Bát Nhĩ Tề Cát Đặc phế hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Thanh Thế Tổ Phế hậu
清世祖废后
Thuận Trị Đế Hoàng hậu
Hoàng hậu Đại Thanh
Tại vị 1651 - 1653
Tiền nhiệm Hiếu Đoan Văn Hoàng hậu
Kế nhiệm Hiếu Huệ Chương hoàng hậu
Thông tin chung
Phu quân Thanh Thế Tổ
Thuận Trị hoàng đế
Tên đầy đủ Ngạch Nhĩ Đức Ni Bổn Ba
(额尔德尼本巴)
Tước hiệu Tĩnh phi (静妃)
Thân phụ Ngô Khắc Thiện

Bát Nhĩ Tề Cát Đặc phế hậu (chữ Hán: 博爾濟吉特废后; ? - ?), Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị, hay còn gọi là Thanh Thế Tổ Phế hậu (清世祖废后) là Hoàng hậu đầu tiên của Thanh Thế Tổ Thuận Trị Đế.

Dưới thời nhà Thanh, bà là vị Hoàng hậu đầu tiên được hưởng quy chế lễ đại hôn khi thành thân với hoàng đế, tức được kiệu đưa vào cung qua Đại Thanh Môn. Bà cũng là hoàng hậu duy nhất của triều Thanh bị Hoàng đế ra chỉ dụ phế Hậu khi đang còn tại vị, không xét trường hợp truy phế như Hiếu Liệt Vũ Hoàng hậu của Thanh Thái Tổ Cao Hoàng đế, hoặc bị phế mà không có phế dụ chính thức như Kế Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị của Thanh Cao Tông Càn Long Đế.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Phế hậu xuất thân cao quý từ đại gia tộc Bát Nhĩ Tề Cát Đặc (博爾濟吉特), thuộc bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm của Mông Cổ. Theo Thanh nội bí thư viện Mông Cổ văn đương án hối biên hán dịch (清内秘书院蒙古文档案汇编汉译), bà có tên là Ngạch Nhĩ Đức Ni Bổn Ba (额尔德尼本巴), trong đó Ngạch Nhĩ Đức Ni có nghĩa là Trân bảo, còn Bổn ba là một loại bình sử dụng trong Phật giáo Tây Tạng.

Cha của Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị là là Trác Lễ Khắc Đồ Thân vương Ngô Khắc Thiện (吴克善), anh trai của Hiếu Trang hoàng thái hậu. Bà là cháu gọi Thái hậu là cô, là biểu tỷ của Thuận Trị đế. Ngoài ra, bà còn là cô của Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu, Hoàng hậu thứ hai của Thuận Trị. Trong hôn nhân hoàng tộc cổ, việc họ hàng lấy nhau là rất phổ biến, không phát sinh dị nghị.

Năm Thuận Trị thứ 8 (1651), ngày 17 tháng giêng, Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị nhập cung cử hành đại hôn với Thuận Trị Đế. Đại hôn của bà và Thuận Trị Đế vốn được sắp đặt từ lâu bởi Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn, người có thực quyền vào thời kì đầu của Thuận Trị, và đã mất trước khi đại hôn lễ được chính thức cử hành. Ngày 13 tháng 8 cùng năm, cử hành đại điển sách lập Hoàng hậu[1][2].

Trong Thanh sử cảo, bà là Hoàng hậu duy nhất được đánh giá "lệ mà tuệ"[3]. Theo ghi chép, bà cực kỳ chú trọng việc chưng diện và ăn uống: tất cả các trang phục đều phải được trang trí bằng chân trâu đá quý; dụng cụ phục vụ ăn uống cho bà đều phải làm bằng vàng bạc quý hiếm. Thuận Trị quen thanh đạm giản dị, thấy Hoàng hậu tiêu xài hoang phí nên cảm thấy không hợp. Ngoài ra do được nuông chiều từ bé nên tính cách Hoàng hậu vô cùng bướng bỉnh, ương ngạnh. Vốn không sủng ái Hoàng hậu, Thuận Trị càng nảy sinh ý định phế hậu[4].

Thuận Trị xa cách Hoàng hậu không chỉ vì tính tình và lối cư xử của bà, mà còn do bà được Đa Nhĩ Cổn chống lưng. Đa Nhĩ Cổn là con trai thứ 14 của Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích, em cùng cha khác mẹ với Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực, và chú ruột của Thuận Trị. Khi xưa mẹ Đa Nhĩ Cổn, Đại phi Ô Lạt Na Lạp A-Ba-Hợi bị Hoàng Thái Cực bắt tuẫn táng, tạo nên hiềm khích giữa Đa Nhĩ Cổn và Hoàng Thái Cực. Hoàng Thái Cực băng hà, Hào Cách bị Đa Nhĩ Cổn đánh bại, Thuận Trị được chọn lên ngôi khi vừa lên 6 tuổi. Theo lời đồn, Đa Nhĩ Cổn và Hiếu Trang Thái hậu có tình cảm sâu đậm nên ông hết sức phò trợ cho Thuận Trị đăng cơ. Đối với Thuận Trị, Đa Nhĩ Cổn vừa là ân nhân vừa là mối nguy hiểm. Chính ân-oán xen lẫn này đã tạo nút thắt khó gỡ trong thâm tâm Thuận Trị.

Hoàng hậu được Đa Nhĩ Cổn sắp đặt bên cạnh Thuận Trị nên mỗi lần gặp bà, Thuận Trị đều liên tưởng tới Đa Nhĩ Cổn. Ngoài ra, Hoàng hậu cậy thế là cháu cưng của Thái hậu, ra sức ra oai với phi tần, lôi kéo Thái hậu mỗi khi mâu thuẫn với hoàng đế... Vì vậy, tình cảm Đế-Hậu càng lúc càng xấu đi.

Phế hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thuận Trị thứ 10 (1653), ngày 24 tháng 8, Thuận Trị tập hợp hội đồng, tra điển cổ phế hậu trong lịch sử khiến các Đại học sĩ Phùng Thuyên (冯铨), Trần Danh Hạ (陈名夏) cật lực phản đối[5]. Không chịu khuất phục, hôm sau Thuận Trị trực tiếp đến xin Thái hậu cho phép giáng Hoàng hậu xuống tước Phi (妃)[6][7].

Ngày 26 tháng 8, Thuận Trị dụ Lễ bộ, soạn thánh chỉ giáng vị Hoàng hậu xuống làm Tĩnh phi. Toàn bộ Lễ bộ quan viên dâng sớ phản đối năm đó Hoàng hậu từng cáo tế thiên, đảm nhận chính vị, đột ngột phế truất hoàn toàn không phù hợp trình tự. Chuyện đến nước này, Thuận Trị bèn triệu tập Nghị chính Vương đại thần, thảo luận việc phế bỏ Hoàng hậu. Viên ngoại lang Khổng Doãn Việt (孔允樾) dâng tấu bất bình, vì Hoàng hậu chính vị 3 năm, không phạm đại tội, dùng chữ "vô năng" làm lý do sẽ khiến thiên hạ và hậu thế không phục[8]. Ngự sử Tông Đôn Nhất (宗敦一), Phan Triều tuyển (潘朝選) và 14 người bọn họ yêu cầu Hoàng đế thu hồi ý chỉ phế truất Hoàng hậu. Thuận Trị giận tím mặt, lấy lý do bọn họ suy đoán thánh tâm, mua danh chuộc tiếng mà trừng trị toàn bộ[9].

Ngày 1 tháng 9, Nghị chính Vương đại thần thỉnh cầu Hoàng đế tiếp tục giữ Hoàng hậu tại vị, bị bác bỏ[10]. Ngày 5 tháng 9, Trịnh thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng đọc tuyên kết quả nghị sự cho Thuận Trị, cuối cùng đã thông qua việc phế bỏ Hoàng hậu Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị[11], giáng làm Tĩnh phi (静妃) hàng Chính tam phẩm, chuyển về Trắc cung. Bà may mắn không phải chịu số phận bị giam cầm trong lãnh cung như các phế hậu khác trong lịch sử, còn được phong Phi. Do Thái hậu có quan hệ máu mủ với Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị, lại rất nể mặt anh trai nên bằng mọi giá không bạc đãi bà[12][13].

Năm Thuận Trị thứ 13 (1656), tháng 10, Ngô Khắc Thiện nhập kinh. Thuận Trị đồng ý với bác mình là cho Tĩnh phi trở về Khoa Nhĩ Thẩm[14]. Trong bài "Cổ ý lục thủ" (古意六首) của Ngô Vĩ Nghiệp (吴伟业), Tĩnh phi được ghi lại qua đời không lâu sau cái chết của Thuận Trị Đế[15]. Trong khi đó, sách sử nhà Triều Tiên ghi lại bà trở về Khoa Nhĩ Thấm, tái giá và sinh con[16][17].

Vào thời Gia Khánh, Hoàng đế từng ra chỉ mệnh Quân Cơ xứ đến Thanh Đông lăng dò hỏi nha môn phụ trách coi giữ lăng, tìm hiểu xem Phế hậu Tĩnh phi sau khi mất táng ở nơi nào, khi nào phụng an, hiến tế như thế nào, sinh nhật và ngày kị ra sao.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《世祖章皇帝實錄》卷之五十二:順治八年。辛卯。春正月。……○乙丑。 上初聘科爾沁國卓禮克圖親王吳克善女為后。至是卓禮克圖親王親送至京。
  2. ^ 《世祖章皇帝實錄》卷之五十九:順治八年。辛卯。八月。……○戊午。冊立科爾沁國卓禮克圖親王吳克善女為皇后。
  3. ^ 《清史稿·列传一·后妃》记载:世祖废后,博尔济吉特氏,科尔沁卓礼克图亲王吴克善女,孝庄文皇后侄也。后丽而慧,睿亲王多尔衮摄政,为世祖聘焉。
  4. ^ 《孝獻皇后行狀》:因歎朕伉儷之緣,殊為不偶。前廢后容止,足稱佳麗,亦極巧慧,乃處心弗端,且嫉甚,見貌少妍者即憎惡,欲置之死。雖朕舉動,靡不猜防,朕故別居,不與接見。且朕素慕簡朴,廢后則擗嗜奢侈,凡諸服御,莫不以珠玉綺繡綴飾,無益暴殄,少不知惜。當膳時,有一器非金者,輒怫然不悅。
  5. ^ 《世祖章皇帝實錄》卷之七十七:順治十年。癸巳。……八月。……○丁亥。大學士馮銓、陳名夏、成克鞏、張端、劉正宗奏言、今日禮部諸臣、至內院恭傳 上諭、察前代廢后事例具聞、臣等不勝悚懼。竊惟 皇后母儀天下、關係甚重。前代如漢光武、宋仁宗、明宣宗、皆稱賢主。俱以廢后一節、終為盛德之累。望 皇上深思詳慮、慎重舉動。萬世瞻仰、將在今日。得旨、據奏皇后母儀天下、關係至重。宜慎舉動。果如所言。皇后壼儀攸係。正位匪輕。故廢無能之人。爾等身為大臣、反於無益處、具奏沽名。甚屬不合。著嚴飭行。
  6. ^ 《世祖章皇帝實錄》卷之七十七:順治十年。癸巳。……八月。……○己丑。諭禮部朕惟自古帝王、必立后以資內助。然皆慎重遴選、使可母儀天下。今后乃睿王於朕幼沖時、因親定婚。未經選擇。自冊立之始、即與朕志意不協。宮閫參商、已歷三載。事上御下、淑善難期。不足仰承 宗廟之重。謹於八月二十五日、奏聞 皇太后、降為靜妃。改居側宮。
  7. ^ 據中國作家王鏡輪推測,這座側宮為紫禁城西六宮的永壽宮,來源於順治帝在寵妃董鄂妃死後所撰寫的《孝獻皇后行狀》中如此寫道:「今年(順治十七年)春,永壽宮始有疾,后(指已被追封為孝獻皇后的董鄂妃)亦躬親扶侍,三晝夜忘寢興,其所以殷殷慰解悲憂,預為治備,皆如侍今后者。」意為:董鄂妃曾不眠不休地看顧居住在永壽宮的一位患病女性,如同服侍當今皇后。這位女性不太可能是當時住在永壽宮的恪妃,即便就是恪妃,順治也無須避諱其名,因此推測這位女性是為世祖廢后
  8. ^ 《世祖章皇帝實錄》卷之七十七:順治十年。癸巳。……八月。……○庚寅。……○禮部儀制司員外郎孔允樾奏言、臣辦事署中、偶聞廢 后一事、不覺悚然。及見馮銓等奉 聖諭內、有故廢無能之人一語、更為驚駭。竊思天子一言一動、萬世共仰况我 皇后正位三年、未聞顯有失德。特以無能二字、定廢謫之案。何以服 皇后之心。且何以服天下後世之心。
  9. ^ 《世祖章皇帝實錄》卷之七十七:順治十年。癸巳。……八月。……○壬辰。……○御史宗敦一、潘朝選、陳棐、張椿、杜果、聶玠、張嘉、李敬、劉秉政、陳自德、祖永杰、高爾位、白尚登、祖建明、合疏奏言、臣等捧讀降 母后為靜妃之諭。又見故廢無能之人之旨。不勝驚駭。......皇后未聞失德、忽爾見廢、非所以昭示風化也。......伏乞收回成命、以俟會議。 宗廟 社稷、實式臨之。疏入。 上以宗敦一等、明知有旨會議、瀆奏沽名。下所司議處
  10. ^ 《世祖章皇帝實錄》卷之七十八:順治十年。癸巳。九月。癸巳朔。……○諸王、貝勒大臣、內院、九卿、詹事科道等遵旨會議、據禮部尚書胡世安等及儀制司員外郎孔允樾所奏實係典禮常經。 皇上冊立 皇后之始祇告 天地 宗廟竝加上 昭聖慈壽恭簡皇太后徽號、以昭慶典。既已詔布天下、禮難輕易伏乞 皇上仍以 皇后正位中宮即命禮臣考據典禮選立東西兩宮則本支日茂。 聖德益光。可為萬世法矣。得旨朕納后以來緣志意不協另居側宮、已經三載。從古廢后、遺議後世、朕所悉知但勢難容忍故有此舉著議事諸王、貝勒。
  11. ^ 《世祖章皇帝實錄》卷之七十八:順治十年。癸巳。九月。……○丁酉。叔和碩鄭親王濟爾哈朗等會議廢后事奏言所奉 聖旨甚明。臣等亦以為是無庸更議。得旨廢后之事、朕非樂為。但容忍已久實難終已故有此舉諸王大臣、及會議各官、既共以為是。著遵前旨行。
  12. ^ 《世祖章皇帝實錄》卷之七十七:順治十年。癸巳。……八月。……○己丑。諭禮部朕惟自古帝王、必立后以資內助。然皆慎重遴選、使可母儀天下。今后乃睿王於朕幼沖時、因親定婚。未經選擇。自冊立之始、即與朕志意不協。宮閫參商、已歷三載。事上御下、淑善難期。不足仰承 宗廟之重。謹於八月二十五日、奏聞 皇太后、降為靜妃。改居側宮。
  13. ^ 據中國作家王鏡輪推測,這座側宮為紫禁城西六宮的永壽宮,來源於順治帝在寵妃董鄂妃死後所撰寫的《孝獻皇后行狀》中如此寫道:「今年(順治十七年)春,永壽宮始有疾,后(指已被追封為孝獻皇后的董鄂妃)亦躬親扶侍,三晝夜忘寢興,其所以殷殷慰解悲憂,預為治備,皆如侍今后者。」意為:董鄂妃曾不眠不休地看顧居住在永壽宮的一位患病女性,如同服侍當今皇后。這位女性不太可能是當時住在永壽宮的恪妃,即便就是恪妃,順治也無須避諱其名,因此推測這位女性是為世祖廢后
  14. ^ 《燕途纪行》下:(順治十三年)十月……十九日癸巳……金汝輝來謁,又問闕中事,答以東宮皇后,明日定以寡婦貴妃冊封。二十一日,率新后出遊獐子苑。扈往衛士三千,使裹望日粮。太后因灾避寓乾德殿。帝之遊園囿,盖今仲冬之月。即前年正宮皇后,痘疫回期,以故出遊,名雖遊獵,實迺出避云......前日所廢皇后,今月因其父入朝,許以帶還。其父迺帝之表叔云。
  15. ^ 《梅村集》古意六首:其一:爭傳婺女嫁天孫,纔過銀河拭淚痕。但得大家千萬嵗,此生那得恨長門。其二:荳蔻梢頭二月紅,十三初入萬年宫。可憐同望西陵哭,不在分香賣履中。其三:從獵陳倉怯馬蹄,玉鞍扶上却東西。一經輦道生秋草,説著長楊路總迷。其四:玉顔憔悴幾經秋,薄命無言祗淚流。手把定情金合子,九原相見尚低頭。其五:銀海居然妬女津,南山仍錮慎夫人。君王自有他生約,此去惟應禮玉真。其六:珍珠十斛買琵琶,金谷堂深護絳紗。掌上珊瑚憐不得,却教移作上陽花。
  16. ^ 《朝鲜顯宗實錄》卷之十:(康熙四年三月)○壬辰……竊聞蒙古之女,曾爲順治皇帝之后,失寵黜還其國,而生子,年今十四,淸人屢請於蒙古,而終不送,早晩必有干戈從事之擧。蓋蒙右在西北方,其地廣漠無際,部落濔漫,恃强不用命,且順治之子,乃是人才,蒙人若立之而來爭,則必爲大患,故淸人甚以爲慮云。”上曰:“皇帝何如云耶?”致和曰:“年今十二,有何自斷。聞輔政頗善處事,攝政已久,而國人無貳心,誠可異也。但自謂天下大定,務爲偃武,使蕃漢人,皆不得佩劍。
  17. ^ 《朝鲜顯宗改修實錄》卷之十二:(康熙四年三月)○壬辰……○上御熙政堂,引見大臣及備局諸臣。......聞蒙古之女,曾爲順治君之后,失寵黜還其國而生子,年今十四。淸人屢請於蒙古,而終不送還。蒙古素恃强不用命,蒙女所生子亦賢,若擁立而爭天下,則必爲大患,故淸人甚以爲慮。
  • Daily Life in the Forbidden City, Wan Yi, Wang Shuqing, Lu Yanzhen ISBN 0-670-81164-5
  • Draft history of the Qing dynasty《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.世祖孝惠章皇后.