Long Khánh (tỉnh)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bản đồ hành chính năm 1967 cho biết địa giới tỉnh Long Khánh của Việt Nam Cộng Hòa.

Long Khánh là một tỉnh cũ thuộc Đông Nam Bộ Việt Nam thời Việt Nam Cộng hòa, được lập theo Sắc lệnh 143-NV ngày 22 tháng 10 năm 1956 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, do tách từ Biên Hòa. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tỉnh Long Khánh giải thể, nhập với 2 tỉnh Biên Hòa và Phước Tuy thành tỉnh Đồng Nai mới (tuy nhiên, đến năm 1991, địa bàn tỉnh Phước Tuy cũ lại được tách ra để thành lập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).

Hiện nay, địa danh "Long Khánh" chỉ còn được dùng để chỉ thị xã Long Khánh, đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc tỉnh Đồng Nai.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Long Khánh phía bắc giáp tỉnh Phước Long, đông bắc giáp Lâm Đồng, đông giáp tỉnh Bình Tuy, nam giáp Phước Tuy, phía tây giáp hai tỉnh Biên HòaBình Dương. Diện tích 3.457 kilômét vuông. Tỉnh lỵ đặt tại Xuân Lộc.

Theo Nghị định số 131-BNV/HC/NĐ của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng Hòa ngày 24 tháng 4 năm 1957 thì tỉnh Long Khánh có 2 quận, 3 tổng, 32 xã:

  • Quận Xuân Lộc, gồm 1 tổng: Bình Lâm Thượng. Quận lỵ: Xuân Lộc.
  • Quận Định Quán, gồm 2 tổng: Ta Lai, Bình Tuy. Quận lỵ: Định Quán.

Khi tỉnh Phước Thành được thành lập vào tháng 1 năm 1959, vùng Ta Lai tách khỏi Long Khánh để nhập vào Phước Thành. Tỉnh sắp xếp lại còn 2 quận, 2 tổng, 16 xã.

Ngày 28-4-1967, lập thêm quận Kiệm Tân tách ra từ quận Xuân Lộc với quận lỵ ở Dốc Mơ (xã Gia Tân).

Ngày 31-12-1974, tách xã Gia Ray ra khỏi quận Xuân Lộc để thành lập quận Bình Khánh.

Cuối năm 1974, tỉnh Long Khánh có 4 quận là: Xuân Lộc, Định Quán, Kiệm Tân, Bình Khánh.

Địa bàn tỉnh Long Khánh cũ hiện nay tương ứng với thành phố Long Khánh, các huyện Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Thống Nhất, Định Quán, Tân Phú và một phần các huyện Trảng Bom, Vĩnh Cửu cùng thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay.

Địa lý tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh có nhiều núirừng rậm, đất đỏ xám. Hầu hết là núi thấp có rừng bao phủ như: núi Chứa Chan (còn gọi là núi Gia Rai) lớn nhất, cao 838 mét; núi Cam Tiên cao 441 mét, núi Bé Bạc cao 319 mét, núi Đồng Bác cao 236 mét, núi Gia cao 225 mét, núi Tràn cao 209 mét, núi Hok cao 157 mét; dãy núi Mây Tào cao 716 mét nằm tại ngã ba ranh giới với Phước Tuy và Bình Tuy.

Sông chính của tỉnh là sông Đồng Nai, chảy dọc tỉnh theo hướng tây-nam. Các sông khác là sông La Ngà, sông Vong, sông Lục, sông Gia Ớt, suối Tâm Bung.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, với hai mùa: mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Tháng 12 thỉnh thoảng có sương lạnh.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc lộ 1, 20 và liên tỉnh lộ 2, 3 là những đường giao thông quan trọng, nối Long Khánh với các tỉnh khác. Sân bay đặt tại Bến Nôm.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số tỉnh Long Khánh 1967[1]
Quận Dân số
Định Quán 11.798
Kiệm Tân 44.963
Xuân Lộc 54.083
Tổng số 110.844

Dân cư đông nhất là người Kinh, còn lại là một số dân tộc gốc Khmer, Chàm và các sắc tộc Tày, Nùng, Thái, Dao, Mạ... Tôn giáo chính là đạo Phật, Thiên Chúa, thờ ông bà...

Vùng Gia Kiệm là nơi sinh sống của nhiều người Thiên chúa giáo miền Bắc di cư vào Nam năm 1954.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đất Long Khánh phù hợp với các loại cây công nghiệp như: cao su (trồng nhiều cao su nhất ở quận Xuân Lộc). Ngoài ra còn các loại hồ tiêu, cà phê, cây lấy dầu, thuốc lá và mía. Rừng Long Khánh còn cho các loại gỗ như trắc, cẩm lai, căm xe, bằng lăng, trẹ. Thú rừng có nai, sơn dương, gà rừng, chồn, nhím, chim câu, chim đậu ngược. Núi Chứa Chan có trên 2.000 giống cây khác nhau. Ngoài ra, người dân còn trồng các loại hoa màu phụ như đậu phọng, bắp, đậu xanh, đậu đỏ, chuối...

Khoáng sản của Long Khánh có nhiều hầm đá xanh, đá trắng được khai thác cho việc xây dựng đường sá và những hầm cát trắng làm thủy tinh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh. Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia, 1967.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]