Bao Đầu
| Bao Đầu Baotou | |
|---|---|
| — Địa cấp thị — | |
| 包头市 | |
Đài kỉ niệm hươu tại Bao Đầu | |
Vị trí của Bao Đầu trong Nội Mông Cổ | |
| Vị trí của Bao Đầu tại Trung Quốc | |
| Tọa độ: 40°39′3″B 109°50′31″Đ / 40,65083°B 109,84194°Đ | |
| Quốc gia | Trung Quốc |
| Cấp tỉnh | Nội Mông Cổ |
| Cấp huyện | 9 |
| Diện tích | |
| • Địa cấp thị | 27.768 km2 (10,721 mi2) |
| Dân số (2006) | |
| • Địa cấp thị | 2.600.000 |
| • Mật độ | 94/km2 (240/mi2) |
| • Đô thị | 1.317.680 |
| • Vùng đô thị | 1.750.000 |
| • Các dân tộc chính | Hán, Mông Cổ |
| Múi giờ | UTC+8 |
| Mã bưu chính | 014000 |
| Mã điện thoại | 472 |
| Biển số xe | 蒙B |
| Phương ngữ | Tấn: Phương ngữ Bao Đầu |
Bao Đầu (tiếng Trung: 包头市; bính âm: Bāotóu Shì, âm Hán Việt: Bao Đầu thị, tiếng Mông Cổ: ᠪᠤᠭᠤᠲᠤ ᠬᠣᠲᠠ Buɣutu qota, chữ Mông Cổ Kirin: Бугат хот) là một địa cấp thị thuộc Khu tự trị Nội Mông Cổ, Trung Quốc. Tên gọi trong tiếng Mông Cổ (Bao Khắc Đồ) có nghĩa là thành phố với hươu và một tên gọi khác trong tiếng Trung của thành phố (鹿城, Lộc Thành) cũng có nghĩa là thành phố hươu. Thành phố cấp tỉnh này có diện tích 27.768 km², dân số năm 2023 là 2.761.700 người[1][2], mật độ dân số đạt 99,456 người/km². Vùng đô thị có diện tích 247,14 km² và dân số 2.283.700 người. Đây là thành phố lớn nhất Nội Mông Cổ. GDP năm 2016 là 426,3 tỷ nhân dân tệ.[3] Bao Đầu có một sân bay riêng.
Phân chia hành chính
[sửa | sửa mã nguồn]Thành phố Bao Đầu được chia thành 9 đơn vị cấp huyện gồm 6 quận, 1 huyện và 2 kỳ.
- Quận: Côn Đô Luân, Thanh Sơn, Đông Hà, Cửu Nguyên, Thạch Quải, Bayan Obo.
- Huyện: Cố Dương.
- Kỳ: Kỳ Tumed Hữu, Darhan Muminggan.
Trung tâm hành chính của địa cấp thị đặt tại quận Côn Đô Luân.
Địa lý
[sửa | sửa mã nguồn]Bao Đầu nằm trên bờ bắc sông Hoàng Hà tại khu vực vòng cung lớn của nó (tiếng Trung: 河套; bính âm: hétào hay Hà Sáo). Tọa độ địa lý: từ 109°50' tới 111°25' kinh đông và từ 41°20' tới 42°40' vĩ bắc. Thành phố này nằm trên độ cao khoảng 1.050 m. Vào cuối năm 2006, Bao Đầu có 2,60 triệu dân cư có đăng ký (thường trú và tạm trú) so với 2,0802 triệu năm 2002. Thành phố này có dân số nội đô khoảng 1.317.680 và dân số trong khu vực vùng đô thị là 1.750.000 người.
Khí hậu
[sửa | sửa mã nguồn]Bao Đầu có khí hậu bán khô hạn ( Köppen BSk ), được đánh giá bằng mùa đông dài, lạnh và rất khô, mùa hè nóng, hơi ẩm và gió mạnh, đặc biệt là vào mùa xuân. Nhiệt độ thường giảm xuống dưới -15 °C (5 °F) vào mùa đông và tăng trên 30 °C (86 °F) vào mùa hè. Lượng mưa hàng năm xấp xỉ 300 milimét (11,8 in), với hơn một nửa lượng mưa rơi vào tháng Bảy và tháng Tám. Do sự khô cằn và độ cao, chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm có thể rất lớn, đặc biệt là vào mùa xuân. .
| Dữ liệu khí hậu của Bao Đầu (1971−2000) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Cao kỉ lục °C (°F) | 7.4 (45.3) |
15.9 (60.6) |
20.4 (68.7) |
34.4 (93.9) |
35.9 (96.6) |
36.7 (98.1) |
39.2 (102.6) |
37.6 (99.7) |
35.0 (95.0) |
27.5 (81.5) |
19.3 (66.7) |
10.1 (50.2) |
39.2 (102.6) |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | −4.1 (24.6) |
0.4 (32.7) |
7.6 (45.7) |
16.9 (62.4) |
23.9 (75.0) |
28.2 (82.8) |
29.6 (85.3) |
27.1 (80.8) |
22.1 (71.8) |
14.8 (58.6) |
5.2 (41.4) |
−2.3 (27.9) |
14.1 (57.4) |
| Trung bình ngày °C (°F) | −11.1 (12.0) |
−6.8 (19.8) |
0.7 (33.3) |
9.5 (49.1) |
16.7 (62.1) |
21.4 (70.5) |
23.2 (73.8) |
21.0 (69.8) |
15.0 (59.0) |
7.3 (45.1) |
−1.8 (28.8) |
−9.0 (15.8) |
7.2 (44.9) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | −16.8 (1.8) |
−12.7 (9.1) |
−5.6 (21.9) |
2.0 (35.6) |
8.7 (47.7) |
13.6 (56.5) |
17.1 (62.8) |
15.3 (59.5) |
8.7 (47.7) |
1.3 (34.3) |
−7.2 (19.0) |
−14.3 (6.3) |
0.8 (33.5) |
| Thấp kỉ lục °C (°F) | −31.4 (−24.5) |
−28.8 (−19.8) |
−20.4 (−4.7) |
−10.4 (13.3) |
−3.0 (26.6) |
3.2 (37.8) |
10.5 (50.9) |
4.9 (40.8) |
−2.0 (28.4) |
−11.8 (10.8) |
−20.8 (−5.4) |
−25.6 (−14.1) |
−31.4 (−24.5) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 2.1 (0.08) |
3.8 (0.15) |
8.3 (0.33) |
8.1 (0.32) |
17.3 (0.68) |
28.0 (1.10) |
81.3 (3.20) |
87.7 (3.45) |
38.7 (1.52) |
17.1 (0.67) |
3.8 (0.15) |
1.4 (0.06) |
297.6 (11.71) |
| Số ngày giáng thủy trung bình (≥ 0.1 mm) | 1.4 | 2.2 | 2.9 | 3.0 | 4.7 | 7.0 | 10.5 | 10.7 | 6.9 | 3.8 | 1.7 | 1.5 | 56.3 |
| Nguồn: Weather China | |||||||||||||
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Khu vực ngày nay gọi là Bao Đầu đã được những người dân du cư chiếm lĩnh từ thời cổ đại, chủ yếu là người Mông Cổ. Gần cuối thời kỳ nhà Hán, Lã Bố, một trong những viên tướng hùng mạnh trong thời kỳ này, là người sinh ra ở đây. So với thủ phủ của khu tự trị, Hohhot, việc xây dựng của Bao Đầu để biến nó trở thành một đô thị diễn ra tương đối muộn hơn, với địa vị thị trấn có được vào năm 1809. Nơi đây được chọn vì có một vùng đất rộng có khả năng trồng trọt được thuộc khu vực Hà Sáo của Hoàng Hà.
Đường sắt từ Bắc Kinh tới được xây dựng trong giai đoạn 1925-1931, và thành phố này bắt đầu phát triển được một số cơ sở công nghiệp. Một liên doanh Đức-Trung năm 1934 đã xây dựng sân bay Bao Đầu và mở các chuyến bay mỗi tuần một lần tới Ninh Hạ và Lan Châu.
Khi Owen Lattimore tới Bao Đầu năm 1925, nó vẫn còn là "một thị trấn nhỏ vô giá trị trong một lớp vỏ rỗng lớn với các thành lũy bằng bùn đất, trong đó 2 đường phố bận rộn nhất là khu thương mại", nhưng đã là một ga đường sắt tiếp tế quan trọng. Len và da từ Thanh Hải và Cam Túc khi đó còn được chuyên chở theo sông Hoàng Hà bằng bè và thuyền từ Lan Châu tới Bao Đầu, sau đó vận chuyển theo tàu hỏa từ đây tới phía đông (cụ thể là tới Thiên Tân để xuất khẩu). Tuy nhiên, vận chuyển đường sông chỉ là một chiều, do dòng chảy nhanh không cho phép thuyền bè ngược dòng. Để đi từ Bao Đầu ngược trở về Lan Châu hay Ngân Xuyên, người ta phải dùng xe ngựa hay bằng lạc đà. Tại đây cũng có những con đường của khách lữ hành từ Bao Đầu tới Ordos và Alashan[4]
Từ ngày 19 tháng 9 năm 1949 trở đi, Bao Đầu thuộc quyền quản lý của những người cộng sản. Chính quyền nhân dân được thành lập vào tháng 2 năm 1950. Trong những năm đầu tiên thuộc chính quyền mới, Bao Đầu là một trung tâm công nghiệp, với một tỷ lệ đáng kể trong kinh tế của thành phố là sản xuất thép và nó vẫn còn tiếp tục cho tới nay.
Giáo dục
[sửa | sửa mã nguồn]Tại Bao Đầu có các trường đại học và cao đẳng sau:
- Đại học Khoa học Kỹ thật Bao Đầu (nguyên là Cao đẳng gang thép Bao Đầu)
- Cao đẳng Sư phạm Bao Đầu
- Cao đẳng Y tế Bao Đầu
Kinh tế
[sửa | sửa mã nguồn]Giao thông
[sửa | sửa mã nguồn]Sân bay Bao Đầu, cách trung tâm thành phố 23 km, có các chuyến bay tới Bắc Kinh, Thạch Gia Trang, Thượng Hải, Hàng Châu, Quảng Châu, Thành Đô, Thái Nguyên. Tại Bao Đầu có 2 nhà ga đường sắt là nhà ga Bao Đầu và nhà ga Bao Đầu Đông, nối thành phố này với Bắc Kinh, Thiên Tân, Tây An, Thượng Hải, Thạch Gia Trang, Ninh Ba, Hohhot. Đường bộ có đường cao tốc Hô-Bao nối Hohhot, Ngũ Nguyên với Bao Đầu.
Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ "Baotou Geography Summary, 中共内蒙古自治区委党史和地方志研究室".
- ^ "China: Inner Mongolia (Prefectures, Leagues, Cities, Districts, Banners and Counties) - Population Statistics, Charts and Map".
- ^ 内蒙古自治区统计局、国家统计局内蒙古调查总队 (2016). 《内蒙古统计年鉴-2016》 [Inner Mongolia Statistical Yearbook - 2016] (bằng tiếng Trung). Cục Thống kê Trung Quốc. ISBN 978-7-5037-7901-5.
- ^ Owen Lattimore, The Desert to Turkestan, 1928. trang 7-8.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Website chính thức Lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2015 tại Wayback Machine (tiếng Trung và Anh)
- Mã bưu chính của Nội Mông Cổ Lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2008 tại Wayback Machine (tiếng Anh)
