Nguyễn Phúc Hồng Cai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kiên Thái vương
堅太王
Vương gia nhà Nguyễn
Thông tin chung
Thê thiếp Bùi Thị Thanh
Phan Thị Nhàn.
Hậu duệ
Tên đầy đủ Nguyễn Phúc Hồng Cai (阮福洪侅)
Thụy hiệu Thuần Nghị Kiên Thái vương[1]
純毅堅太王
Hoàng tộc nhà Nguyễn
Thân phụ Nguyễn Hiến Tổ
Thiệu Trị hoàng đế
Thân mẫu Trương Thị Vĩnh
Sinh 13 tháng 12, 1845
Huế, Việt Nam
Mất 15 tháng 5, 1876 (30 tuổi)
An táng Thiên Hoàng Long sơn (天皇龍山)

Nguyễn Phúc Hồng Cai (chữ Hán: 阮福洪侅; 13 tháng 12, 1845 - 15 tháng 5, 1876), còn được biết đến qua tôn hiệu Kiên Thái vương (堅太王), là một hoàng tử nhà Nguyễn, được biết đến là phụ thân của ba vị Hoàng đế liên tiếp của triều đại này: Đồng KhánhKiến Phúc và Hàm Nghi.

Ông và con cháu (trừ hoảng tử trưởng - tức Đồng Khánh) lập nên phòng 26 của Đệ Tam Chính Hệ Nguyễn Phúc Tộc, được ban cho bộ Đậu để đặt tên cho con cháu trong Phòng.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kiên Thái vương Hồng Cai sinh vào năm Thiệu Trị thứ 5 (ngày 13 tháng 12 năm 1845), là con trai thứ 25 của Nguyễn Hiến Tổ Thiệu Trị hoàng đế, mẹ ông là Tài nhân Trương Thị Vĩnh (張氏永), người Quảng Trị. Thuở nhỏ, ông vốn chăm lo học hành, đức hạnh tốt, nên năm Ất Sửu (1865) được Tự Đức phong là Kiên Quốc công (堅國公). Thông thường, với việc là con xếp thứ tự thấp thì chỉ được phong ban đầu là Quận công nhưng ông được phong Quốc công vì Tự Đức thấy ông học hành nổi bật.

Vốn bẩm tính nhân hậu, cần kiệm, hiếu học, mà lại biết tuân phép tắc, nên khi hay tin ông mất, Tự Đức vô cùng thương tiếc, cấp cho những đồ thờ trong cung để tỏ lòng ưu ái khác thường. Thụy là Thuần Nghị (純毅), được an táng tại huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên. Đây là một ngôi Lăng tuyệt đẹp, dẫu thời gian và mưa gió đã làm ngôi lăng xuống cấp nhiều, nhưng vẻ lộng lẫy của nó vẫn đáng để chúng ta ngưỡng mộ. Đặc biệt là nghệ thuật ghép mảnh sành sứ tại đây đạt mức tuyệt đỉnh. Ngôi lăng này còn có điểm đặc biệt mà không ngôi lăng mộ vua chúa nào ở Huế có, đó là: Lăng có đến hai Bi đình (nhà bia) trước lăng. Đặc biệt nhất là xung quanh hai nhà bia này được đắp nổi phù điêu Nhị thập tứ hiếu, kể về truyền thuyết 24 đức tính Hiếu Hạnh của con người.

Năm Ất Dậu (1885), Đồng Khánh lên ngôi, truy tôn ông là Ôn Nghị Kiên vương (溫毅堅王). Đến năm 1888, gia tặng làm Hoàng thúc phụ Kiên Thái vương (皇叔父堅太王), đổi thụy hiệu là Thuần Nghị như cũ, lăng gọi là Thiên Thành cục (天成局), cư tại Thiên Hoàng Long sơn (天皇龍山).

Dân gian Huế có câu ca:

"Một nhà sinh được ba vua.
Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài" 

là để nói về hoàn cảnh gia đình đặc biệt của ông.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Bùi Thị Thanh (裴氏清, 1845 - 1900), được gọi là Hoàng thúc mẫu (皇叔母). Sau khi mất thụy tặng làm Đoan Nhu Kiên Thái vương phi (端柔堅太王妃). Táng tại phủ Thừa Thiên, huyện Hương Thủy.
  2. Phan Thị Nhàn (潘氏嫻; ? - 1889).

Con với bà Bùi Thị Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Con với bà Phan Thị Nhàn[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phả hệ tộc Nguyễn Phúc của Christopher Buyers
  2. ^ “Ung Quyen, prince of Annam, * 1871”. Truy cập 13 tháng 7 năm 2014. 
  3. ^ “Bảo Đại, hay là những ngày cuối cùng của vương triều An Nam”. Truy cập 17 tháng 5 năm 2015. 
  4. ^ “Nguyen Huu Bich Tien”. Truy cập 17 tháng 5 năm 2015. 
  5. ^ “Ung, prince of Annam”. Truy cập 13 tháng 7 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]