Danh sách những cuộc nhường ngôi trong lịch sử Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Dưới đây là danh sách ghi nhận những cuộc nhường ngôi trong lịch sử Việt Nam:

Tự nguyện nhường ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Nhường ngôi nhưng vẫn giữ quyền nhiếp chính[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Năm 1258, Trần Thái Tông Trần Cảnh truyền ngôi cho thái tử Trần Hoảng rồi lui về Bắc cung,[1][2][3][4][5] được tôn là Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái thượng hoàng đế.[6] Ông duy trì ngôi vị này 19 năm cho đến khi qua đời, thọ 58 tuổi.[7] Lệ Thái thượng hoàng của nhà Trần - có gốc rễ bởi Trần Thái Tổ do Trần Thủ Độ khởi xướng - từ đó trở thành truyền thống, thứ nhất để tránh việc tranh giành ngôi báu giữa các hoàng tử do đã sớm được định đoạt[8], tiếp đến là rèn luyện cho tân quân làm quen với việc cai trị đất nước[9], và điều thứ ba quan trọng nhất là đề phòng bất trắc khi có biến loạn mỗi người sẽ đi ngả, người này nếu gặp sự cố vẫn còn người kia để cáng đáng mọi việc[10][11] Thực chất, khi Thái thượng hoàng chưa băng hà thì vai trò của nhà vua chẳng khác nào một thái tử, sở dĩ những vị quân chủ nhà Trần sau khi từ nhiệm tôn hiệu đều có chữ Nghiêu bởi họ tự coi mình như vua Nghiêu, và người nhận ngôi được xem như vua Thuấn[12]
  2. Năm 1278, Trần Thánh Tông Trần Hoảng truyền ngôi cho thái tử Trần Khâm[5][13][14][15][16], được tôn làm Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái thượng hoàng đế.[17][18] Ông giữ ngôi vị được 12 năm thì tạ thế, thọ 51 tuổi.[19][20][21]
  3. Năm 1293, Trần Nhân Tông Trần Khâm truyền ngôi cho thái tử Trần Thuyên,[2][22][23][24][25] được tôn là Hiến Nghiêu Quang Thánh Thái thượng hoàng đế.[26][27][28] Năm 1299, ông xuất gia đạo hiệu là Đầu Đà Hoàng Giác Điều Ngự, trở thành thủy tổ của thiền phái Trúc Lâm[29]. tu hành được 15 năm thì viên tịch tại am Ngọa Vân núi Yên Tử, thọ 50 tuổi.[30][31][32]
  4. Năm 1314, Trần Anh Tông Trần Thuyên truyền ngôi cho thái tử Trần Mạnh[25][33][34][35], được tôn là Quang Nghiêu Duệ Vũ Thái thượng hoàng đế.[36][37] Ông từ trần 6 năm sau đó tại cung Trùng Quang, hưởng dương 47 tuổi.[30][38][39][40]
  5. Năm 1329, Trần Minh Tông Trần Mạnh truyền ngôi cho thái tử Trần Vượng [25][41][42][43], được tôn là Chương Nghiêu Văn Triết Thái thượng hoàng đế[37][44]. Ông băng hà tại cung Bảo Nguyên sau 28 năm giữ ngôi, thọ 58 tuổi.[45][46][47][48]
  6. Năm 1372, Trần Nghệ Tông Trần Phủ sau 3 năm chấp chính đã nhường lại ngai vàng cho em là thái tử Trần Kính để lui về làm Thái thượng hoàng.[49][50][51][52][53][54][55] Tuy nhiên, ông vẫn là người cai trị thực tế suốt 23 năm sau đó, trải 3 đời vua cho đến lúc quy tiên, thọ 74 tuổi.[56][57]
  7. Cuối năm 1400, Đại Ngu Thánh Nguyên Đế Hồ Quý Ly nhường ngôi cho con thứ Hồ Hán Thương rồi tự xưng là Thái thượng hoàng[58], tuy nhiên ông vẫn trực tiếp điều hành chính sự[59][60][61][62][63][64]. Năm 1407, tướng Trương Phụ của nhà Minh đem binh tiến đánh An Nam, cha con họ Hồ bại trận bị bắt đưa về phương Bắc,[65] kết cục cả hai đều bị giết trên đường giải đến Yên Kinh, lúc đó Hồ Quý Ly đã 72 tuổi,[66] có thuyết khác lại nói 2 người bị lưu đày mấy năm sau mới chết.[67]
  8. Năm 1529, Mạc Thái Tổ Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho Thái tử Mạc Đăng Doanh rồi lên làm Thái thượng hoàng.[68][69][70][71][72] Ông giữ ngôi vị này trong 13 năm, trải qua hai đời vua thì băng hà, thọ 59 tuổi.[67][73][74][75][76][77]

Nhường ngôi do tác động từ ngoại cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Năm 1592, Mạc Mục Tông Mạc Mậu Hợp trong tình hình bị quân Trịnh vây hãm Thăng Long đã hạ chiếu chỉ nhường ngôi cho con thứ là Mạc Cảnh Tông Mạc Toàn làm vua[78][79] để giữ việc nước còn mình thân chinh cầm quân chống nhau với Nam Triều.[80][81] Tuy nhiên, trong một trận giao chiến với quân nhà Lê, quân Mạc thảm bại, Mạc Mậu Hợp trốn vào chùa Mô Khê cạo đầu giả làm sư nhưng vẫn bị bắt và đem chém ở bãi cát Bồ Đề[82], hưởng dương 33 tuổi. Ít lâu sau, Mạc Toàn cũng chịu chung số phận như cha nhưng pháp trường hành quyết là bến Thảo Tân.[83][84][85][86]
  2. Năm 1643, Lê Thần Tông Lê Duy Kỳ sau 25 năm cầm quyền do ngán ngẩm trước cảnh lộng quyền lấn át của chúa Trịnh nên đã quyết định nhường ngôi cho con là Lê Duy Hựu rồi lui về làm Thái thượng hoàng[87][88][89][90][91], việc thay đổi ngôi vị này duy trì được 7 năm thì Lê Chân Tông mắc bệnh qua đời mà không có con nối dõi.[92] Thanh Đô Vương Trịnh Tráng thuyết phục Thái thượng hoàng trở lại làm vua, ông tiếp tục trị vì đất nước thêm 13 năm nữa thì tạ thế, thọ 56 tuổi.[93][94]
  3. Năm 1705, Lê Hy Tông Lê Duy Cáp cũng bởi chán ghét cảnh chúa Trịnh chuyên quyền nên nhường ngôi cho Thái tử Lê Duy Đường rồi lui về làm Thái thượng hoàng[95][96], giữ ngôi vị được 12 năm thì chết, thọ 54 tuổi.[97][98][99][100][101]

Không tự nguyện nhường ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Năm 1224, Lý Huệ Tông Lý Sảm trong tình trạng cuồng loạn đã bị quyền thần Trần Thủ Độ bức phải nhường ngôi cho con gái là Chiêu Thánh công chúa Lý Phật Kim[102][103] để đi tu ở chùa Bút Tháp với pháp danh Huệ Quang đại sư[104][105][106][107][108], ông làm hòa thượng được 2 năm, có lần ra đường dân chúng nhìn thấy tỏ vẻ thương cảm. Trần Thủ Độ sợ lòng dân còn tưởng nhớ đến nhà Lý bèn đưa cựu hoàng đến chùa Chân Giáo trong đại nội.[109][110] Một hôm, Thủ Độ đến chùa Chân Giáo gặp lúc sư Huệ Quang đang nhổ cỏ liền nói:"nhổ cỏ thì phải nhổ cả rễ sâu". Đại sư biết ý liền thắt cổ tự vẫn sau đó ít lâu, hưởng dương 33 tuổi.[111][112]
  2. Năm 1225, Lý Chiêu Hoàng Lý Phật Kim trao ngai vàng cho chồng là Trần Cảnh,[103][113][114][115][116] lúc đó do nữ vương còn nhỏ chưa hiểu rõ sự đời nên Thái sư Trần Thủ Độ lợi dụng giàn dựng màn kịch nhường ngôi để che mắt thế gian.[105][107][117] Sau khi thoái vị bà được lập làm Chiêu Thánh hoàng hậu, do không có con nên bà bị phế truất và ép gả cho Lê Phụ Trần,[118] sau đó bà về quê Cổ Pháp và mất ở đó, thọ 61 tuổi.[111][119]
  3. Năm 1398, Trần Thuận Tông Trần Ngung bị ngoại thích Hồ Quý Ly khống chế ép phải nhường ngôi cho thái tử Trần An[120][121][122], được tôn là Thái thượng Nguyên Quân hoàng đế.[66][123] Đầu tiên, ông lui về cung Bảo Thanh ở núi Đại Lại an dưỡng, sau đó bị đưa ra quán Ngọc Thanh để xuất gia thờ Đạo giáo.[124][125] Hồ Quý Ly mấy lần sai người đến đầu độc nhưng Thượng hoàng không chết, cuối cùng phái tướng Phạm Khả Vĩnh đến trực tiếp thắt cổ, lúc đó Trần Ngung mới 23 tuổi.[126][127]
  4. Đầu năm 1400, Trần Thiếu Đế Trần An bị ngoại thích Hồ Quý Ly ép phải nhường ngôi cho mình,[122] sau 3 lần giả vờ từ chối vì lý do tuổi cao sức yếu, ông ta mới tiếp nhận ngai vàng, lập ra nhà Hồ, đổi quốc hiệu là Đại Ngu.[66][128] Trần An bị giáng làm Bảo Ninh Đại vương, vì là cháu ngoại Quý Ly nên thoát khỏi bị giết, sau mất khi nào không rõ[126][129][130][131].
  5. Năm 1527, Lê Cung Hoàng Lê Xuân bị quyền thần Thái sư An Hưng vương Mạc Đăng Dung ép phải xuống chiếu nhường ngôi cho mình.[73][132][133][134][135][136] Sau khi nhường ngôi, Lê Xuân bị giáng xuống làm Cung vương rồi được đưa vào giam lỏng ở Tây Nội, vài tháng sau bị Mạc Thái Tổ ép phải tự tử, hưởng dương 21 tuổi.[67][137][138][139]
  6. Năm 1729, Lê Dụ Tông Lê Duy Đường bị chúa Trịnh Cương ép phải nhường ngôi cho thái tử Lê Duy Phường,[96][140] ông lui về cung Kiền Thọ xưng là "Thuận Thiên thừa vận hoàng thượng" được 3 năm thì mất, thọ 52 tuổi.[99][141][142][143]
  7. Năm 1740, Lê Ý Tông Lê Duy Thận bị chúa Trịnh Doanh ép nhường ngôi cho cháu là Lê Duy Diêu để lui về làm Thái thượng hoàng,[144][145][146] ông giữ chức vụ này được 20 năm thì qua đời, hưởng dương 41 tuổi.[147][148][149][150][151]
  8. Năm 1907, nhân dịp Nguyễn Thành Thái Phế Đế Nguyễn Phúc Bửu Lân không phê chuẩn việc bổ nhiệm một số quan lại đã được Khâm sứ Lévêque và Hội đồng Thượng thư thỏa thuận, Lévêque đã tuyên bố truất quyền và quản thúc nhà vua trong Đại nội. Một Hội đồng Phụ chính do Trương Như Cương cầm đầu được thành lập. Không lâu sau, triều thần theo lệnh của nước mẹ Đại Pháp vào điện Càn Thanh dâng vua dự thảo chiếu thoái vị, có chữ ký của các đại thần, với lý do sức khoẻ không bảo đảm, xin tự nguyện thoái vị để nhường ngôi cho hoàng tử thứ 8 là Nguyễn Phúc Vĩnh San. Xem xong bản dự thảo, Thành Thái chỉ cười, ghi ngay hai chữ "phê chuẩn" rồi quay lưng đi vào. Do người Pháp không chấp nhận ngôi vị Thái thượng hoàng, thành thử vua Duy Tân chỉ dám tôn xưng cha là Hoàng Phụ Hoàng Đế.[152] Ông bị đưa đi quản thúc ở Cap Saint Jacques (Vũng Tàu ngày nay). Đến nǎm 1916, ông đày ra đảo Réunion cùng với con trai là vua Duy Tân. Ông mất ngày 24 tháng 3 năm 1954 và được an táng tại khuôn viên thành An Lăng (lăng Dục Đức) tại xã An Cựu, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên - Huế, thọ 75 tuổi.

Danh sách những cuộc nhường ngôi không phải do quân chủ thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Năm 980, Thái hậu Dương Vân Nga của nhà Đinh trong bối cảnh quân Tống sắp kéo sang đánh Đại Cồ Việt, nhận thấy các tướng sĩ đều thuận việc tôn Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên làm vua để lãnh đạo kháng chiến.[153] Với tư cách nhiếp chính của triều đình lúc bấy giờ, bà đã đem áo long cổn của con trai mình là Đinh Thiếu Đế Đinh Toàn khoác lên mình nhân vật này, mở ra triều đại Tiền Lê.[154][155][156][157] Về phần Đinh Toàn, bị giáng làm Vệ Vương,[158] đến năm 1001 đi cùng Lê Hoàn dẹp loạn Cử Long ở vùng Cẩm Thủy (tỉnh Thanh Hóa ngày nay), ông bị trúng tên chết khi ở độ tuổi 27.[159][160]
  2. Năm 1517, do bất mãn với sự tàn bạo các vua Lê Uy MụcLê Tương Dực, một người dân thường là Trần Cảo đã đứng lên hô hào quần chúng nổi dậy tổ chức vũ trang chống lại triều đình, ông tự xưng là "Đế Thích giáng sinh".[161] Sau những thất bại liên tiếp trong chiến sự với quân nhà Lê nên cảm thấy chán nản, Trần Cảo quyết định truyền ngôi cho con là Trần Thăng rồi thay tên đổi họ xuống tóc đi tu biệt tích.[162][163][164] Trần Thăng lãnh đạo nghĩa quân thêm được vài năm thì bị đại tướng nhà Lê là Mạc Đăng Dung dẹp tan, bị bắt sống giải về kinh thành Thăng Long hành quyết.[165]
  3. Năm 1569, Trịnh Thế Tổ Trịnh Kiểm do đau nặng nên xin phép vua Lê Anh Tông cho mình trao lại binh quyền cho con trưởng là Tuấn Đức hầu Trịnh Cối để lui về nghỉ ngơi.[166][167][168][169] Chưa đầy năm sau, ông qua đời, thọ 67 tuổi.[170][171] Về phần Trịnh Cối do ham mê tửu sắc nên các tướng lĩnh không phục tổ chức bạo loạn đánh đuổi phải chạy về hàng nhà Mạc rồi chết ở Bắc triều, em khác mẹ của ông là Bình An vương Trịnh Tùng quần thần được suy tôn làm chúa.[172][173]
  4. Năm 1645, Trịnh Văn Tổ Trịnh Tráng cảm thấy đã già yếu nên xin phép vua Lê Thần Tông phong cho con thứ hai là Trịnh Tạc làm Thái úy Tây quốc công, thay mình trông coi việc nước.[90][174] Năm 1652, Trịnh Tráng được nhà Minh phong làm Phó quốc vương, ông liền thăng cho Trịnh Tạc chức Nguyên soái chưởng quốc chính Tây Định Vương.[175][176] Về danh nghĩa Trịnh Tạc đã thay cha nắm giữ quyền lực, tuy vậy Trịnh Tráng vẫn nhiếp chính thêm 5 năm nữa cho đến lúc qua đời, thọ 81 tuổi.[177][178]
  5. Năm 1736, Trịnh Dụ Tổ Trịnh Giang do đam mê chơi bời sa đọa, chẳng thiết gì chuyện quốc gia đại sự nên đã trao quyền nhiếp chính cho em là Minh Đô Vương Trịnh Doanh để có nhiều thời gian cho việc hưởng lạc của mình.[179] Điều này khiến hoạn quan lộng hành, dân chúng căm phẫn, giặc cỏ nổi loạn khắp nơi, tình hình chính trị bất ổn hết sức nguy ngập.[147] Năm 1740, các tướng đứng đầu là Nguyễn Quý Cảnh, Nguyễn Công TháiVũ Công Tể được sự đồng thuận của Vương thái phi Vũ thị đã tổ chức chính biến lật đổ nhà chúa, hợp pháp hóa quyền lực cho Trịnh Doanh.[148] Trịnh Giang được tôn là Thái thượng vương,[144][180] bị đưa ra lánh tại cung Thưởng Trì và ở đây cho đến khi qua đời, thọ 52 tuổi.[181][182]
  6. Năm 1776, trong tình thế quân Tây Sơn đuổi đánh phải chạy đến Gia Định, Định vương Nguyễn Phúc Thuần bị hàng tướng người Hoa kiều là Lý Tài ép phải nhường ngôi cho Đông cung Nguyễn Phúc Dương để phối hợp cùng nhau mưu đồ khôi phục.[183][184] Nguyễn Phúc Dương tự xưng là Tân Chính vương, tôn Nguyễn Phúc Thuần làm Thái thượng vương.[185][186] Chưa đầy 1 năm sau, quân Tây Sơn do Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ, kéo xuống Gia Định đánh bại nhị vương. Tân Chính vương bị quân Tây Sơn bắt sống, đưa về xử tử tại Gia Định vào ngày Tân Hợi tháng Tám (tức 19 tháng 9 năm 1777).[187] Một tháng sau, Thái Thượng vương Nguyễn Phúc Thuần cũng bị quân Tây Sơn bắt được và hành quyết vào ngày Canh Thìn tháng Chín (tức 18 tháng 10 năm 1777), hưởng dương 24 tuổi.[188][189][190]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ An Nam chí lược, quyển 13 đời thứ 2
  2. ^ a ă Nguyên sử, quyển 209
  3. ^ Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, sđd, trang 170
  4. ^ Trường Khánh, sđd, trang 87
  5. ^ a ă Lê Thành Lân, sđd, trang 361
  6. ^ Toàn thư, sđd, trang 226
  7. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Trần Thái Tông
  8. ^ Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 56-57
  9. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 1 trang 128
  10. ^ Cương mục, Chính biên 6
  11. ^ Hồ Đức Thọ, sđd, trang 19
  12. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 113
  13. ^ An Nam chí lược, quyển 13 đời thứ 3
  14. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 116
  15. ^ Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, sđd, trang 177
  16. ^ Trường Khánh, sđd, trang 93
  17. ^ Toàn thư, sđd, trang 234
  18. ^ Cương mục, Chính biên 7
  19. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 1 trang 130
  20. ^ Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 57
  21. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Trần Thánh Tông
  22. ^ An Nam chí lược, quyển 13 đời thứ 4
  23. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 118
  24. ^ Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, sđd, trang 194
  25. ^ a ă â Lê Thành Lân, sđd, trang 362
  26. ^ Toàn thư, sđd, trang 249
  27. ^ Cương mục, Chính biên 8
  28. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Trần Nhân Tông
  29. ^ Tam Tổ thực lục, Trần Nhân Tông
  30. ^ a ă Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 58
  31. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 1 trang 131
  32. ^ Trường Khánh, sđd, trang 107 và 118
  33. ^ An Nam chí lược, quyển 13 đời thứ 5
  34. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 131
  35. ^ Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, sđd, trang 203
  36. ^ Toàn thư, sđd, trang 268
  37. ^ a ă Cương mục, Chính biên 9
  38. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 1 trang 168
  39. ^ Trường Khánh, sđd, trang 126
  40. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Trần Anh Tông
  41. ^ An Nam chí lược, quyển 13 đời thứ 6
  42. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 135
  43. ^ Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, sđd, trang 207
  44. ^ Toàn thư, sđd, trang 277
  45. ^ Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 59
  46. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 1 trang 169
  47. ^ Trường Khánh, sđd, trang 136
  48. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Trần Minh Tông
  49. ^ Toàn thư, sđd, trang 302
  50. ^ Cương mục, Chính biên 10
  51. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 138
  52. ^ Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, sđd, trang 222
  53. ^ Trường Khánh, sđd, trang 160-161
  54. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Trần Nghệ Tông
  55. ^ Lê Thành Lân, sđd, trang 363
  56. ^ Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 61
  57. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 1 trang 177
  58. ^ Trường Khánh, sđd, trang 26
  59. ^ Toàn thư, sđd, trang 328
  60. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 1 trang 190
  61. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 148
  62. ^ Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, sđd, trang 236
  63. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Hồ Quý Ly
  64. ^ Lê Thành Lân, sđd, trang 365
  65. ^ Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 68
  66. ^ a ă â Cương mục, Chính biên 11
  67. ^ a ă â Minh sử, quyển 321
  68. ^ Toàn thư, sđd, trang 573
  69. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 2 trang 16
  70. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 203
  71. ^ Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, sđd, trang 288
  72. ^ Lê Thành Lân, sđd, trang 370
  73. ^ a ă Cương mục, Chính biên 27
  74. ^ Lê Quý Đôn, sđd, trang 269
  75. ^ Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 88
  76. ^ Hoàng Lê, sđd, trang 78
  77. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Mạc Đăng Dung
  78. ^ Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 91
  79. ^ Lê Thành Lân, sđd, trang 372
  80. ^ Lê Quý Đôn, sđd, trang 358
  81. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 2 trang 24
  82. ^ Toàn thư, sđd, trang 609
  83. ^ Cương mục, Chính biên 29
  84. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 218-219
  85. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Mạc Mậu Hợp
  86. ^ Hoàng Lê, sđd, trang 99-102
  87. ^ Toàn thư, sđd, trang 641
  88. ^ Cương mục, Chính biên 31
  89. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 2 trang 7
  90. ^ a ă Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, sđd, trang 313
  91. ^ Lê Thành Lân, sđd, trang 373
  92. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 232-333
  93. ^ Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 81
  94. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Lê Thần Tông
  95. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 237
  96. ^ a ă Lê Thành Lân, sđd, trang 375
  97. ^ Đại Việt sử ký tục biên, quyển 20
  98. ^ Cương mục, Chính biên 34
  99. ^ a ă Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 83
  100. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 2 trang 9
  101. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Lê Hy Tông
  102. ^ Trường Khánh, sđd, trang 72
  103. ^ a ă Lê Thành Lân, sđd, trang 360
  104. ^ An Nam chí lược, quyển 12 mục Hạo-Sám
  105. ^ a ă Cương mục, Chính biên 5
  106. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 99
  107. ^ a ă Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, sđd, trang 156
  108. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Lý Huệ Tông
  109. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 1 trang 121
  110. ^ Hồ Đức Thọ, sđd, trang 17
  111. ^ a ă Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 52
  112. ^ Toàn thư, sđd, trang 210 và 214
  113. ^ An Nam chí lược, quyển 12 mục Chiêu Thánh
  114. ^ Toàn thư, sđd, trang 211
  115. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 1 trang 116
  116. ^ Trường Khánh, sđd, trang 73
  117. ^ Hồ Đức Thọ, sđd, trang 18
  118. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 101
  119. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Lý Chiêu Hoàng
  120. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 145
  121. ^ Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, sđd, trang 234
  122. ^ a ă Lê Thành Lân, sđd, trang 364
  123. ^ Toàn thư, sđd, trang 324
  124. ^ Trường Khánh, sđd, trang 25 và 181
  125. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Trần Thuận Tông
  126. ^ a ă Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 62
  127. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 1 trang 186
  128. ^ Toàn thư, sđd, trang 327
  129. ^ Trường Khánh, sđd, trang 184
  130. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 1 trang 189
  131. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Trần Thiếu Đế
  132. ^ Toàn thư, sđd, trang 571
  133. ^ Lê Quý Đôn, sđd, trang 264-265
  134. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 198 và 201
  135. ^ Hoàng Lê, sđd, trang 76-77
  136. ^ Lê Thành Lân, sđd, trang 369
  137. ^ Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 78
  138. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 1 trang 275
  139. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Lê Cung Hoàng
  140. ^ Cương mục, Chính biên 37
  141. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 2 trang 10
  142. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 238
  143. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Lê Dụ Tông
  144. ^ a ă Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 2 trang 11
  145. ^ Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, sđd, trang 349
  146. ^ Lê Thành Lân, sđd, trang 376
  147. ^ a ă Cương mục, Chính biên 38
  148. ^ a ă Đại Việt sử ký tục biên, quyển 22
  149. ^ Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 84
  150. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 242
  151. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Lê Ý Tông
  152. ^ Đại Nam thực lục chính biên, kỷ đệ lục phụ biên - quyển 19
  153. ^ Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, sđd, trang 77
  154. ^ An Nam chí lược, quyển 11
  155. ^ Toàn thư, sđd, trang 133
  156. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 1 trang 88
  157. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Dương Vân Nga
  158. ^ Lê Thành Lân, sđd, trang 355
  159. ^ Cương mục, Chính biên 1
  160. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 70-71
  161. ^ Lê Quý Đôn, sđd, trang 247
  162. ^ Toàn thư, sđd, trang 556
  163. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 1 trang 269
  164. ^ Lê Thành Lân, sđd, trang 390
  165. ^ Cương mục, Chính biên 26
  166. ^ Đại Việt thông sử, sđd, trang 315
  167. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 280
  168. ^ Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, sđd, trang 295
  169. ^ Lê Thành Lân, sđd, trang 391
  170. ^ Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 94
  171. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Trịnh Kiểm
  172. ^ Cương mục, Chính biên 28
  173. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 2 trang 20
  174. ^ Lê Thành Lân, sđd, trang 392
  175. ^ Toàn thư, sđd, trang 643
  176. ^ Cương mục, chính biên 32
  177. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 290
  178. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Trịnh Tráng
  179. ^ Các triều đại Việt Nam, sđd, trang 303
  180. ^ Lê Thành Lân, sđd, trang 394
  181. ^ Thế thứ các triều vua Việt Nam, sđd, trang 97
  182. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Trịnh Giang
  183. ^ Nguyễn Đắc Xuân, sđd, trang 120
  184. ^ Lê Thành Lân, sđd, trang 399
  185. ^ Danh tướng Việt Nam, sđd, mục Nguyễn Huệ
  186. ^ Việt Nam sử lược, sđd, Quyển 2 trang 106
  187. ^ Đại Nam thực lục tiền biên, sđd, trang 259 và 263
  188. ^ Hồ Công tộc, sđd, mục Nguyễn Phúc Thuần
  189. ^ Các đời vua chúa nhà Nguyễn - 9 chúa 13 vua, sđd, trang 66
  190. ^ Nguyễn Phước tộc giản yếu, ngài Nguyễn Phúc Thuần