Trương Thị Vĩnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tam giai Kỷ Tần
Thiệu Trị đế Tam giai Tần
Thông tin chung
Phu quânNguyễn Hiến Tổ
Tước hiệuTài nhân (才人)
Kỷ Tần (紀嬪)
Thân phụKhông rõ
MấtKhông rõ

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nhập cung[sửa | sửa mã nguồn]

Tam giai Kỷ Tần Trương Thị Vĩnh, còn có tên khác là Nghĩa () không rõ thông tin về gia đình bà.

Bà nhập cung năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) được sơ phong Tài nhân, thuộc hàng Cửu giai gọi là Cửu giai Tài nhân (九階才人).

Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), bà hạ sinh Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai (堅太王阮福洪侅).

Vinh quang cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), Thiệu Trị băng hà. Cứ ngỡ với thân phận Tài nhân nhỏ bé, bà sẽ phải sống an phận, chật vật phần đời còn lại của mình.

Vào năm Tự Đức 36 (1883), Tự Đức băng hà, hai quyền thần Tôn Thất ThuyếtNguyễn Văn Tường lộng hành phế lập liên tiếp 2 vị vua Dục ĐứcHiệp Hoà.

Sau Kiến Phúc lên nối ngôi là con của Kiên Thái Vương, tức là cháu trai của bà. Kiến Phúc sau khi băng hà Hàm Nghi tiếp tục đăng cơ, cũng là con trai của Kiên Thái Vương Hồng Cai.

Sau khi Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, triều đình Huế lại lập người con khác của Hồng Cai lên làm vua lấy niên hiệu Đồng Khánh.

Như vậy bà là Hoàng tổ mẫu của tận 3 vị hoàng đế, nhưng do không phải chính thất của Thiệu Trị là bà Từ Dụ, nên trên danh nghĩa bà Từ Dụ mới là Hoàng tổ mẫu của 3 vị vua trên.

Năm Khải Định thứ 2 (1916), Khải Định quyết định phong tặng cho bà làm Tam giai Kỷ Tần.

Trên mặt danh nghĩa bà không phải là thân sinh Phúc Kiến, Hàm Nghi hay Đồng Khánh. Nhưng về huyết thống thì bà là Hoàng tổ mẫu của cả ba vị vua này. Ngoài ra bà còn là Tằng tổ mẫu của Khải Định và là Cao tổ mẫu của Bảo Đại, vì Khải ĐịnhBảo Đại đều là con và cháu của Đồng Khánh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Nam Thực Lục
  • Đại Nam Liệt Truyện
  • Chuyện các bà trong cung nhà Nguyễn