Bước tới nội dung

Lan Châu

36°03′38″B 103°49′36″Đ / 36,0606°B 103,8268°Đ / 36.0606; 103.8268
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lan Châu
兰州市
—  Thành phố cấp địa khu  —
Thành phố Lan Châu
Đường chân trời Lan Châu và Hoàng Hà
Vị trí của Lan Châu
Vị trí của Lan Châu tại Cam Túc
Vị trí của Lan Châu tại Cam Túc
Lan Châu trên bản đồ Cam Túc
Lan Châu
Lan Châu
Lan Châu trên bản đồ Trung Quốc
Lan Châu
Lan Châu
Vị trí của trung tâm thành phố tại Cam Túc
Quốc giaTrung Quốc
TỉnhCam Túc
Cấp huyện8
Trung tâm hành chínhThành Quan
Chính quyền
 • KiểuThành phố cấp địa khu
 • Thành phầnĐại hội đại biểu nhân dân Lan Châu
 • Bí thư Thành ủyZhang Xiaoqiang
 • Chủ tịch Đại hội đại biểu nhân dânZhang Jianping
 • Thị trưởngLiu Jianxun[1]
 • Chủ tịch Ủy ban Lan Châu Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trung QuốcLi Hongya
Diện tích
 • Thành phố cấp địa khu13.086,9 km2 (50,529 mi2)
 • Đô thị2.432,9 km2 (9,393 mi2)
 • Vùng đô thị1.112,9 km2 (4,297 mi2)
Dân số (2020)[2]
 • Thành phố cấp địa khu4,359,446
 • Mật độ0/km2 (0/mi2)
 • Đô thị3,474,858
 • Mật độ đô thị0,00.014/km2 (0,00.037/mi2)
 • Vùng đô thị3,042,863
 • Mật độ vùng đô thị0,00.027/km2 (0,00.071/mi2)
GDP[3]
 • Thành phố cấp địa khu209,6 tỷ nhân dân tệ
33,7 tỷ đô la Mỹ
 • Bình quân đầu người56.972 nhân dân tệ
9.147 đô la Mỹ
Múi giờUTC+8
Mã bưu chính730000
Mã điện thoại0931
Mã ISO 3166CN-GS-01
Thành phố kết nghĩaAlbuquerque, Akita, Christchurch, Nouakchott, Alba Iulia, Penza, Ulan-Ude, Hachinohe
License plate prefixes甘A
Websitewww.lanzhou.gov.cn
Hoa thành phố
Rugosa Rose
Lan Châu
"Lan Châu" trong chữ Hán giản thể (trên) và chữ Hán phồn thể (dưới)
Giản thể兰州
Phồn thể蘭州
Latinh hóaLanchow
Nghĩa đen"Orchid [Hills] Prefecture"[4]

Lan Châu là tỉnh lỵ tỉnh Cam Túc, Trung Quốc.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên thủy, vùng đất này là lãnh thổ Tây Khương. Lan Châu sau đó trở thành một phần lãnh thổ của nước Tần từ thế kỷ 6 TCN. Năm 81 TCN, trong thời kỳ nhà Hán (206 TCN-220), Lan Châu thuộc quận Tấn Thành. Thành phố này còn được gọi là Kim Thành do nó là một điểm dừng chân trên Con đường tơ lụa phía bắc[5][6] và là điểm vượt qua Hoàng Hà có tầm quan trọng lịch sử. Để bảo vệ thành phố, Vạn lý trường thành được mở rộng đến Ngọc Môn. Sau khi nhà Hán sụp đổ, Lan Châu trở thành kinh đô của các tiểu quốc bộ lạc ở đây. Do sự giao lưu của các nền văn hóa khác nhau, khu vự của tỉnh Cam Túc ngày nay từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 11 đã trở thành trung tâm nghiên cứu Phật giáo. Trong thế kỷ 4, trong một thời gian ngắn nó đã là kinh đô của Tiền Lương. Nhà Bắc Ngụy (386-534) tái lập quận Tấn Thành, đổi thành huyện Tự Thành. Dưới thời nhà Tùy (581-618), Lan Châu lần đầu tiên trở thành thủ phủ của quận Lan Châu và duy trì tên gọi này cho tới nhà Đường (618-907). Năm 763, người Tạng đã tàn phá khu vực này và nhà Đường chỉ giành lại vào năm 843. Sau đó Lan Châu thuộc quyền kiểm soát của Tây Hạ (thịnh vượng tại khu vực Thanh Hải từ thế kỷ 11 tới thế kỷ 13). Nhà Bắc Tống (960-1126) giành lại Lan Châu năm 1041. Tên gọi Lan Châu được tái thiết lập. Sau năm 1127, Lan Châu rơi vào tay nhà Kim. Sau năm 1235, nó thuộc quyền quản lý của người Mông Cổ. Dưới thời nhà Minh (1368-1644) Lan Châu là một huyện thuộc châu Lâm Thao nhưng sau đó vào năm 1477 thì Lan Châu lại tách ra như một châu tách biệt. Thành phố được đặt tên như ngày nay từ năm 1656 dưới thời nhà Thanh. Khi Cam Túc trở thành một tỉnh tách biệt vào năm 1666 thì Lan Châu trở thành thủ phủ của tỉnh này.

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu và ô nhiễm

[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu nửa khô nằm trong vùng ôn đới.

Lan Châu được xem là một trong những thành phố ô nhiễm nhất Trung Quốc, nếu không muốn nói là nhất thế giới. Chất lượng không khí quá tệ đến mức nhiều khi không thể nhìn rõ núi Lan Sơn phía nam thành phố. Thành phố nằm trong một khu thung lũng sông hẹp bị bao bọc bởi những dãy núi cong làm cho nó thành nơi nhốt không khí, không thông gió tốt nên nhiều cơ sở chế biến dầu khí và bão cát từ sa mạc Gobi khiến cho không khí ở đây tệ hại hơn, đặc biệt vào mùa đông và mùa xuân.

Phân cấp hành chính

[sửa | sửa mã nguồn]
Thành phố Lan Châu

Cơ cấu dân số

[sửa | sửa mã nguồn]
Cảnh quan khu vực trung tâm thành phố Lan Châu

GDP đầu người là 15.051 NDT (tương đương 1820 USD) năm 2003, xếp thứ 134/659 thành phố của Trung Quốc.

Tài nguyên thiên nhiên

[sửa | sửa mã nguồn]

Công nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Cam Túc là một trong những tỉnh lọc hóa dầu lớn nhất Trung Quốc và là trung tâm năng lượng nguyên tử của Trung Quốc.

Nông nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông vận tải

[sửa | sửa mã nguồn]
Lan Châu nhìn từ vệ tinh

Lan Châu có một đường sắt, một đường cao tốc và sân bay và nơi giao lộ giữa Tân Cương và tây bắc Trung Quốc.

Các địa điểm tham quan

[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thông

[sửa | sửa mã nguồn]

Lan Châu Radio phục vụ cho Lhasa và khu vực Lan Châu.

  • Nghệ thuật vũ đạo Đôn Hoàng
  • Ẩm thực: Lạp miến thịt bò Lan Châu

Các trường đại học và cao đẳng

[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp quốc gia

[sửa | sửa mã nguồn]

Các trường đại học, cao đẳng

[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu ý: Chỉ liệt kê các trường có chương trình đào tạo cấp bằng cử nhân toàn thời gian.

Thành phố kết nghĩa

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "博士刘建勋任兰州市市长,全国已有多个"70后"省会城市市长".
  2. ^ "China: Gānsù (Prefectures, Cities, Districts and Counties) - Population Statistics, Charts and Map".
  3. ^ 甘肃省统计局、国家统计局甘肃调查总队 (tháng 11 năm 2016). 《甘肃发展年鉴-2016》. China Statistics Press. ISBN 978-7-5037-7894-0.[liên kết hỏng]
  4. ^ Jun Jing (1996), The Temple of Memories: History, Power, and Morality in a Chinese Village, Stanford: Stanford University Press, tr. 4.
  5. ^ Xian Xiaowei, Zhang Linyuan, Ai Nanshan và Wihelm Wohlke, On the relation between the evolution of natural environment and human factors and the development of urban settlement—Take the Lanzhou Valley Basin as an examples, Springerlink, quyển 1, số 1 (1991)[liên kết hỏng]
  6. ^ C. Michael Hogan, Silk Road, North China, the Megalithic Portal, chủ biên: Andy Burnham

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

36°03′B 103°48′Đ / 36,05°B 103,8°Đ / 36.050; 103.800