Trần Lãm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trần Lãm (陳覧; ?-967) là một nhân vật lịch sử vốn là hào trưởng, gốc Hán, chiếm đóng ở vùng Bố Hải Khẩu (Kỳ Bố Hải Khẩu) nay là khu vực thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Ông là người lãnh đạo một trong mười hai sứ quân cát cứ ở Việt Nam giữa thế kỷ 10 (xem 12 sứ quân). Theo các tài liệu ghi lại, ông là sứ quân trấn giữ vùng cửa biển, có tiềm lực mạnh về kinh tế dựa vào lợi thế của nghề đánh cá biển.

Sơ đồ vị trí 12 sứ quân

Xuất xứ[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Lãm là người gốc Quảng Đông (Trung Quốc), cha là Trần Công Đức sang Việt Nam chiếm giữ, lập nghiệp ở vùng ven biển Bố Hải Khẩu (vùng Thái Bình - Nam Định ngày nay đều có đền thờ). Khi Trần Đức mất, Trần Lãm trở thành người kế nghiệp, đã cùng mẹ là Lâm Thị và các em Trần Thăng, Trần Nguyên Thái gây dựng lực lượng ở Kỳ Bố Hải Khẩu.

Cuốn ngọc phả: "Sứ quân ở Bố Hải Khẩu Trần Minh Công"[1] hiện còn lưu giữ tại đình Đình Xám ở thôn Lạc Đạo, xã Hồng Quang (Nam Trực, Nam Định) có ghi lại sự kiện lúc sinh thời Trần Minh Công có qua xứ Lạc Đạo, thấy nơi đây phong cảnh hữu tình, dân cư thuần phác bèn lập sinh từ, giúp địa phương khơi ngòi, đắp đập, tạo dựng làng xã và phát triển nghề đánh cá.[2]

Căn cứ vào thần phả ở đình làng Kỳ Bá, Thái Bình ghi: "Trần Lãm đã xuất tiền vàng để mua ruộng đất" ban phát cho dân với mục đích thu hút thêm nhiều người đến mở mang sinh sống. Chẳng bao lâu " gia tư tích lũy có tới hàng vạn, dưới trướng có tới mấy nghìn người vào ra" đủ sức chiêu mộ binh sĩ, tích trữ lương thảo và dựng thành đắp lũy. Thành Kỳ Bố của Trần Minh Công được xây dựng thành một "đạo", sau này dời chuyển mở rộng, chỗ thành cũ lập thành làng Kỳ Bố.[3]

Bố Hải Khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Bố Hải Khẩu xuất phát là vùng cảng biển, sau do phù sa các sông bồi tụ vùng “Kỳ Bố” chuyển thành vùng cảng sông của sông Hồng và sông Trà Lý và dần trở thành đất liền. Nơi đây là vùng đất có vị trí quan trọng về kinh tế và quân sự, giao thông thuỷ bộ thuận lợi, đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hoà.[4] Lịch sử truyền thống của vùng đất thành phố Thái Bình, nơi được đặt làm trung tâm tỉnh lỵ tỉnh Thái Bình ngày nay gắn liền với địa danh Bố Hải Khẩu xưa với sự kiện vị thủ lĩnh Trần Lãm chọn nơi đây để xây thành đắp lũy, lập đại bản doanh và trở thành sứ quân mạnh nhất trong thời loạn 12 sứ quân ở thế kỷ X.[5]

60 năm sau sự kiện Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, Bố Hải Khẩu lại được ghi vào sử sách khi nhà Lý mở mang chính sách khuyến nông, năm Mậu Dần (1038) vua Lý Thái Tông đã về Bố Hải Khẩu cày ruộng tịch điền.[6]

Không có tài liệu để xác định rõ ranh giới kiểm soát, quản lý của sứ quân Trần Lãm. Nhiều ý kiến cho rằng vào thế kỷ X, Bố Hải Khẩu là trung tâm của vùng đất phía nam sông Luộc, gồm cả vùng đất 2 tỉnh ven biển là Thái BìnhNam Định ngày nay.[7]

Dấu tích địa danh Kỳ Bố Hải Khẩu nay thuộc kẻ Bo - làng cổ ở thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, vốn được lập trên vùng cửa sông gọi là Bố Hải khẩu, tức cửa biển Bo cách ngày nay hơn nghìn năm. Làng có giống ổi Bo to ngon nổi tiếng. Cầu bắc qua sông cũng gọi là cầu Bo. Di chỉ của thành Kỳ Bố Hải Khẩu thời kỳ Trần Lãm hiện vẫn còn ở thành phố Thái Bình.[8]

Sứ quân[sửa | sửa mã nguồn]

Sử cũ nói khi Nam Tấn mất, 12 sứ quân đua nhau nổi lên. Đinh Bộ Lĩnh vốn dựa vào Minh Công. Minh Công chết rồi mới thay lĩnh số quân đó. Mà năm Xương Văn thứ nhất đã ghi Đinh Bộ Lĩnh chiếm Hoa Lư, hai vương đi đánh không được. Thế thì Minh Công khởi binh phải xảy ra trước khi Xương Văn lấy lại được nước. Từ đó mà suy ra thì 12 sứ quân, phải có người khởi binh trước, người khởi binh sau, không phải là đến khi Nam Tấn mất rồi, mới cùng lúc nổi dậy.[9] Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục cũng khẳng định ông nổi dậy từ trước khi Ngô Xương Văn được nước, tức trước năm 951 khi mà Đinh Bộ Lĩnh bắt đầu dấy binh ở Hoa Lư, sau về với Minh Công[10] Lực lượng của ông có sự liên kết, phối hợp với Đinh Bộ Lĩnh, theo sử sách thì Đinh Bộ Lĩnh chính là con nuôi của Trần Lãm[11]

Trần Lãm tự xưng Trần Minh Công khi chiếm giữ và cát cứ vùng đất Thái Bình - Nam Định. Ông có đội ngũ thuộc hạ hùng mạnh gồm các tướng tài như Ngô Văn Chấn, Ngô Tất An, Bùi Quang Dũng, Nguyễn Đức Long, Nguyễn Đức Học, Nguyễn Phúc,... Sau khi ông mất, Đinh Bộ Lĩnh nắm binh quyền, chuyển về Hoa Lư đánh dẹp các sứ quân, lập ra nhà Đinh (968 - 980).

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các thần tích dân gian ghi lại thì Trần Lãm có hai người em trai và con gái Trần Nương đều là những người có vai vế trong triều đại nhà Đinh sau này là:

  • Trần Thăng làm Phò mã đô uý, là người lấy con gái Đinh Tiên Hoàng là Công chúa Minh Châu.[12][13]
  • Trần Nguyên Thái, sử cũng ghi là phò mã, là sứ giả của nhà Đinh. Năm Thái Bình thứ 7 (976), Mùa xuân, thuyền buôn của các nước ngoài đến dâng sản vật của nước họ ở Hoa Lư. Vua sai Trần Nguyên Thái sang đáp lễ nhà Tống[14].
  • Trần Nương, là con gái Trần Lãm, sau trở thành vợ Đinh Bộ Lĩnh. Tuy nhiên giả thuyết này cần phải xem xét vì theo sử sách Đinh Bộ Lĩnh vốn là con nuôi của Trần Lãm.

Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Lãm được nhân dân lập đền thờ nhiều nơi ở vùng ven biển Nam Định - Thái Bình.

Tại Thái Bình, Trần Lãm được thờ làm thành hoàng làng tại đình Bo (phường Kỳ Bá) và đình Lạc Đạo (phường Trần Lãm) và miếu Vua Lãm ở thành phố Thái Bình. Tên tuổi của Sứ quân Trần Lãm cũng được đặt cho phường Trần Lãm, các trường tiểu học và THCS Trần Lãm, đường Trần Lãm và khu đô thị Trần Lãm,... ở thành phố này.

Đình Bo toạ lạc trên diện tích 1134m2 thuộc phường Kỳ Bá, Tp Thái Bình. Viện thông tin khoa học Việt Nam đã khẳng định: Đình Bo thờ tướng quân Trần Lãm có nguồn gốc vốn dòng thị tộc Bách Việt, gia dình di cư xuống lưu vực Sông Hồng định cư ở Kỳ Bá. Đình Bo là một mốc son trong bản đồ du lịch khi tìm về nguồn cội Kỳ Bố Hải Khẩu thời nhà Đinh. Để rồi sang thế kỷ XII, vua Lý Nhân Tông đã về đất này cày tịnh điền. Hàng năm vào dịp tháng 8 và tháng 10 âm lịch (ngày sinh và ngày mất của tướng quân Trần Lãm) là phường Kỳ Bá long trọng tổ chức lễ hội truyền thống đình Bo.[15]

Tại Nam Định, Ông được thờ ở đền Xám, xã Hồng Quang huyện Nam Trực tỉnh Nam Định. Tương truyền đây cũng là nơi ông lập căn cứ tới khi mất. Cuốn ngọc phả: " Sứ quân ở Bố Hải Khẩu Trần Minh Công" do tiến sĩ Lê Tung viết ngày 2 tháng 10 niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487) hiện còn lưu giữ tại đình có ghi lại sự kiện lúc sinh thời Trần Minh Công có qua xứ Lạc Đạo, thấy nơi đây phong cảnh hữu tình,dân cư thuần phác bèn lập sinh từ, giúp địa phương khơi ngòi, đắp đập, tạo dựng làng xã. Ông mất vào ngày 10 tháng 10 tại thôn Lạc Đạo. Vua Đinh Tiên Hoàng sai dân sở tại phụng thờ, hàng năm mở hội tế lễ và phong mỹ tự " Quốc đô Thành hoàng". Lễ hội đình Xám được tổ chức vào các ngày 17 và 19 tháng 8 âm lịch hàng năm.

Trần Lãm cũng được lập đền thờ ở đình Đông và đình Tây thuộc xã Mỹ Phúc (Mỹ Lộc, Nam Định). Hiện nay, sau nhiều lần trùng tu, tôn tạo, hai ngôi đình vẫn giữ được những nét kiến trúc cổ. Lễ hội 2 đình được tổ chức vào ngày 10 tháng tư âm lịch hằng năm.

Tại Hải Dương, di tích đình Dậu Trì cũng là nơi thờ Trần Minh Công. Nằm ở thôn Dậu Trì xã Hồng Thái,huyện Ninh Giang, Đình Dậu Trì là nơi thờ Thành hoàng làng Trần lãm hiệu là Trần Minh Công người có công phù giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân lập nên cơ nghiệp nhà Đinh thế kỷ thứ 10. Sau khi mất âm phù nhà Trần đánh giặc Nguyên thế kỉ 13.[16]

Tên tuổi của tướng quân Trần Lãm được đặt cho các đường Trần Lãm ở Thái Bình; ở Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh hay đường Trần Minh Công ở thị trấn Thiên Tôn, Hoa Lư, Ninh Bình.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ do Tiến sĩ Lê Tung viết ngày 2 tháng l0 niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487)
  2. ^ Đình Xám, Báo Nam Định, 15/10/2013
  3. ^ KỲ BỐ - TRƯỜNG YÊN NHỚ THỦA " ÂN DUNG, ĐÃI SĨ"
  4. ^ Nghị quyết Thông qua Đề án đề nghị công nhận Thành phố Thái Bình là đô thị loại II, trực thuộc tỉnh Thái Bình
  5. ^ Kẻ Bo, Ngày ấy - bây giờ
  6. ^ Sách Ðại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa xuân, tháng hai vua ngự ra cửa Bố Hải cày ruộng tịch điền. Sai hữu ti dọn cỏ, đắp đàn. Vua tế thần nông, tế xong tự cầm cày để muốn làm lễ tự cày. Các quan tả hữu có người can rằng: “Ðó là công việc của nông phu, bệ hạ cần gì phải làm thế” - Vua nói: “Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì cho thiên hạ noi theo”
  7. ^ Thái Bình với các nhà nước thời Ngô - Đinh - Tiền Lê
  8. ^ Hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở Thái Bình
  9. ^ [Đặng Xuân Bảng. Việt sử cương mục tiết yếu. Hoàng Văn Lâu dịch và chú giải. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 2000. tr. 62]
  10. ^ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục - Tiền Biên - Quyển V trang 79
  11. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, Ngoại kỷ, Quyển V viết Đinh Bộ Lĩnh là con nuôi Trần Lãm.
  12. ^ Phố Đinh Tiên Hoàng (dead link)
  13. ^ Lã Đăng Bật, Kinh đô Hoa Lư xưa và nay, trang 57
  14. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, Quyển I - Kỷ nhà Đinh.
  15. ^ Đình Bo với những sự kiện lịch sử cách mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp
  16. ^ TÀI LIỆU TÌM HIỂU DI TÍCH LỊCH SỬ ĐÌNH DẬU TRÌ XÃ HỒNG THÁI - HUYỆN NINH GIANG - TỈNH HẢI DƯƠNG