Nguồn gốc các dân tộc Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sơ đồ về sự hình thành Chủng Nam Đảo và Chủng Nam Á
Địa bàn cư trú của các tổ tiên các Dân tộc Việt Nam

Dân tộc Việt Nam là một danh từ chung để chỉ các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam.

Nguồn gốc của các dân tộc ở Việt Nam chỉ mới được xác định cho một số dân tộc thiểu số mới hình thành hoặc di cư đến từ thời kỳ có sử, như H'Mông, Sán Dìu,... Đối với nhiều dân tộc, đặc biệt là nguồn gốc người Việt[a], thì còn ở mức giả thuyết. Các giả thuyết nguồn gốc các dân tộc được chia ra hai phái:

  • Giả thuyết bản địa cho rằng nguồn gốc chính từ người Việt bản địa, vốn là chủ nhân của các nền văn hóa thời kỳ đồ đá tại Việt Nam từ 7-20 Ka BP (Kilo annum before present, ngàn năm trước)[1].
  • Giả thuyết thiên di cho rằng nguồn gốc của các dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ Tây Tạng[2] hoặc Hoa Nam, di cư đến vào thời kỳ đồ đá muộn.

Quá trình hình thành các dân tộc Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình hình thành các dân tộc Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn:

  • Theo các nhà nhân chủng học, loài người được phân chia thành bốn đại chủng chính, đó là: Đại chủng Âu (Caucasoid; Europoid), Đại chủng Phi (Negroid), Đại chủng Á (Mongoloid), Đại chủng Úc (Australoid, hay còn gọi là Đại chủng Phương Nam). Vào khoảng 30 Ka BP, có một bộ phận thuộc Đại chủng Á sống ở tiểu lục địa Ấn Độ di cư về phía đông, tới vùng ngày nay là Đông Dương thì dừng lại. Tại đây, bộ phận của Đại chủng Á kết hợp với bộ phận của Đại chủng Úc bản địa và kết quả là sự ra đời của chủng Cổ Mã Lai (tiếng Pháp: Indonésien). Người Cổ Mã Lai có nước da ngăm đen, tóc quăn gợn sóng, tầm vóc thấp. Người Cổ Mã Lai từ vùng Đông Dương lan tỏa về hướng bắc tới sông Dương Tử; về phía tây tới Ấn Độ, về phía nam tới các đảo của Indonesia, về phía đông tới Philippines.
  • Cuối thời kỳ đồ đá mới, đầu thời kỳ đồ đồng (khoảng 5 Ka BP). Tại khu vực mà ngày nay là miền bắc Việt Nam, miền nam Trung Quốc (từ sông Dương Tử trở xuống), có sự chuyển biến do chủng Cổ Mã Lai tiếp xúc thường xuyên với Đại chủng Á từ phía bắc tràn xuống, sự chuyển biến này hình thành một chủng mới là chủng Nam Á (tiếng Pháp: austro-asiatique). Do hai lần hòa nhập với Đại chủng Á mà Chủng Nam Á có những nét đặc trưng nổi trội của Đại chủng Á hơn là những nét đặc trưng của Đại chủng Úc. Cũng chính vì thế Chủng Nam Á được liệt vào một trong những bộ phận của Đại chủng Á.
  • Thời kỳ sau đó, Chủng Nam Á được chia thành một loạt các dân tộc mà các cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt. Thực ra không có đến một trăm (bách) dân tộc nhưng quả thật đó là một cộng đồng dân cư rất đông đúc bao gồm: Điền Việt (cư trú tại Vân Nam, Trung Quốc), Sơn Việt, Dương Việt, Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt (cư trú tại Quảng Đông, Trung Quốc), Âu Việt (cư trú tại Quảng Tây, Trung Quốc và vùng Việt Bắc Việt Nam), Lạc Việt (vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam),... sinh sống từ vùng nam sông Dương Tử cho đến Bắc bộ (Việt Nam). Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng như: Môn-Khmer, Việt-Mường, Tày-Thái, Mèo-Dao,... Sau này quá trình chia tách này tiếp tục để hình thành nên các dân tộc và các ngôn ngữ như ngày nay. Trong khi đó, phía nam Việt Nam, dọc theo dải Trường Sơn vẫn là địa bàn cư trú của người Cổ Mã Lai. Theo thời gian họ chuyển biến thành Chủng Nam Đảo. Đó là tổ tiên của các dân tộc thuộc nhóm Chàm (xem hình vẽ).

Việc xác định về mặt địa lý có thể hình dung như sau:

  • Địa bàn cư trú của người Bách Việt là một tam giác mà đáy là sông Dương Tử, đỉnh là Bắc trung bộ, Việt Nam (xem hình, tam giác màu đỏ).
  • Địa bàn cư trú của người Bách Việt và Nam Đảo là một tam giác mà đáy là sông Dương Tử, đỉnh là đồng bằng sông Mê kông, Việt Nam (xem hình, tam giác màu vàng).
  • Địa bàn cư trú của hậu duệ người Cổ Mã Lai, mà ngày nay là phần lớn các cư dân Đông Nam Á là một vùng rất rộng kéo dài từ Ấn Độ đến Philippines theo chiều tây đông, và từ sông Dương Tử xuống đến Indonesia theo chiều bắc nam.

Các bằng chứng địa chất và khảo cổ học[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong các bằng chứng nổi bật nhất chứng minh các dân tộc Đông Nam Á[3], trong đó có Việt Nam, có chung một nguồn gốc là việc các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra rất nhiều điểm tương đồng về một nền văn hóa rất phát triển gọi là Văn hóa Hòa Bình (niên đại 14 - 12 Ka BP) ở rải rác các nơi ở Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan,... Các nghiên cứu đã rút ra kết luận rằng: (Các kết luận này sai to. Xem [4])

  • Có một nền văn minh Đông Nam Á cổ đại có mặt từ rất sớm, khoảng 15 Ka BP. Nơi đây, con người biết trồng cây, làm đồ gốm, đúc đồng sớm nhất trên thế giới. Các vật dụng được khai quật ở tây bắc Thái Lan, miền bắc Việt Nam, Malaysia, Philippines, bắc Úc cho thấy họ biết làm những vật đó trước Trung Đông, Ấn Độ, Trung Hoa mấy ngàn năm.
  • Nền văn minh Đông Nam Á không phải là hệ quả của việc du nhập từ các nền văn minh khác như Ấn Độ, Trung Hoa, Trung Đông mà ngược lại, văn minh từ Đông Nam Á lan tỏa đến các vùng khác như Trung Hoa 8 đến 9 Ka BP: Văn hóa Long Sơn (Lungsan) và Văn hóa Ngưỡng Thiều (Yangshao) đều là hệ quả của Văn hóa Hòa Bình.

Các dữ liệu mới chỉ tìm thấy cách đây vài chục năm như trên đã làm thay đổi cách suy nghĩ của các nhà khảo cổ học về sự tiến triển của các nền văn minh trên Trái Đất. Việc tìm thấy nền văn minh Đông Nam Á rất sớm đó có thể khẳng định các dân tộc ở vùng này là có liên hệ chủng tộc với nhau. Họ hoàn toàn không phải là hệ quả của các chủng tộc khác từ Trung Hoa tới.

Các bằng chứng nhân chủng học[sửa | sửa mã nguồn]

Các bằng chứng sinh học phân tử[sửa | sửa mã nguồn]

Những thành tựu về di truyền họcsinh học phân tử trong sinh học đã cung cấp phương tiện hàng đầu cho nghiên cứu tiến hóa của loài người[b], và tiến hóa của sinh giới nói chung. Theo dõi các biến dị trong bộ mã di truyền cho phép xác định sự tiến hóa và phát tán các nhóm người. Trong số đó thì nghiên cứu các vùng mã di truyền sau đây có ứng dụng đặc biệt:

  • Vùng không tái tổ hợp trên nhiễm sắc thể Y (NRY): Các mã di truyền chỉ truyền theo dòng đực, nhờ đó truy tìm được phả hệ theo bố của cá thể đực. Nó dẫn đến kết luận về ông Adam nhiễm sắc thể Y, tổ phụ của tất cả nam giới hiện nay trên thế giới, sống vào cỡ 142 Ka BP tại châu Phi.[5]
  • ADN của ty thể, hay mtDNA, là các mã di truyền chỉ do mẹ truyền cho con, nhờ đó truy tìm được phả hệ theo mẹ của cá thể cái. Nó dẫn đến kết luận về bà Eve ti thể, tổ mẫu của tất cả phụ nữ hiện nay trên thế giới, sống vào cỡ 100-200 Ka BP tại châu Phi.[6]

Ngoài ra, các yếu tố như Nhóm kháng nguyên bạch cầu (HLA), Dấu chỉ bàn tay,... là biểu hiện của mã di truyền nhưng dễ đo dạc hơn, cũng được sử dụng.

Việc so sánh gien trong di cốt cổ với người hiện đại thì phục vụ truy tìm quan hệ tổ tiên và hậu duệ. Nếu thực hiện thì sẽ xác định được chủ nhân các nền văn hóa cổ, ví dụ ở bán đảo Đông Dương là ai, có liên tục đến nay hay không.

Các nghiên cứu còn thực hiện ở các động thực vật nuôi trồng mà họ mang theo, thậm chí cả vi khuẩn trong bao tử,... Những nghiên cứu này xác định Đông Nam Á là cái nôi thực hiện thuần hóa lúa châu Á Oryza sativa từ lúa hoang Oryza rufipogon từ 8-13 Ka BP.[c] Có tài liệu nói đến thuần hóa lợn[7] từ 9 Ka BP, nhưng nguồn dẫn chứng thiếu rõ ràng.

Kết quả nghiên cứu sinh học phân tử dẫn đến sự khẳng định thuyết một trung tâm "từ châu Phi" (Out-of-Africa) loài người hình thành và phát tán ra khắp thế giới theo nhiều đợt, thể hiện trên các trang wiki về "Human evolution". Nó làm đảo lộn nhiều giả thuyết trước đây vốn dựa trên thuyết đa vùng.

Liên quan đến vùng Đông Á thì nghiên cứu gien của J. Y. Chu và cộng sự (1998), cho ra nhiều ý nghĩa[8], thể hiện ở nhận xét "Phát sinh chủng loại học cũng cho rằng có nhiều khả năng tổ tiên của người hiện đang cư trú tại khu vực Đông Á đến từ Đông Nam Á". Các nghiên cứu sau này (2007) thì cho thấy "Sự phổ biến của nhóm đơn bội O1 Y-ADN trong số các sắc tộc Nam Đảo và Thái cũng gợi ý về nguồn gốc tổ tiên chung với các dân tộc Hán-Tạng, Nam Á và H'Mông-Miền vào khoảng 35 Ka BP tại Trung Quốc".[9]. Bằng chứng khảo cổ cho thấy người tiền sử đến nam Trung Quốc qua đường Vân Nam từ hơn 30 Ka BP.

Phân bố hiện nay của các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á, gợi ý hình dung quá trình đông tiến của proto-Austro-Asiatic từ Ấn Độ

Các nghiên cứu gien tốn kém nên tại Việt Nam ít được thực hiện. Một số được thực hiện với sự tài trợ của nước ngoài (Pháp), như nghiên cứu DNA của Vu - Trieu (1997)[10] hay nghiên cứu mtDNA của Ivanova (1999)[11] lại cho ra kết quả [d] bị phê phán, vì đã chọn số gien ít, không đặc trưng, và đặc biệt là lấy mẫu từ người Kinh ở Hà Nội, vốn có nguồn gien phức tạp, có sự tiếp nhận gien từ dòng người Hoa nhập Việt qua ngàn năm bắc thuộc và ngàn năm phong kiến sau đó. Đáng ra họ phải lên vùng núi mà lấy mẫu ở người Mường.

Dẫu vậy thì các nhà nghiên cứu vận dụng thành tựu chung của thế giới về thuyết Out-of-Africa, cho rằng sác xuất nguồn gốc người Việt từ phương bắc xuống là gần bằng 0. Nguồn gốc các dân tộc cần xác định ở dòng chảy chung của quá trình phát tán đông tiến của những người proto-Austro-Asiatic từ tiểu lục địa Ấn Độ bắt đầu vào cỡ 30-40 Ka BP, lúc xảy ra các chủng Indo-European xâm lấn. Trên đường phát tán chung thì một số thị tộc proto-Austro-Asiatic trụ lại đâu đó và tồn tại đến ngày nay ở phía đông Ấn Độ, như các chủng nói tiếng Munda, Khasi thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á. Bộ phận lớn thì chiếm lĩnh dải từ nam Myanmar, trung Thái Lan đến phía đông bán đảo Đông Dương, phát triển thành các dân tộc Môn-Khmer hiện nay.[12]

Các bằng chứng văn hóa dân gian[sửa | sửa mã nguồn]

Các truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thuyết "Con Rồng cháu Tiên" nói về nguồn gốc của dân tộc Việt.

  • Nguồn gốc dân tộc Việt bắt đầu từ họ Hồng Bàng. Vị vua đầu tiên là Kinh Dương Vương (vua nước Xích Quỷ) hiện còn có mộ tại làng An Lữ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông lên làm vua vào khoảng năm Nhâm Tuất (hơn 2000 năm TCN) sau đó lấy bà Long Nữ (con gái Thần Long là vua Hồ Động Đình), sinh hạ được Sùng Lãm (lấy hiệu là Lạc Long Quân). Ông lấy bà Âu Cơ (con gái Đế Lai) sinh ra 100 trứng, nở ra 100 người con. Một hôm nhà Vua bảo bà Âu Cơ: "Ta là giống Rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó". Bèn từ biệt, hai ông bà đồng ý chia hai số người con; năm mươi người con theo mẹ lên núi, số còn lại theo cha xuống biển. Sau đó, nước Xích Quỷ chia thành nhiều nước gọi là Bách Việt. Một trong các nước nhỏ này là nước Văn Lang. Lạc Long Quân về sau phong cho người con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng hiệu là Hùng Vương thứ 1, đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phúc hoặc Phú Thọ). Dòng dõi Hùng Vương lưu truyền được 18 đời, đến đời Hùng Vương thứ 18 thì bị nhà Thục lấy mất nước.
  • Trích Đại Việt Sử ký toàn thư khắc ở bia lăng Kinh Dương Vương như sau: Kinh Dương Vương tên huý là Lộc Tục, là bậc thánh trí có tư chất thông minh, tài đức hơn người, tinh thần đoan chính, sức khoẻ phi thường. Kinh Dương Vương hình thành nhà nước sơ khai đầu tiên vào năm Nhâm Tuất (2879 Tr.CN) đặt quốc hiệu là Xích Quỷ (tên một vì sao sắc đỏ rực rỡ, sáng nhất trong 28 vì sao của dải ngân hà) đóng đô ở Hồng Lĩnh (nay là Ngàn Hống, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh). Sau đó dời đô ra Ao Việt (Việt Trì). Bờ cõi đất nước được xác định. Phía Bắc giáp động Đình Hồ, phía Tây giáp Ba Thục (Trung Quốc), phía Nam giáp Hồ Tôn - Quảng Nam, phía Đông giáp biển Nam Hải. Kinh Dương Vương lấy thần Long sinh ra Lạc Long Quân (tên huý là Sùng Lãm). Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ sinh ra 100 con trai. Con cả là Hùng Quốc Vương (Hùng Đoàn) hiện đền thờ tại đền Hùng, Phú Thọ.
  • Cụm di tích lăng và đền thờ Kinh Dương Vương ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, Thuận Thành, Bắc Ninh là chốn linh thiêng bậc nhất được xếp vào loại miếu thờ đế vương các triều đại từ cổ xưa. Đây là nơi duy nhất ở Việt Nam còn nguyên dấu tích Thủy tổ người Việt là Kinh Dương Vương (cha của Lạc Long Quân, ông nội Vua Hùng). Phía trước phần mộ Kinh Dương Vương cổ có hai chữ Bất Vong, nghĩa là không bao giờ bị lưu lạc. Phía dưới hàngngang có năm chữ: "Ái Quốc Mạc Vong Tổ". Phía hậu lăng là bức Nam Tổ Miếu. Hai bên lăng có đôi câuđối ghi: "Quốc Thống Khai Nam Phục/ Bi Đình Kỷ Thành Công". Giữa lăng là bia đá khắc ba chữ KinhDương Vương đã được vua Minh Mạng năm thứ hai mươi mốt trùng tu lần cuối cùng vào năm 1840. Phíabên ngoài lăng có đôi câu đối: "Xích quỷ sơ đồ xuất/ Hồng bàng vạn đại sương". Các nhà khảo cổ vàvăn hóa khi về đây nghiên cứu sắc phong và phần mộ cổ đều công nhận: "Đây là chốn linh thiêng bậc nhất được xếp vào loại miếu thờ đế vương các triều đại từ cổ xưa".

Các tập tục[sửa | sửa mã nguồn]

Các tập tục: ăn trầu, nhuộm răng,...

Tập tục ăn trầu, và tích "Kulabob và Manup" tương tự như Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Trầu Cau ở Việt Nam, có mặt ở những vùng xa phía nam như New Guinea, được Oppenheimer nêu trong cuốn “Địa đàng ở phương Đông”.[4] Nó gợi ý xa đến nguồn gốc phương nam của người Việt.

Các bằng chứng ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ có vai trò thiết yếu trong việc phân loại các tộc người và theo dõi sự tiến hóa của các nhóm cư dân gần gũi nhau về mặt nhân chủng, được khẳng định là bằng chứng chỉ đứng sau di truyền học bởi những nhà nghiên cứu hàng đầu như L. Cavalli-Sforza.[13]

Một số nhà nhân chủng ngôn ngữ học đã xác định "một số từ Trung Quốc có gốc rễ từ các từ Việt cổ", như "giang" (江) có nghĩa là sông (xem Dương Tử Giang). 越, 粵, 鉞 trong Hán văn cổ đều có âm là "việt" và cùng nghĩa có thể thay thế lẫn nhau được. Ngày nay 鉞, "lưỡi rìu dùng trong nghi lễ" và có thể tìm thấy rất nhiều ở Hàng Châu, Triết Giang, là một phát minh của phương Nam; 粵 là tên gọi tắt cho tỉnh Quảng Đông; còn 越 chỉ Việt (Việt Nam) hoặc khu vực bắc Triết Giang bao quanh Thiệu HưngNinh Ba. Các tên gọi có thể có nguồn gốc phương Nam như Thần Nông, Nữ Oa vì không theo ngữ pháp tiếng Hán.

Bằng chứng ngôn ngữ nói trên phản ánh quá trình bành trướng và đồng hóa của người Hoa về phương nam thì nhiều từ ngữ hay địa danh được giữ nguyên và sử dụng. Tuy nhiên một số nhà nghiên cứu khi tìm cách chứng minh theo bằng chứng ngôn ngữ về lãnh thổ Việt cổ ở phương bắc, thì mối quan hệ dân tộc Việt với các ngôn ngữ trong hệ ngôn ngữ Nam Á lại là vấn đề mà phái thiên di từ phương bắc đem tranh cãi.

Tiếng Việt đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước xác định là thuộc ngữ chi Việt (Vietic)[14][15] cùng với tiếng Mường và tiếng của một số sắc dân thiểu số Nguồn, Chứt (Cheut), Pọng ở dãy núi Trường Sơn hay Thaveung (Ahoe), Arem, Maleng,... ở trung & nam Lào, thuộc khối Việt-Katu của Nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, trong hệ ngôn ngữ Nam Á (Austro-Asiatic Languages), cũng như tiến trình phát triển và phân nhánh ngôn ngữ:[16]

Austro-Asiatic Đông Môn-Khmer proto Việt-Katu proto Việt Chứt Việt Mường chung (thời các vua Hùng) Phân tách Việt Mường (Tk 12).

Quá trình phân tách tiếng Việt với tiếng Mường diễn ra từ Tk 7-8 và kết thúc ở Tk 12 (thời nhà Lý). Sự phân tách của người Kinh làm cho nghiên cứu sinh học phân tử ở họ dễ bị lỗi nếu không chọn được cách lấy mẫu phù hợp. Các luận bàn về ngôn ngữ được nêu ở một đoạn ở bài của Bùi Xuân Đính.[17]

Tiến trình này tự nó đã nói lên người Việt từ đâu tới. Tuy nhiên việc lắp ráp thời gian, địa điểm và bằng chứng trực tiếp về các sự kiện thì chưa giải được. Đó là do "giới hạn hiện hành của các phương pháp ngữ học khi truy ngược về quá khứ là 9.000 năm". Trong khi đó các động vật có vú như họ cá heo, linh cẩu, tinh tinh,... đã có bộ tín hiệu âm thanh với vốn trăm từ để giao tiếp và phân biệt đàn với nhau, còn người tiền sử thì đã có khả năng ngôn ngữ từ 200 Ka BP (xem: Thời tiền sử/ Thời đại đồ đá cũ giữa), thể hiện ở giải phẫu xương hàm. Các hành vi hiện đại, gồm ngôn ngữ và sự nhận thức tinh vi xuất hiện vào cỡ 50 Ka BP?. Sự phát triển ngôn ngữ gắn liền với sự tiến hóa của Homo sapiens nhưng không để lại dấu vết vật chất trực tiếp để nghiên cứu. Những nỗ lực tìm tiếng vọng ngôn ngữ đến đó đang thực hiện và chưa thấy tài liệu công bố.

Các giả thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện giờ các một số giả thiết được cho là có khả năng dựa trên truyền thuyết cũng như các chứng tích khảo cổ.

Thuyết thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Theo một số học giả Pháp: Thuyết này cho rằng người Việt Nam phát tích từ xứ Tây Tạng[2] rồi dọc theo sông Nhị Hà tràn xuống miền trung châu Bắc Việt và phía Bắc xứ Trung Việt ngày nay. Sau những người này theo đà ấy tiến dần về phía Nam. Ngày nay qua nhiều nghiên cứu khảo cổ, khai tích, sử sách cho thấy thuyết này sai lầm[18].

Thuyết thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Theo học giả người Pháp - Louis Finot (1864-1935): Thuyết này dựa trên kiến thức chung về quá trình giống Indonesian (Cổ Mã Lai) xưa cư trú ở tiểu lục địa Ấn Độ, bị giống Aryan (nay gọi là Indo-European) xâm lấn (hồi 30 - 50 Ka BP), nên phải chạy sang phía đông, trong đó có bán đảo Trung Ấn.

Finot cho rằng tại phía đông bắc bán đảo, giống Indonesian hợp với giống Mongolian làm thành giống Việt Nam.[19]

Thuyết này đề cập đến nguồn gốc dân tộc Việt từ thời đại đồ đá, từ 7 Ka BP trở về trước, trong quá trình phát tán chung của loài người. Tuy nhiên nó không giải thích được thành tố ngôn ngữ khi "hợp giống", tức là từ vựng cơ bản của "giống Việt Nam" phải chứa một lượng nào đó từ vựng của các giống gốc, nên không được một số học giả tán thành.[20]

Để ý rằng "hợp giống" hay "hòa huyết" là cách duy nhất các nhà cổ nhân chủng trước đây sử dụng để giải thích sự hiện diện của một chủng tộc có các biểu hiện nhân chủng trung gian nằm giữa hai chủng tộc khác. Ngày nay dựa trên thuyết "một trung tâm từ châu Phi", các chủng tộc tiến hóa theo mô hình cây tiến hóa xác định theo các bằng chứng sinh học phân tử và tiến hóa của ngôn ngữ, mà không cần đến cách giải thích "hợp giống". Vì thế bỏ qua điểm yếu "hợp giống" thì giả thuyết Finot là hợp lý. Nó được diễn giải là hơn 30 Ka BP các giống Indonesian (Cổ Mã Lai) phát tán từ tiểu lục địa Ấn Độ về phía đông[e]. Một bộ phận qua Vân Nam lên Trung Quốc như J. Y. Chu đã nêu[8]. Các nhóm Môn-Khmer phát tán đến dải từ nam Myanmar, trung Thái Lan[12] đến bán đảo Đông Dương (tại Trung phần Việt Nam hiện có 21 dân tộc thuộc nhóm này). Một phần nhóm Môn-Khmer phía đông, gồm proto-Khmu và proto-Vietic đã đi xa hơn về phía đông bắc bán đảo Đông Dương, trong đó cư dân proto-Vietic chiếm lĩnh được vùng trung du và đồng bằng Bắc Việt[f] nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Những thị tộc proto-Vietic chọn hướng phát tán khác, hay trụ lại đâu đó giữa quá trình phát tán, ít phát triển nhưng vượt qua được thời gian và còn tồn tại đến ngày nay, là các dân tộc thiểu số như Nguồn, Chứt, Thaveung (Ahoe), Arem, Maleng,... ở dãy núi Trường Sơn và trung & nam Lào.[15]

Thuyết thứ ba[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sử sách Trung Hoa, Việt Nam: Giả thuyết được phổ biến rộng rãi nhất nói rằng người Việt Nam xưa gốc ở miền từ hạ lưu sông Dương Tử tới miền bắc Việt Nam, gồm nhiều nhóm cư trú ở các nơi khác nhau mà gọi chung là Bách Việt. Về sau bị người Hoa Hạ tràn xuống xâm lấn lãnh thổ, các nhóm này dần dần bị đồng hóa thành người Hán. Chỉ còn nhóm Lạc Việt ở miền Bắc Việt Nam là còn tồn tại được, chính là tổ tiên của người Việt ngày nay.

Thuyết này đã coi Bách Việt là cư dân bản địa[1], mà không đề cập đến nguồn gốc các dân tộc này từ thời đại đồ đá (7 Ka BP) trở về trước.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Người Việt thời đầu công nguyên, khi chưa chia tách Mường - Kinh
  2. ^ Chú ý rằng điều kiện sống có thể tác động rất nhanh đến thay đổi ngoại hình của nhóm cư dân, ví dụ vua phượt Vừ Già Pó sống ở xã có kinh tế tương đối phát triển, nên đã khác người H'Mông cũ điển hình. Còn tại các trường Trung học dân tộc nội trú thì quá phân nửa là không thể phân biệt dân tộc theo ngoại hình của họ. Người Kinh hiện nay cũng không giống với người Việt trong các tài liệu nhân chủng hồi đầu Tk. 20
  3. ^ Có sự tranh cãi về nơi thuần hóa lúa đầu tiên: Lúa hoang O. rufipogon là cây nhiệt đới không chịu lạnh, thì nơi thuần hóa đầu tiên phải là nơi nó sống quanh năm. Tuy nhiên ở Diaotonghuan (Giang Tây) bắt gặp dấu tích nấu cơm 13 Ka BP. Tại Pengtou (gần hồ Động Đình) có di tích đất nung trộn trấu 9 Ka BP. Tại Hemudu (Hà Mỗ Độ, Chiết Giang) có nhiều lớp trấu dày hàng mét, tuổi 7 đến 5 Ka. Trong khi đó di tích lúa ở Thái Lan tại Sakai, Ban Kao, là 7 Ka, còn di tích lúa Việt Nam trong văn hoá Đồng Đậu là 3,5 Ka BP. Sự việc được các nhà nghiên cứu giải thích là tại vùng ĐNÁ nóng ẩm, phần đông người cổ sống trong lều lá, dùng đồ tre gỗ nên các di tích bị gió mưa phá hủy. Ở phía bắc lạnh hơn, họ trồng lúa mùa hè, ở hang hay làm nhà cẩn thận nên để lại di tích nhiều hơn.
  4. ^ Kết luận là "khoảng cách di truyền giữa người Việt và người Hoa là thấp"
  5. ^ Vào thời kỳ băng hà thì dãy Hymalaya là trở ngại không thể vượt qua
  6. ^ Có thể họ đã lên tới hồ Động Đình theo như truyền thuyết

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Hà Văn Tấn, 1998. Theo dấu các văn hóa cổ, NXB Xã hội, tr. 335-401
  2. ^ a ă Madrolle C. L., 1918. Les populations de L’Indochine, Paris.
  3. ^ Nguyễn Đức Hiệp, 2012. Người Cổ Đông Nam Á. Văn hóa học, ĐHQG Tp.Hồ Chí Minh.
  4. ^ a ă Nguyễn Quang Trọng, 2002. Về nguồn gốc dân tộc Việt Nam và Ðịa đàng phương Ðông của Oppenheimer. Retrieved 22/08/2015.
  5. ^ Thomson J. et al., 2000. Recent common ancestry of human Y chromosomes: Evidence from DNA sequence data. PNAS 97 (13): 6927–9.
  6. ^ Cann R.L., Stoneking M., Wilson A.C., 1987. Mitochondrial DNA and human evolution, Nature 325 (6099), p. 31–36.
  7. ^ Nguyễn Văn Tuấn. 2007. Lí lịch sinh học của heo và dấu vết văn minh nông nghiệp Đông Nam Á. ykhoa.net. Retrieved 22/08/2015.
  8. ^ a ă Chu J. Y. et al., 1998. Genetic relationship of populations in China. Proceedings of the National Academy of the Sciences of the United States of America (PNAS) 95:11763-11768.
  9. ^ Y-DNA Haplogroup O and its Subclades - 2007
  10. ^ A. Vu - Trieu et al., 1997. HLA-DR and DQB1 DNA polymorphisms in a Vietnamese Kinh population in Ha Noi. European Journal of Immunogenetics, vol. 24, p. 345-356.
  11. ^ Ivanova R. et al., 1999. Mitochondrial DNA polymorphism in the Vietnamese population. European Journal of Immunogenetics, vol. 26, p. 417-422.
  12. ^ a ă Sau này có các thay đổi: Tk. 9 người Miến xâm chiếm lãnh thổ người MônMyanmar. Tk. 12 người Lào & Thái từ Vương quốc Đại Lý chiếm lãnh thổ người Khơ Mú ở Lào, sau đó người Thái xâm chiếm lãnh thổ của người Mônngười Khmer ở Thái Lan. Người Việt thì vượt qua Đèo Ngang và tiến đến Nam Bộ.
  13. ^ Luigi Cavalli-Sforza. Genes, Peoples, and Languages. Proc. Natl. Acad. Sci. - USA, Vol. 194 p. 7719-7724, 1997.
  14. ^ Hà Văn Tấn, Phạm Đức Dương. Về ngôn ngữ Tiền - Việt Mường. Tạp chí Dân tộc học, số 1/1978.
  15. ^ a ă Khái quát về sự hình thành và phát triển của tiếng Việt. tailieu.vn. Retrieved 18/08/2015.
  16. ^ Lê Đình Tư, 2010. Nguồn gốc tiếng Việt. Trang chuyên Ngôn ngữ học. Retrieved 18/08/2015.
  17. ^ Bùi Xuân Đính, 2014. Lại nói về nguồn gốc dân tộc Việt. Văn hóa Nghệ An. Retrieved 18/08/2015.
  18. ^ Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, tr. 5
  19. ^ Finot L., 1916. Notes d'épigraphie indochinoise, Hanoi, Imprimerie d'Extrême-Orient.
  20. ^ Bình-nguyên Lộc. Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam. Retrieved 18/08/2015.
  • Nguyễn Đình Khoa, Nhân chủng học Đông Nam Á, NXB ĐH và THCN, 1983
  • Phạm Đức Dương, Văn hóa học đại cương và cơ sở VHVN, NXB KHXH 1996
  • Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc VHVN, NXB Thành phố Hồ Chí Minh 2001

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]