành giả Phật giáo thế kỷ 11 , để tử của

Từ Đạo Hạnh , là người vùng Dâu tu hành đắc đạo

Vợ chồng Tu Định cha mẹ của Man Nương , cư sĩ tư

Phật giáo theo Khâu Đà La

Sỹ Nhiếp Sỹ Vương Tiên thế kỷ thứ 3 người cho khắc tượng tứ Pháp
Tỳ Ni Đa Lưu Chi trụ trì chùa Dâu thế kỷ thứ 9
Bà Trắng Bà Chúa Ghênh / Thái phi

Trịnh Thị Ngọc Chử

em nuôi Tứ Pháp thế kỷ 17/18 Cúng Ruộng và xây chùa nên được

bầu làm Hậu Phật

Bà Đỏ Bà vú Khe / Nguyễn Thị Cảo em nuôi Tứ Pháp thế kỷ 17/18 Cúng Ruộng và xây chùa nên được

bầu làm Hậu Phật

Hệ Thống tự viện thờ tự[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm Tứ Pháp Bắc Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Đầy đủ và quan trọng nhất là ở Thuận Thành, Bắc Ninh:

  • Chùa Dâu (tên chữ Hán là Diên Ứng, Cổ Châu, Thiền Định), chùa nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, thờ Pháp Vân, nên gọi là bà Dâu
  • Chùa Đậu tên chữ là Thành Đạo Tự, nằm ở xã Thanh Khương, thờ Pháp Vũ, nên gọi là bà Đậu
  • Chùa Tướng (chùa Phi Tương) có tên chữ là Phi Tướng Đại Thiền Tự, chùa nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, chùa thờ Pháp Lôi, nên gọi là bà Tướng.
  • Chùa Dàn (chùa Xuân Quang) nằm ở thôn Phương Quan, xã Trí Quả, thờ Pháp Điện, nên gọi là bà Dàn

Chùa Đậu ở Bắc Ninh đã bị Pháp phá hủy, nên pho tượng Pháp Vũ đem về thờ chung trong chùa Dâu. Ngoài 4 chùa trên, còn chùa Tổ Mãn Xá (chùa Phúc Nghiêm) thờ Man Nương, mẹ của Tứ pháp.

Nhóm Tứ Pháp ở Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chùa Keo (Sùng Nghiêm) nằm ở xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm thờ Pháp Vân, nên gọi là bà Keo
  • Chùa Nành (Ninh Hiệp) xã Ninh Hiệp thờ Pháp Vân, gọi là bà Nành
  • Chùa Sét (Đại Bi) nằm ở thôn Giáp Lục, xã Thịnh Liệt, huyện Thanh trì (nay là phường Giáp Lục, quận Hai Bà Trưng), thờ cả Tứ pháp

Ngoài ra ở Thanh Trì có chùa Pháp Vân, chùa Pháp Vũ.

Nhóm Tứ Pháp ở Hưng Yên[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Lạc Hồng:

  • Chùa Thái Lạc thờ Pháp Vân
  • Chùa Hồng Cầu thờ Pháp Vũ
  • Chùa Nhạc Miếu thờ Pháp Lôi
  • Chùa Hồng Thái thờ Pháp Điện

Xã Lạc Đạo

  • Chùa Thôn Cầu thờ Pháp Vân
  • Chùa Hoằng thờ Pháp Vũ
  • Chùa Hướng Đạo thờ Pháp Lôi
  • Chùa Tân Nhuế thờ Pháp Vân

Nhóm Tứ Pháp ở Hà Tây (cũ)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chùa Pháp Vân (xã Văn Bình, huyện Thường Tín) thờ Pháp Vân
  • Chùa văn hội.( xã văn Bình huyện Thường Tín) thờ Pháp Lôi
  • Chùa Đậu (Hà Nội) (chùa Thành Đạo, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín) thờ Pháp Vũ
  • Chùa Pháp Vũ ( xã yên sở , huyện Hoài Đức)

Nhóm Tứ Pháp ở Hà Nam[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chùa Quế Lâm (chùa Bến, nên gọi là bà Bến), chùa Do Lễ, chùa Thôn Bốn, chùa Tiên thờ Pháp Vân.
  • Chùa Trinh Sơn, chùa Bảo Sơn (chùa Bà Đanh) thờ Pháp Vũ (nên gọi là bà Đanh)
  • Chùa Đặng Xá, chùa Nứa thờ Pháp Lôi
  • Chùa Bầu thờ Pháp Điện (gọi là bà Bầu)

Các chùa khác như chùa Quyển Sơn (Thi Sơn, Kim Bảng), chùa Thanh Nộn, chùa Phú Viên, chùa và đình làng Lạt Sơn (xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng), chùa Chanh Thôn (Văn Xá, Kim Bảng) có phối tự thờ Tứ Pháp trong thần điện. Tại Hà Nam, Tứ Pháp đã được gọi bằng những cái tên nôm na thân mật. Dân làng Đanh Xá gọi Pháp Vũ là bà Đanh (chùa Bà Đanh), dân làng Quế Lâm gọi Pháp Vân là bà Bến (chùa Quế Lâm), dân thành phố Phủ Lý gọi Pháp Điện là bà Bầu (chùa Bà Bầu)...

Ghi chú

- Chùa Đặng Xá (Văn Xá), tên tự là Khánh Hưng. thờ Pháp Vũ.

Trong các chùa thờ những nữ thần này, tượng của các nữ thần được tạc với kích thước to lớn hơn rất nhiều so với các tượng Phật. Hệ thống chùa Tứ pháp là chứng tích cho sự kết hợp giữa Phật giáo với các tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc nguyên thuỷ ở Việt Nam.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]