Lang Chánh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Lang Chánh

Huyện
Hành chính
VùngBắc Trung Bộ
TỉnhThanh Hóa
Huyện lỵthị trấn Lang Chánh
Phân chia hành chính1 thị trấn, 9 xã
Địa lý
Tọa độ: 20°9′18″B 105°14′26″Đ / 20,155°B 105,24056°Đ / 20.15500; 105.24056Tọa độ: 20°9′18″B 105°14′26″Đ / 20,155°B 105,24056°Đ / 20.15500; 105.24056
Diện tích585,92 km²
Dân số (2018)
Tổng cộng50.120 người
Khác
Websitebathuoc.thanhhoa.gov.vn

Lang Chánh là một huyện miền núi phía tây của tỉnh Thanh Hóa.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Lang Chánh giáp với các huyện của tỉnh Thanh Hóa như sau.

Địa hình, khí hậu, tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Lang Chánh có địa hình đa dạng và phức tạp với độ cao tăng dần từ 400-500 ở phía đông lên tới 700–900 m ở phía tây. Đỉnh cao nhất là núi Bù Rinh cao 1.291 m (Nơi Lê Lợi bị bao vây và Lê Lai đã liều mình cứu chúa). Độ dốc trung bình từ 20-30°, có nơi tới 40–50°. Lang Chánh có hệ đất feralit với các loại sau: Đất fe ralit phát triển trên đá macma bazơ và trung tính, đất feralit phát triển trên đá macma chua, có mùn vàng đỏ trên núi, đất feralit phát triển trên đá trầm tích và biến chất. Ngoài ra còn có đất dốc tụ và đất lầy thụt, phân bố ở vùng thấp bị ngập nước. Nhờ thủy lợi hoá có thể trồng lúa.

Tài nguyên nước rất phòng phú với ba con sông lớn là: Sông Cảy, sông Sạo, sông Âm. Thác Ma Hao là thác lớn nhất của sông Cảy có tiềm năng phát triển thuỷ điện và du lịch sinh thái, rừng cây cung cấp nước ngọt và thực phẩm cho đồng bào các dân tộc, là con đường vận chuyển lâm sản về đồng bằng ngoài ra còn có nguồn nước ngầm phong phú.

Tài nguyên rừng Lang Chánh hiện nay có 11.632 ha rừng tự nhiên và 9.732 ha rừng trồng. Độ che phủ là 72%. Rừng Lang Chánh có nhiều loại gỗ quý như lim, lát hoa, pơ mu, dổi, vàng tâm, luồng, tre nứa và có nhiều dược liệu quý như quế, xa nhân, nấm hương, trầm hương… cùng một số loại động vật quý hiếm: lợn rừng, khỉ v.v.

Về khoáng sản có mỏ đất sét dùng sản xuất gạch chịu lửa ở Làng En (xã Trí Nang); mỏ đồng ở xã Trí Nang; mỏ đá granit chất lượng cao, trữ lượng lớn ở rặng núi Bù Rinh. Bước đầu, các nhà khoa học xác định mỏ có diện tích khoảng 0,5 km², trữ lượng khoảng 660.000 m³. Đây là loại đá có độ bóng độ liên kết khá bền vững, có giá trị kinh tế cao. Nếu khai thác với sản lượng 100.000 m³ sản phẩm/năm, mỏ này có thể khai thác được trên 80 năm[cần dẫn nguồn].

Khí hậu của Lang Chánh nhìn chung không quá nóng, mưa nhiều, lắm sương mù (bình quân mỗi năm có tới 70-80 ngày sương mù), mùa đông lạnh và tương đối khô, biên độ nhiệt tương đối lớn. Thiên tai cần đề phòng là rét đậm, lũ, sương muối, sương giá. Khí hậu có sự khác nhau giữa phía đông và phía tây. Phía đông có tổng nhiệt độ năm là 7.500-8.000 °C, lượng mưa trung bình năm là 2.200 mm (có nơi 2.500 mm); mùa mưa kéo dài 6- 7 tháng, bắt đầu từ giữa tháng tư và kết thúc vào cuối tháng mười. Hàng năm có 20–25 ngày có giá tây khô nóng.

Diện tích, dân số[sửa | sửa mã nguồn]

  • Diện tích: 585,92 km²
  • Dân số: Dân số trung bình năm 2018 là 50.120 người, tỉ lệ sinh là 17,3 ‰; tỉ lệ chết 4,9 ‰; tỉ suất tăng tự nhiên là 12,4 ‰ trong đó tỉ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 là 1,32 ‰. Mật độ dấn số trung bình là 85 người/km². Lang Chánh có các dân tộc: Thái (53 %), Mường (33 %), Kinh (14 %) Người dân Lang Chánh có truyền thống đoàn kết, yêu nước, cần cù lao động. Tuy nhiên trình độ văn hoá khoa học kỹ thuật còn thấp. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo (Từ sơ cấp trở lên) mới đạt 14% tổng số lao động.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Lang Chánh có 10 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Lang Chánh (huyện lỵ) và 9 xã: Đồng Lương, Giao An, Giao Thiện, Lâm Phú, Tam Văn, Tân Phúc, Trí Nang, Yên Khương, Yên Thắng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1945, bỏ cấp phủ, châu, gọi chung là huyện. Huyện Lang Chánh khi đó gồm có 11 xã: Đồng Lạc, Giao An, Hợp Phúc, Lâm Dương, Lương Chính, Tam Kỳ, Tân Lập, Trí Năng, Văn Hiến, Vinh Quang, Yên Khương.

Năm 1948, hợp nhất hai xã Lâm Dương và Tam Kỳ thành xã Lê Lai; hợp nhất hai xã Tân Lập và Hợp Phúc thành xã Tân Phúc.

Năm 1949, hợp nhất hai xã Đồng Lạc và Lương Chính thành xã Đồng Lương.

Năm 1951, hợp nhất ba xã Trí Nang, Vinh Quang, Văn Hiến thành xã Quyết Thắng.

Ngày 25 tháng 6 năm 1963, chia xã Lê Lai thành 2 xã lấy tên là xã Lâm Phú và Tam Văn.

Ngày 13 tháng 4 năm 1966, chia xã Quyết Thắng thành 2 xã lấy tên là xã Trí Nang và xã Quang Hiến.

Ngày 2 tháng 10 năm 1981, chia xã Giao An thành 2 xã lấy tên là xã Giao An và xã Giao Thiện; chia xã Yên Khương thành 2 xã lấy tên là xã Yên Khương và xã Yên Thắng.

Ngày 13 tháng 4 năm 1991, thành lập thị trấn Lang Chánh - thị trấn huyện lị huyện Lang Chánh - trên cơ sở một phần diện tích và dân số của các xã Quang Hiến và Đồng Lương.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết số 786/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa. Theo đó, sáp nhập xã Quang Hiến vào thị trấn Lang Chánh.[1]

Từ đó, huyện Lang Chánh có 1 thị trấn và 9 xã, giữ ổn định cho đến nay.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Lang Chánh là huyện nghèo (một trong 7 huyện nghèo của Thanh Hóa). Lang Chánh là huyện miền núi, nên còn gặp rất nhiều khó khăn.

GDP đầu người: 526 USD/người. Cơ cấu kinh tế: nông-lâm nghiệp 67%, công nghiệp 13%, dịch vụ 20%. Tỷ lệ hộ nghèo là 27%.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]