Thụy Thái Vương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Nguyễn Phúc Hồng Y)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thụy Thái vương
瑞太王
Vương gia nhà Nguyễn
Thông tin chung
Thê thiếp Lê Thị Ứng
Trần Thị Nga
Hậu duệ
Tên đầy đủ Nguyễn Phúc Hồng y (阮福洪依)
Tước vị Kiến Thụy Công[1],
Thoại Thái Vương.
Thụy hiệu Đôn Chính Thụy Thái vương
(敦正瑞太王)
Hoàng tộc Nhà Nguyễn
Thân phụ Nguyễn Hiến Tổ
Thiệu Trị hoàng đế
Thân mẫu Nguyễn Thị Xuyên
Sinh 11 tháng 9 năm 1833
Huế, Việt Nam
Mất 23 tháng 2, 1877 (43 tuổi)

Nguyễn Phúc Hồng Y (chữ Hán: 阮福洪依, 11 tháng 9 năm 1833 - 23 tháng 2 năm 1877), hay còn gọi với tôn hiệu Thụy Thái vương (瑞太王), là con trai thứ tư của Nguyễn Hiến Tổ Thiệu Trị hoàng đế. Ông là cha ruột của Nguyễn Cung Tông Dục Đức.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Hồng Y sinh ngày 11 tháng 9 năm 1833, mẹ ông là Thục phi Nguyễn Thị Xuyên. Lúc đó Thiệu Trị vẫn còn là Hoàng tử và ông nội ông Nguyễn Thánh Tổ Minh Mạng vẫn đang trị vì. Thuở nhỏ ông học rộng, văn chương xuất sắc, có biểu tựQuân Bác (君博).

Năm 1846, khi đã 13 tuổi, ông được phong là Kiến Thụy công (建瑞公). Năm 1848, trong một dịp, ông đã cùng Tự ĐứcTùng Thiện vương Miên Thẩm và Tuy Lý vương Miên Trinh xướng hoạ. Đương thời, ông được Tự Đức cũng như triều thần quý mến, nể trọng. Khi Tự Đức hiếm muộn, con trai ông Ưng Chân được nhận làm con nuôi của Tự Đức.

Năm 1877, tháng 2, Kiến Thụy công Hồng Y qua đời, thọ 44 tuổi, ông được Tự Đức truy tặng làm Kiến Thụy quận vương (建瑞郡王) và ban thụy hiệuTuệ Đạt (慧達).

Năm 1883, Tự Đức giá băng, Hoàng trưởng tử Ưng Chân nhận chiếu được nối ngôi, tức Dục Đức. Nhưng mới lên ngôi được 3 ngày sau thì Dục Đức đã bị hai quyền thần là Tôn Thất ThuyếtNguyễn Văn Tường lật đổ[2].

Đến năm 1889, con trai của Dục Đức, tức cháu nội ông là Bửu Lân kế vị, sử gọi Thành Thái. Năm thứ 9 trị vì, Thành Thái Đế truy tôn ông nội Kiến Thụy quận vương Hồng Y làm Thụy Thái vương (瑞太王), thụy hiệuĐôn Chính (敦正), lập đền tế tự tại phủ Thừa Thiên, huyện Hương Trà.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chính thất: Lê Thị Ứng (黎氏應; ? - 1859), thụy tôn Thụy Thái vương phi (瑞太王妃), hiệu Trang Thục (莊淑).
  • Thứ thất: Trần Thị Nga (陳氏娥; 1832 - 1911), thụy là Đoan Thục phu nhân (端淑夫人).
  • Thiếp: Nguyễn Hữu Thị Ngộ (阮有氏遇).
  • Thiếp: Nguyễn Văn Thị Thái (阮文氏態).
  • Hậu duệ: Ông tổng cộng có 43 con trai và 24 con gái, trong đó có:
  1. Kiến Thụy quận công Nguyễn Phúc Ưng Khánh (建瑞郡公阮福膺磬), mẹ là Lê Thái phi, sinh năm 1852, ông có con là Nguyễn Phúc Bửu Thạch (阮福寶石), sinh năm 1875, mất năm 1914, không có con. Tập phong Kiến Thụy hương công (建瑞鄉公).
  2. Nguyễn Phúc Ưng Chân [阮福膺禛], tức Cung Tông Huệ hoàng đế (恭宗惠皇帝), mẹ là Trần Thị Nga.
  3. Nguyễn Phúc Ưng Phức (阮福膺馥), mẹ Nguyễn Hữu thị, sinh năm 1852.
  4. Nguyễn Phúc Ưng Phỉ (阮福膺馡), mẹ Nguyễn Văn thị, sinh năm 1854.
  5. Thiện Niệm (善念), bà là vợ của ông Diệp Văn Cương. Vì lẽ đó Thành Thái là cháu ruột của bà nên ông Diệp Văn Cương mới giúp Thành Thái lên ngôi[3]. Bà là con gái duy nhất của Hồng y được biết tên.[4]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là một người học cao hiểu rộng được tôn trọng trong triều nên có nhiều sách do ông viết:

  • Hậu uyển tập xạ
  • Thị học tụng
  • Tích ung canh ca hội tập

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phả hệ tộc Nguyễn Phúc của Christopher Buyers
  2. ^ Danh sĩ Nguyễn Phúc Hồng Y
  3. ^ Xem thêm "Các đời vua chúa nhà Nguyễn: Chín chúa, Mười ba vua", tác giả Trần Quỳnh Cư, Trần Việt Quỳnh, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2006. Trang 193
  4. ^ Phả hệ Tộc Nguyễn Phúc của Christopher Buyers

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]