Hàng Gòn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hàng Gòn, Long Khánh)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Hàng Gòn

Hành chính
VùngĐông Nam Bộ
TỉnhĐồng Nai
Thành phốLong Khánh
Thành lập2003[1]
Địa lý
Tọa độ: 10°52′23″B 107°12′57″Đ / 10,87306°B 107,21583°Đ / 10.87306; 107.21583Tọa độ: 10°52′23″B 107°12′57″Đ / 10,87306°B 107,21583°Đ / 10.87306; 107.21583
Diện tích33,93 km²[2]
Dân số (1999)
Tổng cộng10.462 người[2]
Mật độ308 người/km²
Khác
Mã hành chính26113[2]

Hàng Gòn là một thuộc thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Hàng Gòn có vị trí địa lý:

Xã Hàng Gòn có diện tích 33,93 km², dân số năm 1999 là 10.462 người,[2] mật độ dân số đạt 308 người/km².

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Hàng Gòn được thành lập vào năm 2003 do đổi tên từ xã Xuân Thanh cũ, do trùng tên với phường Xuân Thanh mới thành lập khi đó.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ yếu tại đây. Các loại cây chính là cây công nghiệp lâu năm như: Cao su, Cà phê, Điều, Tiêu,... Các loại cây lương thực như: Lúa, Ngô, Đậu,... Ở Hàng Gòn có một công ty là Công ty Cổ phần Cao su Hàng Gòn và một nhà máy lớn là nhà máy chế biến mủ cao su thuộc Công ty Cổ phần Cao su Hàng Gòn.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn[sửa | sửa mã nguồn]

Di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn, còn được gọi là Mộ Ông Đá, nằm ở ấp Hàng Gòn. Mộ do kĩ sư J. Bouchot phát hiện vào năm 1927 trong lúc đào ủi để thi công tuyến đường từ Long Khánh đi Bà Rịa-Vũng Tàu. Năm 1928, di tích này đã được xếp hạng và ghi vào danh mục các di tích lịch sử với tên "Mộ Đông Dương - Mộ Dolmen Hàng Gòn".

Đây là một dạng hầm mộ, hình chữ nhật dài 4,2m, ngang 2,7m, cao 1,6m được ghép bởi sáu tấm đá hoa cương được bào khá nhẵn ở mặt ngoài; 4 tấm đá thẳng đứng dùng làm vách, nặng khoảng 30 - 40 tấn, hai tấm nằm ngang dùng làm mặt đáy và nắp đậy. Liên kết giữa tấm đá hoa cương nhờ vào hệ thống rãnh dọc chắc chắn. Xung quanh mộ có nhiều trụ đá hoa cương cao 7,5 mét, tiết diện mặt cắt ngang hình chữ nhật dài 1,10m X 0,3m, phần lớn các đầu trụ được khoét lõm hình yên ngựa.

Tại khu vực mộ, có dấu vết của những vệt đất cháy kéo dài thành hình vòng cung, phía trên có rất nhiều than tro và xỉ kim loại; các mảnh đồ gốm trên thân có hoa văn làm từ chất liệu đất sét pha cát và vỏ nhuyễn thể nghiền nhỏ; phát hiện hai chiếc tù và bằng đồng và hai chiếc bàn mài bằng đá có lỗ đeo. Ngoài ra, có nhiều hiện vật bằng gốm, bằng đá, các dụng cụ bàn mài, các cột đá và những vết đất cháy, than tro. Trong xưởng chế tác đá đã tìm thấy trước đó, đoàn khảo sát cũng đã tìm thấy những tấm đá, cột đá, nhiều phế vật mảnh tước đá và nhiều công cụ lao động.

Niên đại của di tích được xác định trong khoảng thời gian 150 trước Công nguyên đến 240 năm sau Công nguyên.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nghị định số 97/2003/NĐ-CP.
  2. ^ a ă â b “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]