Bà Rịa (tỉnh)
Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. |
| Bà Rịa | |
|---|---|
| Tỉnh | |
Bản đồ hạt Bà Rịa năm 1881 | |
Bản đồ tỉnh Bà Rịa năm 1890 | |
| Vị trí | Việt Nam Cộng hòa |
| Thành lập | 1/1/1900 |
| Giải thể | 24/2/1976[1] |
Bà Rịa là một tỉnh cũ của Nam Kỳ thuộc Pháp (nay là một phần của Thành phố Hồ Chí Minh).
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Vùng đất Bà Rịa được người Việt Nam khai phá từ thế kỷ 17, lúc đầu Bà Rịa thuộc dinh Trấn Biên, tỉnh Gia Định.[2]
Năm 1622, theo thoả ước của chúa Nguyễn Phúc Nguyên với vua Chân Lạp Chey Chetta II, những nhóm cư dân Việt đầu tiên được phép khai phá xứ Mô Xoài. Tên Bà Lỵ là cách người Việt viết âm tiếng Hán của Bà Rịa. Một cách giải thích khác: vào khoảng năm 1789 có một người đàn bà tục gọi là Bà Rịa người Bình Định đưa dân nghèo vào khai hoang ở Tam Phước (tên gọi ngày nay). Nhờ uy tín và tài năng tổ chức, bà động viên được mọi người ra sức khẩn hoang, xây dựng cuộc sống trên vùng đất mới. Về già, Bà Rịa đem hết tài sản của mình làm việc công ích, lập quỹ cứu tế để trợ giúp ngời nghèo, rước thầy về dạy học cho trẻ,... Bà qua đời năm 1803, được dân lập dền thờ như một vị phúc thần. Tên của bà đã trở thành tên của vùng đất này.[3]
Tuy nhiên, cách xác định, được biết đến và tin cậy rộng rãi nhất về vùng đất này đó là bà Nguyễn Thị Rịa (1665–1759) đã dẫn dắt người dân khai khẩn vùng Đàng Trong, ảnh hưởng tới tên gọi của Bà Rịa dưới quy chế, xác nhận của người Pháp thời Pháp thuộc cho đến ngày nay.[4]
Năm 1808, vua Gia Long đổi Trấn Biên thành Biên Hòa. Tên Bà Rịa có hai cách giải thích: theo các cuốn Gia Định thành thống chí'", Đại Nam nhất thống chí và một số bộ sử khác thì Bà Rịa vốn là đất của tiểu vương Bà Rịa (bị Chân Lạp thôn tính).
Năm 1862, huyện Phước An đổi thành hạt Thanh tra Bà Rịa.[5]
Năm 1869, đổi hạt thanh tra Bà Rịa thành khu tham biện Bà Rịa.[6]
Năm 1882, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh thành lập quận Côn Đảo trực thuộc Nam Kỳ.[7]
Năm 1895, thành lập thành phố Vũng Tàu từ hạt tham biện Bà Rịa.[8]
Năm 1897, tỉnh Bà Rịa được chia thành 7 tổng:
| Đơn vị hành chính tỉnh Bà Rịa | ||
|---|---|---|
| STT | Tổng | Làng |
| 1 | An Phú Hạ | 13 làng: Long Hiệp, Long Hương, Long Kiên, Long Lập, Long Nhung, Long Xuyên, Mỹ Xuân, Núi Nứa, Phước Hòa, Phước Hữu, Phước Lễ, Phú Thạnh, Thạnh An |
| 2 | An Phú Thượng | 7 làng: An Ngãi, An Nhứt, Hắc Lăng, Long Điền, Long Hải, Long Thạnh, Phước Tỉnh |
| 3 | An Trạch | 7 làng: Bằng La, Cù Bị, Cụ Khánh, Hắc Dịch, La Vân, La Sơn, Phước Chí |
| 4 | Long Cơ | 6 làng: Bình Ba, Bình Giã, Điền Giả, Ngãi Giao, Quảng Giao, Trịnh Ba |
| 5 | Long Xương | 7 làng: Anh Mao, Cù Mỹ, Hương Sa, Lâm Xuân, Thanh Hóa, Xuân Khai, Xuân Sơn |
| 6 | Phước Hưng Hạ | 12 làng: Gia Thạnh, Hiệp Hòa, Hưng Hòa, Long Hưng, Long Thới, Phước Hữu, Phước Hạp, Phước Lợi, Phước Thọ, Phước Tuy, Thạnh Mỹ, Xuyên Mộc |
| 7 | Phước Hưng Thượng | 8 làng: An Thới, Hội Mỹ, Lộc An, Long Mỹ, Phước Hải, Phước Hưng, Phước Liễu, Phước Trinh |
Ngày 20 tháng 12 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định về việc đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 đổi hạt tham biện Bà Rịa thành tỉnh Bà Rịa.
Tỉnh Bà Rịa có 8 tổng với 64 làng (sau tăng lên thành 10 tổng).[9]
Năm 1939, tỉnh Bà Rịa có 1 quận Long Điền với 8 tổng:
| Đơn vị hành chính quận Long Điền, tỉnh Bà Rịa | ||
|---|---|---|
| STT | Tổng | Làng |
| 1 | An Phú Hạ | 5 làng: Long Phước, Long Kiển, Long Tân, Long Xuyên, Phước Lễ |
| 2 | An Phú Tân | 6 làng: Hội Bài, Long Hương, Núi Nứa, Phú Mỹ, Phước Hòa, Thạnh An |
| 3 | An Phú Thượng | 6 làng: An Ngãi, An Nhứt, Hắc Lăng, Long Điền, Long Thạnh, Phước Tĩnh |
| 4 | Cơ Trạch | 15 làng: Bằng La, Bình Ba, Bình Giã, Cù Bị, Cù Khanh, Cù Mi, Điền Dã, Hắc Dịch, La Sơn, La Văn, Lâm Xuân, Phước Chí, Ngãi Giao, Quảng Giao, Xuân Sơn |
| 5 | Nhơn Xương | 5 làng: Hưng Nhơn, Nhu Lâm, Thanh Toa, Thừa Tích, Trịnh Ba |
| 6 | Phước Hưng Hạ | 6 làng: Phước Bửu, Phước Thọ, Phước Tuy, Thạnh Mỹ, Xuân Khai, Xuyên Mộc |
| 7 | Phước Hưng Thượng | 5 làng: Hội Mỹ, Long Mỹ, Lộc An, Phước Hải, Tam Phước |
| 8 | Phước Hưng Trung | 5 làng: Gia Thạnh, Long Hòa, Phước Hiệp, Phước Lợi, Thới Hòa |
Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã nhiều lần tách nhập tỉnh Biên Hòa với các tỉnh Thủ Dầu Một, Bà Rịa – Long Khánh, với các tên gọi: Biên Hòa, Long Khánh, Thủ Biên, Bà Biên, Bà Rịa – Long Khánh, U1 (một đơn vị chiến trường ngang cấp tỉnh được thành lập tháng 9 năm 1965, gồm thị xã Biên Hòa và huyện Vĩnh Cửu).
Từ tháng 5 năm 1951 đến cuối năm 1954 chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sáp nhập tỉnh Biên Hòa với tỉnh Thủ Dầu Một thành tỉnh Thủ Biên (trừ huyện Long Thành thuộc tỉnh Bà Rịa – Chợ Lớn).
Ngày 27 tháng 6 năm 1951, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ (thuộc chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) hợp nhất tỉnh Bà Rịa và tỉnh Chợ Lớn thành tỉnh Bà Rịa – Chợ Lớn (có khi gọi tắt là tỉnh Bà Chợ). Tỉnh Bà Rịa – Chợ Lớn thuộc Phân liên khu Miền Đông, Liên khu Nam Bộ.
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 143-NV[10] về việc thành lập tỉnh Phước Tuy trên cơ sở tỉnh Bà Rịa và Vũng Tàu.
Từ tháng 3 năm 1963 đến tháng 12 năm 1963 và từ tháng 11 năm 1966 đến tháng 10 năm 1967, chính quyền Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hợp nhất tỉnh Biên Hòa và tỉnh Bà Rịa thành tỉnh Bà Biên.
Năm 1971, chiến trường được bố trí lại thành phân khu Bà Rịa và phân khu Thủ Biên.
Tháng 10 năm 1972, thực hiện chỉ thị của Trung ương Cục miền Nam, các phân khu bị giải thể, tỉnh Bà Rịa – Long Khánh và tỉnh Biên Hòa được lập lại.
Ngày 6 tháng 9 năm 1973, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm ban hành Nghị định số 420-BNV/HCĐP/26 về việc sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Thái Bình (nguyên văn), Song Tử Đông, Song Tử Tây, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Ai (nguyên văn), Sinh Tồn và các đảo phụ cận vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 245-NQ/TW[11] về việc:
- Hợp nhất tỉnh Bà Rịa; tỉnh Biên Hòa; tỉnh Bình Tuy; tỉnh Long Khánh; huyện Định Quán của tỉnh Tân Phú và 2 huyện Dĩ An, Tân Uyên của tỉnh Thủ Dầu Một thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh tỉnh Bình Long, tỉnh Phước Long, tỉnh Tây Ninh, tỉnh Thủ Dầu Một (trừ 2 huyện Dĩ An, Tân Uyên); huyện Củ Chi của Thành phố Hồ Chí Minh và huyện Độc Lập của tỉnh Tân Phú thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất quận Củ Chi của tỉnh Hậu Nghĩa và quận Phú Hòa của tỉnh Thủ Dầu Một thành huyện Củ Chi và sáp nhập vào Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 19/NQ[12] về việc:
- Hợp nhất tỉnh Bà Rịa (kể cả thành phố Vũng Tàu), tỉnh Biên Hòa (trừ 2 huyện Phú Giáo, Tân Uyên của tỉnh Thủ Dầu Một), tỉnh Long Khánh thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh Bình Phước, tỉnh Thủ Dầu Một (bao gồm các huyện Dĩ An, Phú Giáo, Tân Uyên) thành một tỉnh mới, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
Ngày 24 tháng 2 năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Nghị định số 3/NQ/1976[1] về việc:
- Hợp nhất tỉnh Bà Rịa, tỉnh Biên Hòa, tỉnh Long Khánh và thành phố Biên Hòa thành một tỉnh, lấy tên là tỉnh Đồng Nai.
- Hợp nhất tỉnh Bình Phước và tỉnh Thủ Dầu Một thành tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Sông Bé.
Ngày 15 tháng 1 năm 1977, Quốc hội ban hành Nghị quyết[13] về việc chuyển huyện Côn Đảo của Thành phố Hồ Chí Minh về tỉnh Hậu Giang quản lý.
Ngày 30 tháng 5 năm 1979, Quốc hội ban hành Nghị quyết[14] về việc thành lập Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo trên cơ sở thị xã Vũng Tàu; xã Long Sơn thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai và huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Hậu Giang.
Ngày 10 tháng 12 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 438-CP[15] về việc đổi tên huyện Côn Đảo thành quận Côn Đảo trực thuộc Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Quốc hội ban hành Nghị quyết[16] về việc thành lập tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trên cơ sở đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo và 3 huyện: Long Đất, Châu Thành, Xuyên Mộc của tỉnh Đồng Nai.
Trong quá trình tồn tại của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã nhiều được tách ra rồi lại nhập vào. Hiện nay, địa danh Bà Rịa chỉ còn được dùng để chỉ thành phố Bà Rịa, đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và là tỉnh lỵ của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Tỉnh (Việt Nam Cộng hòa)
- Tỉnh Biên Hòa
- Tỉnh Chợ Lớn
- Tỉnh Phước Tuy
- Tỉnh Thủ Biên
- Tỉnh Thủ Dầu Một
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b "Nghị định số 3/NQ/1976 về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam". Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. ngày 24 tháng 2 năm 1976. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ^ Th.sĩ Phan Thanh Bình (ngày 3 tháng 7 năm 2012). "Nguyễn Thị Rịa – Người khai phá xứ Đàng Trong thế kỷ XVII". Lịch sử Nam Bộ. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2024.
- ^ Thông tin Khoa học Công nghệ Bà Rịa – Vũng Tàu số 4-1998 (ngày 21 tháng 9 năm 2012). "Truyền thuyết Bà Rịa và địa danh Bà Rịa". Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết) - ^ Sơn Khê (ngày 10 tháng 4 năm 2020). "Bà Rịa – Người có công khai hoang mở đất, lập làng". Báo Bà Rịa Vũng Tàu. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020.
- ^ Bulletin officiel de l'Expédition de Cochinchine 1861 và 1862. Chánh tham biện Bà Rịa ban đầu là Maucher. Tháng 7/1862, Coquet thay ông này làm chánh tham biện mới. Khoảng năm 1864 thì Bicheret lên thay.
- ^ Theo Bulletin officiel de l'Expédition de Cochinchine 1869, các chánh tham biện tỉnh Bà Rịa vào năm 1869 gồm Benoist, Rheinart và Gay de Taradel. Mỗi người làm vài tháng là bị đổi đi. Đầu năm 1869, Pháp cử hai thanh tra quản lý cùng lúc Bà Rịa là Benoist và De Taradel, ít lâu sau Rheinart thay thế Benoist. Khoảng tháng 4/1869, Pháp chuyển Rheinart đi Lào và De Taradel thay thế. Tháng 8/1870, Verschneider ra thay thế De Taradel.
- ^ "Huyện Côn Đảo". Cổng thông tin điện tử tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2024.
- ^ Linh Hương (ngày 8 tháng 3 năm 2020). "Địa danh Vũng Tàu qua các thời kỳ". Báo Bà Rịa – Vũng Tàu. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2024.
- ^ Chủ tỉnh đầu tiên là Charrin. Annuaire general de l'Indochine, 1901.
- ^ Sắc lệnh số 143-NV về việc để thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam. Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Việt Nam Cộng hòa gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh.
- ^ "Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh". ngày 20 tháng 9 năm 1975. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Nghị quyết số 19/NQ về việc điều chỉnh việc hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam". Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. ngày 20 tháng 12 năm 1975. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ^ "Nghị quyết về việc phê chuẩn việc sáp nhập huyện Côn Đảo vào tỉnh Hậu Giang". Hệ thống pháp luật. ngày 15 tháng 1 năm 1977.
- ^ "Nghị quyết về việc thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo trực thuộc Trung ương". Hệ thống pháp luật. ngày 30 tháng 3 năm 1979.
- ^ "Quyết định số 438-CP năm 1979 về việc tổ chức các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước của đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo". Caselaw Việt Nam. ngày 10 tháng 12 năm 1979.
- ^ "Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương". Hệ thống pháp luật. ngày 12 tháng 8 năm 1991.

