Lê Long Đĩnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Lê Ngọa Triều)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Đế Long Đĩnh
黎帝龍鋌
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Lelongdinh.jpg
Tượng Lê Long Đĩnh ở cố đô Hoa Lư
Vua nhà Tiền Lê
Trị vì 10051009
Tiền nhiệm Lê Trung Tông
Kế nhiệm Triều đại sụp đổ
Thông tin chung
Hậu duệ
Tên húy Lê Long Đĩnh (黎龍鋌)
Lê Chí trung (黎至忠)
Niên hiệu Ứng Thiên (應天)
Cảnh Thụy (景瑞)
Thụy hiệu Ngọa Triều Hoàng Đế
臥朝皇帝
Triều đại Nhà Tiền Lê
Thân phụ Lê Đại Hành
Thân mẫu Chi hậu Diệu Nữ
Sinh 15 tháng 11, 986
Mất 19 tháng 11, 1009 (23 tuổi)
Đại Cồ Việt

Lê Long Đĩnh (chữ Hán: 黎龍鋌; 15 tháng 11, 98619 tháng 11, 1009), còn gọi là Lê Ngọa Triều (黎臥朝), là vị hoàng đế cuối cùng của nhà Tiền Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì 4 năm từ năm 1005 đến năm 1009. Cái chết bí ẩn của ông ở tuổi 24 dẫn đến việc chấm dứt nhà Tiền Lê, quyền lực rơi vào tay nhà Lý.

Trong sử sách, Lê Long Đĩnh thường được nhắc đến với tật xấu của một kẻ dâm đãng, tàn bạođộc ác. Tuy nhiên gần đây xuất hiện các ý kiến cho rằng một số điều xấu của ông chỉ là thêu dệt, thậm chí bịa đặt. Ông được coi là vị Hoàng đế bị "đóng đinh" trong lịch sử Việt Nam[1][2][3].

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Long Đĩnh còn có tên là Lê Chí Trung (黎至忠), sinh vào tháng 10, ngày Bính Ngọ, năm Bính Tuất[4] (tức 15 tháng 11 năm 986), là con trai thứ 5 của Lê Đại Hành. Sử không chép rõ tên mẹ ông, chỉ ghi là Chi hậu diệu nữ hoặc sơ hầu di nữ, và ghi ông là em cùng mẹ với Lê Long Việt.

Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ) chép rằng năm Hưng Thống thứ 4 (992), ông được Lê Đại Hành phong tước Khai Minh vương (開明王), cho thực ấp ở Đằng Châu (Hưng Yên ngày nay)[5].

Năm Ứng Thiên thứ 11 (1004), Lê Đại Hành đã có ý phong Long Đĩnh làm Thái tử, nhưng vì triều thần có ý kiến, nên chỉ phong Lê Long Đĩnh làm Đại vương (大王) và để cho người anh trai là Lê Long Việt làm Thái tử.

Tranh đoạt Hoàng vị[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Lê Đại Hành mất vào tháng 3 năm 1005, Lê Long Đĩnh cùng các hoàng tử khác như Đông Thành Đại vương Lê Long Tích (黎龍錫), Trung Quốc vương Lê Long Kính (黎龍鏡) tranh giành hoàng vị với Thái tử Lê Long Việt.

Tháng 10, năm 1005, Lê Long Tích chạy vào châu Thạch Hà thì bị giết, Lê Long Việt lên ngôi. Nhưng được 3 ngày thì Lê Long Đĩnh giết anh và giành ngôi[6][7][8].

Lê Long Đĩnh xưng là Khai Thiên Ứng Vận Thánh Văn Thần Vũ Tắc Thiên Sùng Đạo Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng đế (開天應運聖文神武則天崇道大勝明光孝皇帝), truy đặt tên Lê Long Việt là Trung Tông hoàng đế (中宗皇帝); truy tôn mẹ là Hưng Quốc Quảng Thánh Hoàng Thái Hậu (興國廣聖皇太后).

Ông lập 4 hoàng hậu; phong con trưởng là Sạ làm Khai Phong vương (開封王), con nuôi là Lê Thiệu Lý (黎紹理) làm Sở Vương (楚王), cho ở bên tả; Lê Thiệu Huân (黎紹勳) làm Hán Vương (漢王), cho ở bên hữu. Ông còn có người con nuôi khác là Lê Ác Thuyên (黎偓佺), phong làm Tam Nguyên Vương (三原王) vào năm 1008.

Sự nghiệp trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Nghe tin Lê Đại Hành băng hà, một số quan lại ở vùng biên ải phía Nam của Trung Quốc đã dâng thư về triều, thúc giục Hoàng đế nhà Tống nhanh chóng lợi dụng cơ hội thuận tiện này để xuất quân sang đánh chiếm Đại Cồ Việt, nhưng Tống đế đã không chấp thuận vì cho rằng Họ Lê thường sai con sang chầu, góc biển ấy vẫn được yên, chưa từng bất trung, bất thuận. Nay nghe tin Lê Hoàn mới mất, chưa có lễ thăm viếng mà đã vội đem quân đánh kẻ đang có tang, đó chẳng phải là việc làm của đấng vương giả.[9]

Năm 1006, Hoàng đế cho sửa đổi quan chế và triều phục của các quan văn võ và tăng đạo, theo đúng như nhà Tống.[10]

Năm 1007, ông sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký là Hoàn Thành Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống, xin kinh Đại Tạng. Nhà Tống phong vua làm Giao Chỉ Quận Vương (交趾郡王), lĩnh Tĩnh Hải quân tiết độ sứ và cho tên là Chí Trung, ban tước cho Minh Xưởng và Thành Nhã.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1009, ông lại xin được đặt người coi việc tại chợ trao đổi hàng hóa ở Ung Châu thuộc Trung Hoa, nhưng Tống đế chỉ cho mua bán ở chợ trao đổi hàng hóa tại Liêm Châu và trấn Như Hồng, là những nơi giáp vùng biên giới thôi.

Phát triển kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Khi hoàng đế đi Ái Châu, đến sông Vũ Lung. Tục truyền: người lội qua sông này phần nhiều bị hại, nhân thể vua sai người bơi lội qua lại đến ba lần, không hề gì, xuống chiếu đóng thuyền để ở các bến sông Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung bốn chỗ để chở người qua lại.[11]

Khi ông đến Hoàn Giang, sai Phòng át sứ là Hồ Thủ Ích đem hơn 5 nghìn quân của châu Hoan Đường, sửa chữa đường từ sông Châu Giáp đến cửa biển Nam Giới để quân đi cho tiện. Ông cũng sai dân Ái Châu đào kênh, đắp đường từ cửa Vân Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lũng.[12]

Thỉnh kinh về Đại Cồ Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Sử chép: Mùa xuân năm Đinh Mùi (1007), Lê Long Đĩnh sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký là Hoàng Thành Nhã đem con tê trắng sang biếu nhà Tống, dâng biểu xin cửu kinh và kinh sách Đại Tạng."[13]

Trong Việt Nam Phật giáo sử lược, thiền sư Thích Mật Thể viết: Niên hiệu Ứng Thiên thứ 14 (1008), sau khi nước ta đã hòa với Tống rồi, vua Đại Hành sắc ông Minh Xưởng và ông Hoàng Thành Nhã sang sứ nước Trung Hoa, cống hiến đồ thô sản và xin vua Tống ban cho bộ "Cửu kinh" và "Đại Tạng kinh". Vua Tống trao cho những bộ ấy và cho sứ giả đưa về. Đó là lần đầu tiên nước ta cho người sang cầu kinh bên Trung Hoa vậy.[14]

Do nhầm lẫn hoặc cũng có thể do ghét Lê Đế Long Dĩnh, thiền sư Thích Mật Thể đã viết đoạn này không đúng, vì Lê Đại Hành mất năm 1005. Lê Long Đĩnh cai trị từ năm 1006 và đến năm 1008 vẫn giữ niên hiệu Ứng Thiên của Lê Đại Hành. Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép Lê Long Đĩnh sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký là Hoàng Thành Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống, xin kinh Đại Tạng.

Cửu kinh gồm: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Hiếu Kinh, Luận Ngữ, Mạnh TửChu Lễ; là 9 bộ sách vĩ đại nền tảng của văn minh Trung Hoa lần đầu tiên nhập vào Việt Nam là do Lê Long Đĩnh lấy về. Còn kinh Đại Tạng là một bộ sách vĩ đại được rất nhiều thế hệ các cao tăng Trung Hoa sưu tầm và dịch thuật suốt 1.000 năm, từ thế kỷ thứ nhất đến cuối thế kỷ thứ 10 mới in thành sách lần đầu tiên gồm 5.000 quyển.

Dẹp loạn[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Đế Long Đĩnh trong 4 năm cầm quyền đã 5 lần cầm quân đánh dẹp (ở các vùng đất thuộc Hưng Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay):

  • Lần thứ nhất (1005): dẹp tan bạo loạn, tranh giành giữa các anh em trong hoàng tộc để thu phục mọi người.[15] Từ đấy về sau các Vương và giặc cướp đều hàng phục.[16]
  • Lần thứ hai (1005): khi quan quân đang đánh nhau với ngưới ở trại Phù Lan chợt thấy trạm báo tin là giặc Cử Long vào cướp đã đến cửa biển Thần Phù (Ninh Bình). Ông về đến sông Tham, đi sang Ái Châu để đánh giặc Cử Long.
  • Lần thứ ba (1008): đánh người Man ở hai châu Đô Lương và Vị Long.
  • Lần thứ tư (1008): đánh giặc ở Hoan châu và châu Thiên Liêu.
  • Lần thứ năm (1009): tháng 7, đánh giặc ở các châu Hoan Đường và Thạch Hà.

Lê Ngọa Triều cai trị được 4 năm, đến tháng 10, ngày Tân Hợi, năm Kỷ Dậu (tức 19 tháng 11 năm 1009) thì băng hà, thọ 24 tuổi. Long Đĩnh mất, con trai là Sạ còn bé, dưới sự đạo diễn của quan Chi Hậu Đào Cam Mộc, triều thần đã tôn Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, sáng lập ra triều đại nhà Lý.

Nhà Tiền Lê kết thúc, trải qua 3 đời, tồn tại 29 năm. Theo sử gia Ngô Thì Sỹ, Lý Công Uẩn đã dùng thụy hiệu xấu để đặt cho Lê Long Đĩnh là Ngọa Triều hoàng đế (臥朝皇帝), nghĩa là Vị hoàng đế nằm để thiết triều, ám chỉ tin đồn ông bị trĩ, phải nằm mới được.

Tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Những hành động tàn bạo[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Văn Hưu nói:

Ngọa Triều giết anh, tự lập làm vua; bạo ngược với dân chúng để thỏa lòng hung ác, đến nỗi mất nước mất ngôi, không phải là sự bất hạnh của nhà Lê, lỗi ở Đại Hành không sớm đặt Thái tử và do Trung Tông không biết phòng giữ từ khi mới chớm nên đến nỗi thế.

Đại Việt sử lược (trang 33, quyển 1, bản điện tử) viết:

Phàm đánh trận, bắt được quân địch vua cho áp giải đến bờ sông. Lúc nước thủy triều rút xuống thì sai làm cái chuồng dưới nước, rồi đuổi tù binh vào trong chuồng. Khi nước thủy triều dâng lên, tù binh ngộp hơi thì hả miệng ra rồi uống nước mà chết. Lại bắt (tù nhân) treo lên cây cao rồi sai người ở dưới chặt cây. Có khi vua đi chơi ở sông Chi Ninh, sông có nhiều thuồng luồng, bèn trói người ở một bên ghe, rồi cho ghe qua lại ở giữa dòng nước, khiến cho thuồng luồng nó sát hại đi. Còn phàm những con vật (nuôi để cúng tế) đem cung cấp cho nhà bếp, trước tiên phải sai người khiên vào để tự tay vua đâm chết đã, rồi sau mới giao cho người nấu bếp. Lại khi, nhà vua đặt mía trên đầu bậc tu hành là đức Tăng thống Quách Mão mà róc, rồi giả vờ sút tay dao phập vào đầu Quách Mão chảy máu ra, vua cười rầm lên. Hoặc đêm đến vua sai làm thịt mèo để cho các tướng vương xơi. Ăn xong vua đem đầu mèo bày ra, các tước vương đều mửa thốc mửa tháo. Mỗi khi đến buổi chầu thì sai những tên hề ra nói leo lẻo luôn mồm để làm khỏa lấp lời những ai bẩm bạch về việc gì. Lại thấy kẻ giữ cung làm món chả thì đến cùng người tranh nhau mà ăn...

Hồ Đắc Duy trong bài Bệnh án của Ngọa Triều Hoàng Đế cho rằng: "Chỉ có những người mắc bệnh tâm thần, với một đầu óc bệnh hoạn mới tưởng tượng ra các trò chơi giết người phong phú như đoạn văn trên mô tả những hành vi độc ác mất hết tính người".[17]

Nhà nghiên cứu Tạ Chí Trường cũng có lời bình như sau:[18]

"Mùa đông tháng Mười chết mà trong năm đó Ngoạ Triều còn ở trên công trường xây dựng đường xá, suy nghiệm ra một cách rất thực tế về việc dò tìm lối có thể qua sông dễ dàng. Mùa thu tháng Bảy ông còn ở trên chiến trường Nghệ An, bỏ đường thuỷ theo đường bộ về kinh đô,... Nói nhiều về tội của Ngoạ Triều chỉ vì sử quan mang tính cách phe phía trong ghi chép: Họ oán giận chuyện Ngoạ Triều róc mía trên đầu Tăng thống Quách Mão mà lại cố tình lỡ tay làm chảy máu, và cười! Toàn thư chỉ nói đến "nhà sư Quách Ngang" nhưng bấy nhiêu đó cũng là đủ kể tội Ngoạ Triều rồi, vì mãi đến bây giờ khi nói về sự tàn ác của ông ta, có sách cũng chỉ viện dẫn đến chứng cớ ấy mà thôi."

Bệnh trĩ và "ngọa triều"[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Toàn thư thì "Dã sử chép: vua say đắm tửu sắc phát ra bệnh trĩ". Khâm định Việt sử Thông giám cương mục ghi Long Đĩnh vì mắc bệnh trĩ, nên khi ra thiết triều phải nằm, vì vậy tục gọi là Lê Ngoạ Triều[8]. Còn sử gia Ngô Thì Sĩ thì cho rằng tên gọi này do Lý Công Uẩn đặt để bôi nhọ. Trong Đại Việt sử ký tiền biên có đoạn[19]:

Xét việc Long Đĩnh cướp ngôi, cố nhiên không đáng được thụy hiệu đẹp, mà cái tên Ngọa Triều cũng không đúng. Có lẽ Lý Thái Tổ muốn dùng thụy hiệu xấu để gán cho, mà không biết rằng từ xưa những đế vương nào không đáng làm vua thì gọi là phế đế, mạt đế hoặc lấy cái tên khi bị phế mà chép. Còn như cái hiệu "Ngoạ Triều" thì thô bỉ không căn cứ?

Theo ý kiến của một số nhà khoa học ngày nay, bệnh trĩ là bệnh có liên quan đến cấu tạo của thành tĩnh mạch và huyết động học vùng chậu, các tĩnh mạch ở vùng hậu môn phồng lớn ra tạo thành búi trĩ. Nếu các búi trĩ chiếm trên 180 độ thì được xếp vào loại 4. Bệnh trĩ ở giai đoạn mà bệnh nhân phải nằm là ở giai đoạn 4, là giai đoạn nặng mà biện pháp điều trị là giải phẫu, các giải pháp này ở gần năm 1010 chưa có[20].

Nhà báo Hoàng Hải Vân trên báo Thanh niên điện tử[2] cho rằng khó tin được Lê Long Đĩnh là người "dâm dục quá độ, mắc bệnh không ngồi được" (ngọa triều) vì trong suốt thời gian ngắn 4 năm cầm quyền ông đã tự mình làm tướng đi chinh phạt đến 5 lần và trận chiến cuối cùng mà Lê Long Đĩnh tham dự trước khi ông chết là 2 tháng (trận vua đem quân đi đánh châu Hoan Đường, Thạch Hà vào mùa thu tháng 7 năm Kỷ Dậu 1009). Theo nhà báo này, cầm quân đánh giặc liên miên như vậy phải là một người cường tráng.

Về thụy hiệu "Ngọa Triều", Khâm định Việt sử Thông giám cương mục chính biên quyển thứ 1 của nhà Nguyễn cho rằng cách gọi này không chính xác vì Long Đĩnh không có thụy hiệu[8]:

Long Đĩnh giết anh mà tự lập, hoang dâm thành bệnh, nằm mà coi chầu, nhân gọi là Ngọa Triều. Sử cũ chép là "Ngọa Triều hoàng đế", có lẽ là theo tên gọi thời bấy giờ, chứ không phải là tên thuỵ. Chép vậy thật là trái thường quá lắm! Này, đã không có tên thuỵ, thì cứ chép thẳng tên thực, đó là biến lệ của sử Cương mục (Trung Quốc). Nay đổi lại, chép là "Đế Long Đĩnh" để cho hợp với ý nghĩa và thể lệ của Cương mục dẫn trên.

Nghi án về cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Cột kinh chùa Nhất Trụcố đô Hoa Lư từ thời Tiền Lê là cột kinh cổ nhất Việt Nam
đền Vua Lê Đại Hành, nơi thờ Lê Long Đĩnh

Các bộ sử cổ của Việt Nam như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thưKhâm định Việt sử Thông giám cương mục thống nhất chép rằng tháng 10 năm 1009, Lê Long Đĩnh mất và cái chết của ông là hậu quả của sự hoang dâm, mê tửu sắc[21][22][23].

Riêng trong sách Đại Việt sử ký tiền biên, sử gia Ngô Thì Sĩ ghi lại lời nghi vấn về việc Lý Công Uẩn giết Lê Long Đĩnh để đoạt ngôi[24]:

Có người nói Khai Minh vương hung hãn bạo ngược,... Lý Thái Tổ rất căm phẫn trước tội ác giết anh cướp ngôi của Khai Minh Vương, nhân lúc Khai Minh Vương bệnh tật, sai người vào đầu độc giết đi rồi giấu kín việc đó, nên sử không được chép, nếu quả như vậy, cũng là đạo Trời hay báo, nên chép phụ vào để làm răn

Đại Việt sử ký tiền biên - Ngô Thì Sĩ

Đại Việt sử ký toàn thư chép thái độ của Lý Công Uẩn sau khi được sư Vạn Hạnh nói về sấm truyền họ Lý sẽ làm vua:

"Công Uẩn sợ câu nói ấy tiết lộ, bảo người anh em đem Vạn Hạnh giấu ở Tiêu Sơn. Song từ đấy cũng lấy thế tự phụ, mới nảy lòng ngấp nghé ngôi vua".

An Nam Chí Lược của Lê Tắc cũng chép thái độ của Tống Nhân Tông khi Lý Công Uẩn cướp ngôi vua, sang Tống triều cống và xin chiếu chỉ:

"Chí Trung bất nghĩa mà được ngôi, nay Công Uẩn bắt chước làm bậy, lại càng đáng ghét".

Mặc dù trong chính sử, kể cả Đại Việt sử ký tiền biên, đều ghi nhận việc triều đình suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi và không ghi nhận một cuộc nổi dậy nào của những người nhân danh trung thành với nhà Tiền Lê để chống lại nhà Lý sau khi triều đại này hình thành nhưng ngày nay, một số tư liệu tìm thấy trong dân gian mà điển hình như sách Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch có đoạn chép:

Tục truyền rằng Công Trung là con của Lê Đại Hành, làm quan ở Diễn Châu, táng mả mẹ tại huyệt tốt đất ấy. Đến khi nhà Lý cướp ngôi nhà Lê, Công Trung còn giữ châu xưng đế.

Ghi công từ hậu thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Long Đĩnh được đúc tượng và thờ cùng với Lê Đại Hành tại 3 địa điểm là đền Vua Lê Đại Hành ở khu di tích Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình), đền Lăng ở quê hương Liêm Cần, Thanh Liêm (Hà Nam)[25] và di tích quốc gia đình An Lãng, xã Văn Tự, Thường Tín, Hà Nội.[26]

Hoàng đế Lê Long Đĩnh từng được Lê Đại Hành giao trấn giữ Đằng Châu, đồng thời là người khai sáng tên gọi phủ Thái Bình, nay là 2 tỉnh Thái BìnhHưng Yên nên ông cũng được nhân dân nhiều vùng 2 nơi này lập làm thành hoàng làng thờ phụng.

Thần tích đền Mây ở Hưng Yên, nơi thờ sứ quân Phạm Bạch Hổ có ghi đoạn liên quan đến vua như sau:[27] Lê Long Đĩnh đang lúc làm Khai Minh Vương, có thực ấp ở Đằng Châu, thường đến làng đó; thuyền đang đi giữa sông, đang lúc vua du lãm, bỗng nhiên ban ngày tối đen, mây kéo mù mịt, rồi gió mưa ào đến, ông bảo kiếm chỗ đậu tránh, thấy trên bờ cao có đền thờ mới hỏi người trong thôn rằng đền thờ ấy thờ thần gì. Thôn dân thưa là đền thờ thần Thổ Địa của Đằng Châu. Ông mới lớn tiếng bảo rằng:

Thần như có linh thì làm thế nào cho lui được gió mưa khiến bên này tạnh, bên kia mưa thì ta mới tin là có linh nghiệm.

Nói đoạn quả nhiên nửa sông gió, nửa sông mưa, vua khỏi bị ướt áo xiêm. Ông rất lấy làm lạ, bảo trùng tu lại miếu vũ. Từ đó đổi Đằng Châu thành phủ Thái Bình.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Án xưa: Nghi án Lê Long Đĩnh giết anh, cướp ngôi
  2. ^ a ă Hoàng Hải Vân, Thử "bào chữa" cho Hoàng đế Lê Long Đĩnh, báo Thanh Niên online, 11/12/2007
  3. ^ Báo Thế Giới Mới trong 2 số 752 - 753 (9/2007), Nghiên cứu của bác sỹ Hồ Đắc Duy
  4. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản Kỷ Toàn Thư, Quyển 1, Kỷ nhà Lê, Mục Ngọa Triều Hoàng đế.
  5. ^ Theo Cương Mục, tiền biên V, 31 thì Đằng Châu "là xã Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên nhà Trần gọi là Khoái Lộ, nhà Lê gọi là Khoái Châu. Nay tương ứng các địa bàn các huyện Kim Động, Khoái Châu, Văn Giangthành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên và một phần tỉnh Thái Bình.
  6. ^ Đại Việt sử lược, quyển 1
  7. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 1
  8. ^ a ă â Khâm định Việt Sử thông giám cương mục, chính biên quyển 1
  9. ^ Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 1, tờ 27-b và tờ 28-b)
  10. ^ Đại Việt sử lược, trang 107 chép: "Năm Định Vị (Mùi) tức năm 1007 Vua sửa định lại quan chế văn võ theo nhà Tống.
  11. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, trang 235 chép
  12. ^ Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ, Bản kỷ, Quyển I, trang 39a chép
  13. ^ Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Chính biên, quyển 1 trang 274
  14. ^ Giải oan cho 'vua quỷ' Lê Long Đĩnh
  15. ^ Nhà vua tự cầm quân đi đánh Ngự bắc vương Long Ngận và Trung Quốc vương Long Kính, dẹp yên được cả. Bấy giờ nhà vua đã lên ngôi, Long Ngận và Long Kính giữ xã Phù Lan để chống lại. Nhà vua thân đi đánh: hai vương ấy đóng chặt thành cố thủ. Vây đến vài tháng, trong thành cạn lương; Long Ngận bắt Long Kính đem dâng nộp. Nhà vua sai chém Long Kính và tha tội cho Long Ngận. Nhân tiện, đem quân đi đánh Ngự Man vương Long Đinh ở Phong Châu; Long Đinh phải đầu hàng. Từ đó các vương đều chịu phục cả.
  16. ^ Xem Đại Việt sử ký toàn thư trang 233
  17. ^ Bệnh án của Ngọa Triều Hoàng Đế
  18. ^ Tạ Chí Trường - Sử đọc vài quyển - NXB Văn mới 2004
  19. ^ Ngô Thì Sĩ, sách đã dẫn, tr 217
  20. ^ Bệnh án Lê Long Đĩnh (BS Hồ Đắc Duy)
  21. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư Bản kỷ, quyển II, Kỷ nhà Lý, Thái Tổ hoàng đế
  22. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 2
  23. ^ Ngô Thì Sĩ, sách đã dẫn, tr 222
  24. ^ Ngô Thì Sĩ, sách đã dẫn, tr 223
  25. ^ Đền Lăng trên quê hương Hà Nam
  26. ^ Di tích quốc gia đình, đền An Lãng
  27. ^ Việt Điện U Linh Khai Thiên Trấn Quốc Trung Phụ Tá Dực Đại Vương (Thần Đằng Châu)