Ngọc Lặc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

20°5′26″B 105°22′33″Đ / 20,09056°B 105,37583°Đ / 20.09056; 105.37583

Ngọc Lặc
Huyện
Địa lý
Diện tích 495,53
Dân số  
 Tổng cộng 146.272
 Mật độ 295
Dân tộc Việt, Mường, Thái, Dao
Hành chính
Huyện lỵ Ngọc Lặc
Chính quyền  
 Chủ tịch UBND Lê Văn Tuấn
 Chủ tịch HĐND Bùi Huy Toàn
 Bí thư Huyện ủy Ngô Tiến Ngọc
Phân chia hành chính 21 xã, 1 thị trấn
Số điện thoại (0237) 3871142
Số fax (0237) 3871449
Website http://ngoclac.thanhhoa.gov.vn/

Ngọc Lặc là huyện ở phía tây bắc, là đô thị loại 4 của tỉnh Thanh Hóa của Việt Nam.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Ngọc Lặc
Huyện Ngọc Lặc trên bản đồ Việt Nam
Huyện Ngọc Lặc
Huyện Ngọc Lặc
Vị trí huyện Ngọc Lặc trên bản đồ Việt Nam
Tọa độ: 20°5′26″B 105°22′33″Đ / 20,09056°B 105,37583°Đ / 20.09056; 105.37583
Quốc gia  Vietnam

Theo sách địa chí và địa danh viết ở thời Lê và thời Nguyễn cũng như những di chi khảo cổ của các nhà khảo cổ học người Pháp từ những năm hai mươi của thế kỷ XX đã phát hiện ở Ngọc Lặc những di chỉ của cư dân cư trú thời đại đá mới (thuộc văn hoá Hòa Bình) trong các hang động như: Hang Mộc Trạch, Lộc Thịnh I và Lộc Thịnh II.

Vào thời văn hoá Đông Sơn, trên đất Ngọc Lặc đã phát hiện được các nhóm đồ đồng Đông Sơn gồm: Công cụ, vũ khí, trống đồng ở các xã Ngọc Khê qua di chỉ khảo cổ Mả Mè và núi Nú (Nguyện ấn).

Thời thuộc Hán, Ngọc Lặc thuộc vào huyện Đô Lung.

Thời thuộc Tuỳ - Đường (581 - 905) miền đất Ngọc Lặc thuộc huyện Di Phong rồi huyện Đường Lâm đến tận thời Đinh - Tiền Lê - Lý.

Thời Trần - Hồ thuộc huyện Nga Lặc (tương đương với huyện Ngọc Lặc ngày nay và một phần đất huyện Thọ Xuân phía tả ngạn sông Chu)

Thời thuộc Minh nhập Nga Lặc với Lôi Giang gọi là huyện Nga Lạc (tức huyện Ngọc Lặc và huyện Cẩm Thuỷ ngày nay).

Thời Hậu Lê năm Quang Thuận thứ 10 (1469) Ngọc Lặc thuộc huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên.

Thời Nguyễn là phần đất của huyện Thụy Nguyên. Năm Thành Thái thứ 12 (1900) cắt tổng Ngọc Lặc và các xã Người Mường thuộc tổng Yên Trường, Quảng Thi (huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hoá) thành lập châu Ngọc, sau đó là châu Ngọc Lặc.

Sau cách mạng tháng tám (1945) bỏ "châu" đổi thành huyện Ngọc Lặc.

Ngày 05 tháng 7 năm 1977 theo quyết định 177-CP của Hội đồng Chính phủ sát nhập hai huyện Ngọc Lặc và huyện Lang Chánh gọi là huyện Lương Ngọc.

Ngày 30 tháng 8 năm 1982 theo quyết định số 149-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng chia huyện Lương Ngọc thành hai huyện Lang Chánh và huyện Ngọc Lặc. Huyện Ngọc Lặc giữ nguyên tên gọi đến ngày nay.

Như vậy, miền đất Ngọc Lặc trải qua nhiều thời kỳ chia tách, sát nhập, thay đổi tên gọi khác nhau nhưng vùng đất Ngọc Lặc đã có cư dân sinh sống khá sớm, có địa thế chiến lược quân sự trọng yếu, là nơi căn cứ của nghĩa quân Lam Sơn. Cũng từ vùng đất Ngọc Lặc nghĩa quân Lam Sơn dấy binh khởi nghĩa đánh thắng quân Minh xâm lược, giành lại độc lập cho dân tộc lập nên Triều đại hậu Lê, một Triều đại phong kiến thịnh trị nhất so với các Triều đại phong kiến Việt Nam. Nên vùng đất Ngọc Lặc được các Triều đại phong kiến Việt Nam ví như một viên ngọc quý phải lấy lụa và gấm vóc bọc chặt để cất kỹ hay viên ngọc quý phải được cất giữ như nhà vua cất giữ "triện" trong một cái ẩm. Tên gọi huyện Ngọc Lặc được xuất xứ từ đấy.

Thời Hậu Lê và thời Nguyễn cho đến Cách mạng tháng 8 năm 1945 huyện Ngọc Lặc chia thành bốn đơn vị tổng, các tổng được gọi tắt bằng chữ đầu là: Tổng Ngọc (Ngọc Khê); Tổng Cốc (Cốc Xá); Tổng Hạt (Hạt Cao); Tổng Vân (Vân Am). Dưới tổng là các đơn vị cư dân cơ sở (xã, thôn, mường, làng, trang, trại) và có ông mường, ông cai, lý trưởng cai quản. Thời Nhà Nguyễn những đơn vị dân cư đông đúc được gọi là mường, làng hay còn do vị trí địa lý nhiều làng trong một khu vực địa lý thuân lợi thành lập thôn như thôn Mỹ Thi (nay là xã Mỹ Tân); thôn Cao Trị (nay là xã Cao Ngọc); thành lập xã như xã Thạch Yến (gồm mường Yến và một số làng lân cận thuộc xã Thạch Lập ngày nay). Những đơn vị dân cư ít hay mới đến khai hoang lập nghiệp gọi là làng, trang.

Sau Cách mạng tháng Tám đơn vị tổng được bãi bỏ và thay bằng các đơn vị xã, với quy mô nhỏ hơn. Từ năm 1946-1963 toàn huyện Ngọc Lặc được chia thành 12 xã là: Cao Khê; Đô Lương; Quang Trung; Ngọc Thắng; Minh Sơn; Lộc Thịnh; Kiên Thọ; Phúc Thịnh; Nguyệt Ấn; Phùng Giáo; Vân Am và Lương Ngọc.

Từ năm 1963 đến năm 1982 được chia tách thành 17 đơn vị hành chính: chia xã Cao Khê thành (Ngọc Khê, Mỹ Tân và Cao Ngọc); chia xã Đô Lương thành Thuý Sơn và Thạch Lập; chia xã Lộc Thịnh thành Lộc Thịnh và Đồng Thịnh; chia xã Ngọc Thắng thành Ngọc Liên, Ngọc Trung, Ngọc Sơn và thành lập thị trấn nông trường Thống Nhất, thị trấn nông trường Sông Âm, thị trấn nông trường Lam Sơn. Cũng trong năm 1963 cắt xã Lương Ngọc về huyện Thường Xuân (nay là xã Lương Sơn và Ngọc Phụng); cắt đất mường Kim Ơi xã Quang Trung về huyện Cẩm Thủy (nay là xã Cẩm Châu); cắt đất mường Ne làng Quan Trì thuộc xã Lộc Thịnh về xã Yên Lâm thuộc huyện Yên Định ngày nay.

Ngày 05 tháng 07 năm 1977 sáp nhập hai huyện Ngọc Lặc và huyện Lang Chánh thành huyện Lương Ngọc. Các đơn vị xã và thị trấn nông trường là: Thị trấn nông trường Sông Âm, thị trấn nông trường Lam Sơn, Vân Am, Cao Ngọc, Mỹ Tân, Ngọc Khê, Thuý Sơn, Thạch Lập, Quang Trung, Đồng Thịnh, Lộc Thịnh, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Ngọc Trung, Minh Sơn, Kiên Thọ, Nguyệt Ấn, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Quang Hiến, Đồng Lương, Tân Phúc, Tam Văn, Giao An, Trí Nang, Yên Khương, Lâm Phú.

Đến năm 1978 thị trấn nông trường Thống Nhất được chuyển về huyện Yên Định quản lý về dân số nhưng đất đai vẫn thuộc huyện Ngọc Lặc quản lý.

Năm 1982 chia xã Lộc Thịnh thành xã Lộc Thịnh và xã Cao Thịnh; chia xã Minh Sơn thành xã Minh Sơn và xã Minh Tiến; chia xã Phùng Giáo thành xã Phùng Giáo và Phùng Minh.

Từ ngày 30 tháng 8 năm 1982, huyện Lương Ngọc dược chia thành huyện Lang Chánh và huyện Ngọc Lặc như hiện nay. Thời kỳ này huyện Ngọc Lặc có 20 xã. Ngày 03 tháng 06 năm 1988 Chính phủ CHXHCN Việt Nam quyết định thành lập thị trấn huyện lỵ Ngọc Lặc.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới doanh nghiệp nông lâm nghiệp. Thị trấn nông trường Lam Sơn, thị trấn nông trường Sông Âm giải thể và chuyển đất đai, dân số trước kia thị trấn quản lý về các xã quản lý. Trên cơ sở thị trấn nông trường Lam Sơn quản lý và tiếp nhận làng Minh Thuỷ (xã Minh Tiến) để thành lập xã mới.

Ngày 09 tháng 01 năm 2004 Thủ tướng Chính phủ CHXHCN Việt Nam ra nghị quyết số 15/CP về thành lập xã Lam Sơn.

Ngày 15 tháng 3 năm 2017, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ký Quyết định công nhận Thị trấn Ngọc Lặc mở rộng đạt tiêu chuẩn Đô thị loại IV.

Trong thời gian tới, sẽ thành lập thị xã Ngọc Lặc, đô thị trung tâm miền tây của Tỉnh Thanh Hóa.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Diện tích[sửa | sửa mã nguồn]

Diện tích tự nhiên là 495,53 km².

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình phức tạp, đồi núi ở phía tây (chiếm 40,1% diện tích), đỉnh Lam Sơn (472 m), đồng bằng phía đông xen nhiều đồi gò. Sông Cầu Chày, Sông Âm,Sông Hép chảy qua.

Ngọc Lặc

Vị trí huyện Ngọc Lặc trên bản đồ tỉnh Thanh Hóa.

Điều kiện xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông có quốc lộ 15A(Từ phố Lê Duẩn TT Ngọc Lặc tới giáp huyện Lang Chánh), tỉnh lộ 519(Chỉ còn đoạn gần 2 km qua Phố 1) và đường Hồ Chí Minh(Tráng tỉnh lộ 519 và đoạn QL 15A từ TT Ngọc Lặc tới Lam Kinh), tỉnh lộ 516B (Từ Thống Nhất qua Lam Sơn sang Phố Châu) chạy qua.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm 1 thị trấn (Ngọc Lặc - huyện lị), 21 xã (Cao Ngọc, Cao Thịnh, Đồng Thịnh, Kiên Thọ, Lam Sơn, Lộc Thịnh, Minh Sơn, Minh Tiến, Mỹ Tân, Ngọc Khê, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Ngọc Trung, Nguyệt Ấn, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Phùng Minh, Quang Trung, Thạch Lập, Thúy Sơn, Vân Âm).

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng dân số 146.272 người (2010), bình quân 295.2 người/km², gồm các dân tộc: Mường, Dao, Thái, Kinh.

Người Ngọc Lặc nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]