Biên Hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Thành phố Biên Hòa)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Biên Hòa
Thành phố trực thuộc tỉnh
Nhà thờ chính Văn miếu Trấn Biên.jpg
Từ hồ Tịnh Quang nhìn vào điện thờ chính trong khu Văn miếu Trấn Biên
Địa lý
Tọa độ: 10°54′50″B 106°52′26″Đ / 10,91389°B 106,87389°Đ / 10.91389; 106.87389Tọa độ: 10°54′50″B 106°52′26″Đ / 10,91389°B 106,87389°Đ / 10.91389; 106.87389
Diện tích 264,08 km²[1]
Dân số (27/10/2015)  
 Tổng cộng 1.104.495[1]
 Mật độ 4.182 người/Km²
Dân tộc Chủ yếu là Kinh
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đông Nam Bộ
Tỉnh Đồng Nai
 Chủ tịch UBND Phạm Anh Dũng
 Chủ tịch HĐND Phan Văn Trước
 Bí thư Thành ủy Lê Văn Dành
 Trụ sở UBND 90 Hưng Đạo Vương, Phường Thanh Bình
Phân chia hành chính 28 phường, 6
Website Thành phố Biên Hòa

Biên Hòa () là thành phố công nghiệp và là tỉnh lỵ của tỉnh Đồng Nai, nằm ở khu vực Đông Nam Bộ, Việt Nam. Thành phố Biên Hòa là đô thị loại I[2], với định hướng tương lai là trở thành thành phố Trực thuộc Trung ương và hiện là thành phố trực thuộc tỉnh có dân số đông nhất cả nước với hơn 1 triệu người, có dòng sông Đồng Nai chảy qua, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh 30 km, cách thành phố Vũng Tàu 90 km.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Biên Hòa nằm ở phía tây tỉnh Đồng Nai, phía Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu, phía Nam giáp huyện Long Thành, phía Đông giáp huyện Trảng Bom, phía Tây giáp Thị xã Tân Uyên, thị xã Dĩ An tỉnh Bình DươngQuận 9 - Thành phố Hồ Chí Minh[3].

Do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa chính vì vậy thời tiết thành phố Biên Hòa chia thành 2 mùa rõ rệt gồm mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến tháng 10, mùa khô thường bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình trong năm từ khoảng 25,4 °C đến 27,2 °C.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn cho là đất Biên Hòa xưa là lãnh thổ nước Bà Lỵ (Bà Lị) và nước Thù Nại, những tiểu quốc cổ nằm ở phía Đông Nam nước Chiêm Thành, nay là vùng đất Bà Rịa - Vũng TàuĐồng Nai. Về sau, khi Chân Lạp lớn mạnh đều bị Chân Lạp thôn tính. Trước khi bị thực dân Pháp đô hộ, Biên Hòa là trung tâm của toàn bộ miền Nam với tên gọi Trấn Biên.[4]

  • Năm 1808, dinh Trấn Biên đổi tên thành Trấn Biên Hòa.
  • Năm 1832, Trấn Biên Hòa được đổi thành tỉnh Biên Hòa.
  • Năm 1975, tỉnh Biên Hòa bị giải thể và thành lập tỉnh Đồng Nai, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Biên Hòa.
  • Năm 1976, Thị xã Biên Hòa được nâng cấp thành thành phố Biên Hòa - đô thị loại 3, trực thuộc tỉnh Đồng Nai, gồm 11 phường: An Bình, Hòa Bình, Quang Vinh, Quyết Thắng, Tam Hiệp, Tam Hòa, Tân Mai, Tân Tiến, Thanh Bình, Thống Nhất, Trung Dũng và 9 xã: Bửu Hòa, Bửu Long, Hiệp Hòa, Hóa An, Long Bình Tân, Tân Hạnh, Tân Phong, Tân Thành, Tân Vạn.
  • Ngày 23 tháng 10 năm 1978, chuyển 2 xã Hố Nai 1 và Hố Nai 2 thuộc huyện Thống Nhất về thành phố Biên Hòa quản lý và đổi thành 2 phường có tên tương ứng.[5]
  • Ngày 17 tháng 1 năm 1984, chia phường Hố Nai 2 thành 2 phường: Tân Biên và Tân Hòa; hợp nhất 2 xã: Bửu Long và Tân Thành thành xã Tân Bửu; chuyển 2 xã Tân Phong và Tân Vạn thành 2 phường có tên tương ứng.[6]
  • Ngày 28 tháng 12 năm 1984, chuyển xã Bửu Hòa thành phường Bửu Hòa.[7]
  • Ngày 8 tháng 6 năm 1988, chia phường Tam Hòa thành 2 phường: Tam Hòa và Bình Đa.[8]
  • Ngày 10 tháng 5 năm 1993, thành phố Biên Hòa được công nhận là đô thị loại 2[9].
  • Ngày 29 tháng 8 năm 1994, chuyển xã Tân Bửu thành phường Bửu Long; chuyển xã Long Bình Tân thành phường Long Bình Tân; chia phường Tam Hòa thành 2 phường: Tam Hòa và Long Bình; thành lập 2 phường Tân Hiệp và Trảng Dài.
  • Năm 1996, đổi tên phường Hố Nai 1 thành phường Hố Nai.
  • Ngày 5 tháng 2 năm 2010, thành phố Biên Hòa mở rộng địa giới hành chính và xác nhập thêm 4 xã An Hòa, Long Hưng, Phước Tân, Tam Phước từ huyện Long Thành.[10]
  • Ngày 11 tháng 7 năm 2014, chuyển xã Hóa An thành phường Hóa An.[11]
  • Ngày 16 tháng 1 năm 2015, chia phường Long Bình thành 2 phường: Long Bình và Long Tân; chia phường Tân Phong thành 2 phường: Tân Phong và Bàu Hang; chia phường Trảng Dài thành 2 phường: Trảng Dài và Hố Cạn; thành lập phường Tân Long trên cơ sở một phần diện tích các phường: An Bình, Long Bình, Long Bình Tân.
  • Ngày 30 tháng 12 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2488/QĐ-TTg công nhận Biên Hòa là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đồng Nai[12]. Như vậy tính đến thời điểm này, Biên Hòa là đô thị loại I thứ hai của khu vực Đông Nam Bộ, sau thành phố Vũng Tàu.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Biên Hòa có 34 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó gồm có 28 phường và 6 xã:
Tên Diện tích (km²) (2015) Dân số (người)
Phường (28)
An Bình 6,54 48.117
Bàu Hang 6,12 23 336
Bình Đa 1,22 21 725
Bửu Hòa 4,17 19.372
Bửu Long 5,74 24.559
Hòa Bình 0,56 9.574
Hóa An 0,68 30 418
Hố Cạn 7,27 31 021
Hố Nai 3,89 31.568
Long Bình 19.41 61 791
Long Bình Tân 3,87 23 966
Long Tân 15,60 28 200
Quang Vinh 1,20 25 627
Quyết Thắng 1,39 19.214
Tam Hòa 1,22 17.85
Tam Hiệp 2,17 33.424
Tân Biên 6,11 36.037
Tên Diện tích (km²) (2015) Dân số (người)
Tân Hòa 3,95 39.982
Tân Hiệp 3,46 28.597
Tân Long 11,49 33 887
Tân Mai 1,37 20.101
Tân Phong 10,59 23 917
Tân Tiến 1,32 18.286
Tân Vạn 4,33 14.086
Thanh Bình 0,35 5.360
Thống Nhất 3,43 22.786
Trảng Dài 7,20 47 121
Trung Dũng 0,86 31 861
Xã (6)
An Hòa 9,21 18.337
Hiệp Hòa 6,96 12.433
Long Hưng 11,73 5.900
Phước Tân 42,76 39.325
Tam Phước 45,65 35.708
Tân Hạnh 6,08 8.792
Ghi chú: Nguồn từ http://dongnai.vncgarden.com/[13].

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Nguyễn Hữu Cảnh tại đền thờ ông ở Cù lao Phố

Dân số năm 2015 ước có 1.104.495 người, mật độ 4.182 người/km².

Theo ước tính tháng 10 năm 2013, dân số thành phố khoảng 1 triệu người (chưa tính khoảng 300.000 công nhân đang làm việc trong các khu công nghiệp).[14] Mật độ dân số 3.788 người/Km², Nguyên nhân của sự gia tăng dân số thành phố là do số dân di cư rất lớn từ các nơi khác đến để làm tại các khu công nghiệp. Thành phần dân cư thành phố Biên Hòa phần lớn là người Kinh, ngoài ra còn có một bộ phận người gốc Hoa sinh sống chủ yếu ở xã Hiệp Hòa và phường Thanh Bình. Có thể nói dân cư thành phố Biên Hòa quá đông từ các tỉnh phía Bắc đến tận miền Tây Nam Bộ tập ở đây rất đông và khó kiểm soát. Số người có tôn giáo là rất lớn, chủ yếu là 4 tôn giáo (Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành và Hòa Hảo) và các tôn giáo khác; trong đó đạo Thiên Chúa giáo tập trung đông ở các phường, xã (Tân Mai, Hố Nai, Tam hiệp...). Hiện nay, thành phố Biên Hòa là thành phố thuộc tỉnh có dân số cao nhất Việt Nam và là thành phố có dân số đô thị cao thứ 3 Việt Nam (sau TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội).

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Biên Hòa có tiềm năng to lớn để phát triển để phát triển công nghiệp với nền đất lý tưởng, thuận lợi cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, có nguồn tài nguyên khoáng sản với trữ lượng khai thác đáng kể, nhất là tài nguyên khoáng sản về vật liệu xây dựng, thuận lợi về nguồn cung cấp điện, có nguồn nước dồi dào đủ cung cấp nhu cầu sản xuất và sinh hoạt (sông Đồng Nai), ngoài ra nguồn nhân lực với trình độ cao đã tăng cường nguồn lực con người cho yêu cầu phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa.Về cơ cấu kinh tế, năm 2015 công nghiệp - xây dựng chiếm 61,68%; dịch vụ chiếm 38,17% và nông lâm nghiệp chiếm 0,15%

Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố này cũng là trung tâm công nghiệp quan trọng của cả nước. Biên Hòa có thế mạnh về công nghiệp và cũng là nơi đi tiên phong trong lĩnh vực Công nghiệp đầu tiên của cả nước với việc hình thành sớm KCN Biên Hòa I (năm 1967) - Khu kĩ nghệ Biên Hòa - Khu công nghiệp đầu tiên của cả nước sau ngày đất nước Thống Nhất.

Thành phố Biên Hòa hiện có 6 khu công nghiệp được Chính phủ phê duyệt đã đi vào hoạt động với cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ: diện tích hơn 2000 ha

  1. Khu công nghiệp Biên Hòa 1 (Chuẩn bị chuyển thành Khu Trung tâm Hành chính - Thương mại Biên Hòa): 335 ha
  2. Khu công nghiệp Biên Hòa 2: 365 ha
  3. Khu công nghiệp Amata: 674 ha
  4. Khu công nghiệp Tam Phước: 323 ha
  5. Khu công nghiệp Loteco: 100 ha
  6. Khu công nghiệp Agtex Long Bình: 153 ha

Bên cạnh ngành công nghiệp hiện đại, hiện thành phố vẫn còn một vài cụm công nghiệp truyền thống, thủ công mĩ nghệ như:

  • Cụm công nghiệp Gốm sứ Tân Hạnh: 32ha
  • Cụm công nghiệp Dốc 47: 97ha
  • Cụm công nghiệp chế biến gỗ Tân Hòa: 39ha
  • Vùng thủ công mĩ nghệ đá Bửu Long
  • Vùng sản xuất gốm Tân Vạn, Bửu Long, Hiệp Hòa
  • Vùng sản xuất đồ gỗ và trang trí nội thất gồm Tân Hòa, Tân Biên

Thương mại, dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, hoạt động tài chính ngân hàng trên địa bàn thành phố rất sôi động. Thành phố hiện có 1 ngân hàng có trụ sở chính đặt thành phố là Ngân hàng TMCP Đại Á (68 Cách mạng tháng Tám, P. Quyết Thắng), nhưng hiện nay ngân hàng này đã sáp nhập với ngân hàng HD Bank, tuy vậy hệ thống chi nhánh và phòng giao dịch của HD Bank vẫn là nhiều nhất (Ngân hàng Đại Á cũ). Biên Hòa có hơn 40 hệ thống ngân hàng của các ngân hàng trong nước,ngân hàng 100% vốn nước ngoài,liên doanh,chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Với hơn 56 chi nhánh (CN), 92 phòng giao dịch (PGD), 168 quỹ tiết kiệm (QTK), trên 300 máy ATM.

Về Du lịch, hiện tại thành phố có nhiều điểm tham quan du lịch, giải trí khá hấp dẫn, tuy nhiên thành phố hiện chưa có đề án phát triển du lịch nên trong nhiều năm qua thành phố chưa thu hút được nhiều du khách.Có 1 số khu du lịch nổi tiếng như:

  • Khu du lịch Bửu Long
  • Khu du lịch Vườn Xoài
  • Khu du lịch Câu lạc bộ Xanh
  • Khu du lịch Sơn Tiên (Đang xây dựng)

Nông lâm ngư nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Biên Hòa có những hợp tác xã cung cấp rau xanh cho thị trường thành phố và lân cận. Còn về lâm nghiệp, hiện thành phố chỉ có một vài xã, phường vùng ven phát triển lâm nghiệp vì thế mà cơ câu kinh tế nông, lâm nghiệp chỉ chiếm chưa tới 0,5%. Về thủy sản, thành phố cũng còn một vài phường xã ven sông có bè cá.

Do tốc độ đô thị hóa cao, nên hiện thành phố hầu như không còn trồng cây lương thực (lúa, bắp, khoai mì). Và do vấn đề về môi trường nên thành phố hầu như đã cấm chăn nuôi gia súc trên toàn địa bàn thành phố.

Giao thông:[sửa | sửa mã nguồn]

Biên Hòa là đầu mối giao thông quan trọng của quốc gia và là nơi có những con đường lớn

Đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Biên Hòa có hệ thống đường bộ với nhiều con đường huyết mạch của Đồng Nai và cả nước như: quốc lộ 1A (Xa lộ Hà Nội), Quốc lộ 1 tránh Biên Hòa (Võ Nguyên Giáp), quốc lộ 1K (Nguyễn Ái Quốc), quốc lộ 15 (Phạm Văn Thuận), quốc lộ 51, tỉnh lộ 768 (Huỳnh Văn Nghệ), Tỉnh lộ 16 (Bùi Hữu Nghĩa),...

Khi Chính phủ quy hoạch vùng thành phố Hồ Chí Minh, đã có nhiều câu hỏi đặt ra cho sự phát triển thật sự của Biên Hòa cũng như tỉnh Đồng Nai về hạ tầng giao thông do việc hình thành đô thị của Thành phố quá sớm (Thành phố được quy hoạch từ thời pháp thuộc với quy mô dân số khoảng 200.000-300.000 người, tuy nhiên dân số Biên Hòa đã đạt ngưỡng 1 triệu người). Chính vì vậy, xác định được tầm quan trọng của giao thông Biên Hòa trong vai trò kinh tế cả nước. Đồng Nai bắt đầu quan tâm nhiều hơn các dự án giao thông tầm cỡ và đồng thời phát triển giao thông nội bộ từ đô thị về đến nông thôn và đặc biệt là Thành phố Biên Hòa. Vì vậy mà Thành phố trong nhiều năm qua đã có rất nhiều dự án giao thông lớn và quan trọng phục vụ cho sự phát triển quá nhanh của thành phố Biên Hòa. Cụ thể,

Các dự án đang được đầu tư và xây dựng như:

  • Cao Tốc Biên Hòa-Vũng Tàu (kết nối Biên Hòa với Sân bay Long Thành và Thành phố Vũng Tàu; giảm tải cho QL51 sẽ mãn tải vào năm 2020)
  • Đường Hương Lộ 2 (kết nối Ngã 4 Vũng Tàu và trung tâm thành phố với Đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây),
  • Tuyến đường Chống ùn tắc QL1A đoạn qua phường Tân Hòa
  • Tuyến đường nối 3 quốc lộ huyết mạch (QL1A, QL1K & QL51)
  • Hầm chui ngã tư Tân Phong
  • Nút giao thông ngã tư Kẻ Sặc - Bệnh viện Thống Nhất, Ngã tư Phát triển, Ngã tư Bồn Nước
  • Nâng cấp mở rộng đường Phạm Văn Thuận, Bùi Văn Hòa
  • Nâng cấp cải tạo xây dựng mới các tuyến đường trong trung tâm thành phố
  • Các cầu bắc qua Cù lao Phố (cù lao Hiệp Hòa): cầu An Hảo, cầu Thống Nhất, cầu An Bình,..;
  • Bờ kè & đường ven sông Đồng Nai - đường Trần Phú

Các dự án đã hoàn thành như:

  • Cầu Hóa An mới
  • Đường Quốc lộ 1A tuyến tránh thành phố Biên Hòa (Võ Nguyên Giáp)
  • Cầu vượt và hầm chui ngã Tư Vũng Tàu (riêng hầm chui đang thi công)
  • Hầm chui ngã Tư Tam Hiệp
  • Cầu vượt ngã Tư Amata,
  • Cầu vượt Ngã tư Cầu Mới
  • Cầu vượt Ngã tư vòng xoay Hóa An
  • Cầu vượt nút giao Tân Vạn
  • Đường chui dạ cầu Đồng Nai

Hiện tại, Biên Hòa những cây cầu đã hoàn thành việc xây mới và cải tạo như:

Cầu Đồng Nai mới, cầu Đồng Nai cũ, Cầu Hóa An mới, cầu Hóa An cũ, cầu Bửu Hòa, cầu Hiệp Hòa và hiện đang tiếp tục đầu tư mới và cải tạo các cầu: cầu An Hảo (xây mới, cửa ngõ vào Thành phố), cầu Thống Nhất (xây mới, kết nối trung tâm Hành chính chính trị Thành phố với Cù lao Hiệp Hòa), cầu Suối Linh (quốc lộ 1A), 5 cây cầu trong dự án đường Trần Phú,...

Các tuyến đường có ý nghĩa lớn, liên kết thành phố Biên Hòa với các địa phương khác:

  • Quốc lộ 1A (Xa lộ Hà Nội) xuyên qua thành phố và huyết mạch của cả nước - kết nối phía Đông và phía Tây thành phố với trung tâm thành phố.
  • Quốc lộ 1K (đường Nguyễn Ái Quốc) là tuyến đường xuyên tâm của thành phố và là tuyến đường dài và rộng nhất của thành phố - kết nối phía Đông và phía Tây với trung tâm thành phố.
  • Quốc lộ 51 là tuyến đường nối thành phố công nghiệp Biên Hòa với thành phố biển du lịch Vũng Tàu - kết nối trung tâm thành phố với phía Nam thành phố.
  • Quốc lộ 15 (đường Phạm Văn Thuận và đường Bùi Văn Hòa) nối trung tâm thành phố Biên Hòa với Quốc lộ 1A và Quốc lộ 51.(Điểm đầu tại Ngã ba Vườn Mít- Điểm giữa tại Ngã tư Tam Hiệp- Điểm cuối tại Cổng 11)
  • ĐT768 (đường Huỳnh Văn Nghệ) là tuyến đường nối thành phố Biên Hòa với huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) - kết nối trung tâm thành phố Biên Hòa với phía Bắc thành phố.
  • Đường Đồng Khởi nối KCN Amata, Quốc lộ 1A vào thành phố.
  • Đường Võ Nguyên Giáp làm tuyến tránh cho Quốc lộ 1A. Điểm đầu tại phường Long Bình, điểm cuối xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom.
  • Đường Tỉnh lộ 16 (Bùi Hữu Nghĩa) nối từ quốc lộ 1A tại Thị xã Dĩ An (tỉnh Bình Dương) đến ranh giới Thị xã Tân Uyên (tỉnh Bình Dương).

Đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố có hệ thống đường sắt Thống Nhất chạy ngang qua thành phố với 2 ga chính là: ga Hố Nai, ga Biên Hòa. Với 2 cầu đường sắt là cầu Ghềnh và cầu Rạch Cát; hai cầu này được xây dựng từ thời Pháp Thuộc đến nay và hiện tại 2 cầu này chỉ lưu thông 1 chiều cho xe máy, hạn chế dần và có thể sẽ cấm xe qua cầu trong gian tới

Thành phố Biên Hòa đang thiết kế và xây dựng ga Biên Hòa mới tại xã An Hòa để kết nối vào dự án đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu.

Trong tương lai, thành phố Biên Hòa sẽ xây dựng Hệ thống đường sắt đô thị chạy trong thành phố cũng như liên kết với hệ thống đường sắt đô thị thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài dự án đường sắt đô thị, thành phố Biên Hòa hiện nay đang được đầu tư như: đường sắt cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu và hệ thống đường sắt kết nối hệ thống đường sắt Biên Hòa Vũng Tàu với đường sắt Thống Nhất.

Đường hàng không[sửa | sửa mã nguồn]

Sân Bay Biên Hòa là một trong những sân bay quân sự lớn nhất nước. Cách Thành phố Hồ Chí Minh 30 km. Sân bay Biên Hòa đã từng là căn cứ không quân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Không lực Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, sân bay Biên Hòa được Không quân Nhân dân Việt Nam tiếp quản sử dụng quân sự. Đơn vị đóng quân: Trung đoàn không quân tiêm kích 935 (Đoàn Biên Hòa) thuộc sư đoàn 370 Biên chế trang bị sẵn sàng chiến đấu: Su 30 MK2V (đóng vai trò chủ lực), một số cường kích A37, tiêm kích F5.

Đường thủy[sửa | sửa mã nguồn]

Với hệ thống sông Đồng Nai chảy qua và hệ thống kênh rạch lớn ăn sâu vào đất liền nên hoạt đường thủy tại đây cũng khá thuận tiện. Hệ thống cảng Đồng Nai là hệ thống cảng nội địa lớn nhất trên lưu vực sông Đồng Nai.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Do vị trí gần thành phố Hồ Chí Minh - trung tâm giáo dục của cả nước nên vì vậy mà thành phố Biên Hòa khá ít trường đại học và thêm nữa là trung tâm hành chính, chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo dục của tỉnh Đồng Nai nên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp của Đồng Nai hầu như đều nằm ở Biên Hòa. Ngược Lại, thành phố Biên Hòa có rất nhiều trường THPT, THCS, TH nổi bật, chất lượng cao và phân bố rất nhiều khu vực trong thành phố và cho nhu cầu dân số quá tải của thành phố Biên Hòa. Tuy nhiên hiện nay do dân số tăng đột biến nên những năm gần đây có một số trường tiểu học phải học ca 3, đây là vấn đề nan giải của ngành giáo dục Biên Hòa. Dân số như hiện nay đang là thách thức không chỉ của ngành giáo dục mà còn là vấn đề cho các ban ngành và Ủy ban Nhân dân Thành phố.

Thành phố ngày càng phát triển đã sinh ra nhiều Hệ thống trường dân lập liên cấp theo tiêu chuẩn chất lượng đào tạo tương đương các trường công lập và theo chuẩn quốc tế để đáp ứng cho nhu cầu học tập cho học sinh trên địa bàn thành phố Biên Hòa.

  • Trường TH-THCS-THPT Lê Quý Đôn
  • Trường TH-THCS-THPT Bùi Thị Xuân
  • Trường TH-THCS-THPT Nguyễn Khuyến
  • Trường TH-THCS-THPT Đinh Tiên Hoàng
  • Trường TH-THCS-THPT Song Ngữ Lạc Hồng
  • Trường TH-THCS-THPT Quốc tế IPS Đồng Nai

Hiện thành phố có trường Đại học:

  • Đại học Đồng Nai
  • Đại học Lạc Hồng
  • Đại học Công nghệ Đồng Nai
  • Đại học Nguyễn Huệ
  • Đại học Mở TP.HCM (Cơ sở Biên Hòa)
  • Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM (Cơ sở Biên Hòa)

Ngoài ra thành phố có các trường Cao đẳng lớn:

  • Cao đẳng nghề Đồng Nai
  • Cao đẳng Y tế Đồng Nai (Đề án nâng cấp lên Đại học Y dược Đồng Nai)
  • Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai (Đề án nâng cấp lên Đại học Mỹ thuật Đồng Nai)
  • Cao đẳng Công nghệ và quản trị Sonadezi (Đề án nâng cấp lên Đại học Sonadezi)
  • Cao đẳng nghề Số 8

Y tế:[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay thành phố có 30 trạm y tế của 30 phường xã được xây dựng và trang bị hiện đại phục vụ nhân dân tại các phường xã trong thành phố và Trung tâm y tế Thành phố Biên Hòa với hơn 8000 giường bệnh.

Bên cạnh đó, một số Bệnh viện lớn của nhà nước đã hình thành và phát triển:

  • Đa Khoa Đồng Nai (tầm cỡ Đông Nam Á): 1400 giường
  • Đa Khoa Thống Nhất: 1000 giường
  • Nhi Đồng Đồng Nai: 800 giường
  • Đa Khoa Biên Hòa: 100 giường
  • Y Dược Cổ Truyền Đồng Nai: 150 giường
  • Da Liễu Đồng Nai: 100 giường
  • Phổi Đồng Nai: 150 giường
  • Đa Khoa 7B: 600 giường
  • Tâm thần Trung ương 2: 1200 giường

Ngoài ra, một số Bệnh viện ngoài công lập đã hình thành và phát triển:

  • Quốc tế Hoàn Mỹ Đồng Nai: 400 giường
  • Quốc tế Chấn Thương Chỉnh Hình Itô Sài Gòn-Đồng Nai: 160 giường
  • Đa Khoa Tâm Hồng Phước: 120 giường
  • Phụ sản Âu Cơ Biên Hòa: 80 giường
  • Phụ sản Nhi Đa Khoa Sài Gòn-Đồng Nai:
  • Chuyên Khoa Răng Hàm Mặt Việt Anh Đức: 21 giường
  • Đa Khoa SingMark (đang xây dựng): 1500 giường
  • Đa Khoa Lê Quý Đôn (đang xây dựng): 500 giường

Các phòng khám đa khoa có mặt trên toàn địa bàn.

  • Hoàng Anh Đức
  • Tâm An

Du lịch, thắng cảnh, văn hóa, lễ hội, truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa, lễ hội, truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thống văn hóa tín ngưỡng của thành phố 1 triệu dân đã có từ lâu và cụ thể hiện nay thành phố có đến cả trăm ngôi chùa lớn nhỏ, nhà thờ, giáo xứ, lâu đời được người dân đến rất đông. Nhiều ngôi chùa và giáo xứ lớn tại đây như:

  • Chùa Long Thiền (xây dựng năm 1664) - P. Bửu Hòa
  • Chùa Đại Giác (xây dựng năm 1665) - X. Hiệp Hòa
  • Chùa Bửu Phong (xây dựng năm 1679) - P. Bửu Long
  • Chùa Ông (xây dựng năm 1684) - X. Hiệp Hòa
  • Chùa Long Ẩn (xây dựng năm 1675) - P. Bửu Long
  • Nhà thờ - Giáo xứ Tân Mai - P. Tân Mai
  • Nhà thờ - Giáo xứ Biên Hòa - P.Quyết Thắng
  • Nhà thờ - Giáo xứ Kẻ Sặt - P.Hố Nai
  • Nhà thờ - Giáo xứ Phúc Hải - P.Tân Phong
  • Nhà thờ - Giáo xứ Ngọc Đồng - Tân Hoà

Do việc hình thành sớm nên thành phố Biên Hòa đến ngày nay vẫn còn giữ gìn một số nét văn hóa truyền thống tại các Đình làng xưa của thành phố. Các nghi thức cúng bái cũng vẫn được giữ nguyên và thành phố vẫn tiếp tục duy trì các lễ cúng thành hoàng của các làng xã để tránh bị mai một nét văn hóa truyền thống của nhân dân Biên Hòa.

Các lễ hội văn hóa của thành phố như:

  • Lễ Bắn Pháo Hoa Giao Thừa hàng năm tại Văn Miếu Trấn Biên, trung tậm hội nghị và tổ chức sự kiện Đồng Nai hoặc cầu mới
  • Lễ hội Đua thuyền rồng vào đêm Mùng 4 tết ÂL trên sông Đồng Nai đoạn trước Đình Tân Lân.
  • Lễ hội chùa Ông.
  • Lễ hội Đền Hùng Biên Hòa vào Mùng 10 tháng 3 ÂL hàng năm tại Đền Hùng - Biên Hòa (P. Bình Đa).
  • Lễ hội Kỳ Yên, Nghinh đón Đức Ông Trần Thượng Xuyên vào Mùng 23 tháng 10 ÂL tại Đình Tân Lân.
  • Các lễ rước, sắc phong thành hoàng các làng xã của thành phố Biên Hòa vào các ngày trong năm.
  • Lễ Giáng Sinh (Noel) ở các xứ đạo

Định hướng[sửa | sửa mã nguồn]

Với những định hướng, tiềm năng và sự phát triển về kinh tế, Đồng Nai đang định hướng để nâng cấp thành phố Biên Hòa và xây dựng những đô thị vệ tinh phát triển xung quanh thành phố này ở các huyện lân cận như Trảng BomLong Thành, Vĩnh Cửu, Nhơn Trạch. Hiện nay, thành phố này là một trong những thành phố đông dân, hiện đại và phát triển nhất cả nước.

Trong tương lai thành phố Biên Hòa sẽ là một đô thị vệ tinh độc lập trực thuộc trung ương trong vùng đô thị thành phố Hồ Chí Minh.Trong thời gian tới, thành phố tiếp tục thực hiện các dự án khu dân cư tại các phường, xã (Bửu Long, Quang Vinh, An Bình, Long Bình, Long Bình Tân, Trảng Dài, Tân Phong, Hóa An, Tam Phước, An Hòa); phát triển và cải tạo cảnh quan, khuyến khích phát triển xã Hiệp Hòa (Cù lao Phố); phát triển hệ thống đường sá nối thành phố Biên Hòa với cù lao Hiệp Hòa; tập trung phát triển Công nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng nông - lâm nghiệp; hoàn thiện về mặt kiến trúc và cảnh quan đô thị. Nhanh chóng đầu tư, cải tạo và xây dựng khu công nghiệp Biên Hòa I thành khu Trung tâm hành chính - thương mại Biên Hòa. Mặc dù đã đạt mục tiêu đô thị loại I với nhiều dự án chỉnh trang đô thị, cơ sở hạ tầng xã hội, tuy nhiên theo lãnh đạo Ủy ban Nhân dân Thành phố Biên Hòa thì việc mức sống của người chưa được cao thì việc trở thành đô thị loại I sẽ không có ý nghĩa.[15]

Tỉnh, Thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Nghị quyết số 05/NQ-CP của Chính phủ: V/v điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Thành để mở rộng địa giới hành chính thành phố Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai” (Thông cáo báo chí). Nguyễn Tấn Dũng. 27/10/2015. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2012.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  2. ^ “Biên Hòa chính thức trở thành đô thị loại I”. Báo Đồng Nai điện tử. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2016. 
  3. ^ “Nghị quyết số 05/NQ-CP của Chính phủ”. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2013. 
  4. ^ Vẻ đẹp mộc mạc Việt Nam 200 năm trước
  5. ^ Quyết định 272-CP năm 1978 về việc sáp nhập xã Hố Nai 1 và xã Hố Nai 2 của huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai vào thành phố Biên Hòa cùng tỉnh
  6. ^ Quyết định 12-HĐBT năm 1984 phân vạch địa giới một số xã, thị trấn, phường của tỉnh Đồng Nai
  7. ^ Quyết định 180-HĐBT năm 1984 về việc thành lập phường Bửu Hòa trên cơ sở xã Bửu Hòa thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
  8. ^ Quyết định 103-HĐBT năm 1988 về việc phân vạch địa giới hành chính phường Tam Hòa của thành phố Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai
  9. ^ Quyết định 219-TTg năm 1993 về việc công nhận thành phố Biên Hoà là đô thị loại 2 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
  10. ^ Nghị quyết 05/NQ-CP năm 2010 điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Thành để mở rộng địa giới hành chính thành phố Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai
  11. ^ Nghị quyết 115/NQ-CP năm 2014 thành lập phường Hóa An thuộc thành phố Biên Hòa, thị trấn Hiệp Phước thuộc huyện Nhơn Trạch và thị trấn Long Giao thuộc huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai
  12. ^ Quyết định số 2488/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Về việc công nhận thành phố Biên Hòa là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đồng Nai
  13. ^ “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  14. ^ 4 tháng 1 năm 2013.2171417158/mlfolder.ngày 1 tháng 11 năm 2013.3813962953/mlnews.ngày 21 tháng 11 năm 2013.2704336110 Chào mừng Hội nghị hiệp hội các đô thị Việt Nam diễn ra tại thành phố Biên Hòa
  15. ^ “Quyền Chủ tịch UBND TP. Biên Hòa Trịnh Tuấn Liêm: Chất lượng cuộc sống mới là quan trọng”. Báo Đồng Nai. Truy cập 22 tháng 6 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]