Kiều Công Hãn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sơ đồ vị trí 12 sứ quân

Kiều Công Hãn hay Kiểu Công Hãn (chữ Hán: 矯公罕; ?-967) là tướng nhà Ngô, giữ chức thứ sử Phong Châu và trở thành một trong 12 sứ quân cuối thời Ngô trong lịch sử Việt Nam.

Tướng nhà Ngô[sửa | sửa mã nguồn]

Kiều Công Hãn xuất thân từ một dòng họ có thế lực lớn ở Phong Châu (Phú Thọ). Ông là con của Kiều Công Chuẩn, anh trai sứ quân Kiều Thuận và là cháu nội của Kiều Công Tiễn, người Phong Châu. Theo thần tích, ông còn có tên gọi khác là Kiều Tri Hựu.

Năm 937, Kiều Công Tiễn giết chết Dương Đình Nghệ, nắm lấy quyền bính, tự xưng là Tiết độ sứ. Kiều Công Hãn không theo ông nội mà mang quân vào châu Ái theo Ngô Quyền. Một thời gian sau, Ngô Quyền giết Kiều Công Tiễn rồi đánh thắng quân Nam Hán sang giúp Công Tiễn. Tương truyền, Kiều Công Hãn là người hiến kế cho Ngô Quyền cắm cọc xuống sông Bạch Đằng trong trận thủy chiến năm 938.[1]

Ông phục vụ nhà Ngô và được phong làm thứ sử Phong châu[2].

Sứ quân[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đại Việt sử ký tiền biên, khi Ngô Xương Văn mất, các tướng dưới quyền là Lã Xử Bình và Thứ sử Phong Châu Kiều Công Hãn tranh nhau lên thay... Năm 966, Ngô Xử Bình, Kiều Tri Hựu, Thứ sử châu Vũ Ninh là Dương Huy, Nha tướng là Đỗ Cảnh Thạc lại tranh nhau lên ngôi. Trong nước khắp nơi nổi loạn, ai nấy đều chiếm cứ quận ấp, mưu thôn tính lẫn nhau[2] Sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục ghi "các đại thần họ Kiều, họ Dương làm loạn" phần nào cho thấy tham vọng của Kiều Công Hãn trong cuộc chiến ngôi báu này.

Khi Ngô Xương Xí lui về Bình Kiều, Thanh Hóa và trở thành một sứ quân thì Kiều Công Hãn cũng xây thành Tam Giang rồi thành Phù Lập (đều ở phía nam Phú Thọ) và trở thành một sứ quân trong thời loạn 12 sứ quân. Sau khi chiếm Phong Châu và 2 châu lân cận là Hào Châu và Thái Châu, Kiều Công Hãn xưng là Kiều Tam Chế.[3][4] Ngay từ những ngày đâu gây dựng, Kiều Công Hãn liên tục mở rộng địa bàn chiếm đóng sang khu vực tả ngạn sông Lô bằng những cuộc chiến với sứ quân Nguyễn Khoan tại khu vực thuộc các huyện Sông Lô, Lập Thạch (Vĩnh Phúc) ngày nay.

Thành Tam Giang của Kiều Công Hãn nằm ở vùng ngã ba sông Bạch Hạc, ngày nay thuộc phường Bạch Hạc, Việt Trì, là vùng giáp gianh giữa ba tỉnh: Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hà Nội. Thần tích đền Tam Giang cho biết khi xây thành ở đây Kiều Công Hãn cũng cho tu sửa đền và chùa Đại Bi.[5]

Thần phả miếu Ba Thôn - chùa Hưng Quốc ở Thái Bình cho biết tướng Nguyễn Quảng Lại trong một lần cùng Đinh Tiên Hoàng truy đuổi tàn quân của Kiều Công Hãn ở Phong Châu, khi tới sông Việt Trì, để giữ bí mật của trận đánh, Nguyễn Quảng Lại đã cho quân chặt cây, hạ thuỷ để vượt sông. Khi ra tới giữa dòng, trời nổi cơn dông lớn, Quảng Lại mất tích, xác trôi về cửa Bố Hải Khẩu rồi được người dân làng chài trang Quang Lang chôn cất và thờ cúng.

Năm 967 căn cứ Phong Châu liên tục bị quân Hoa Lư của Đinh Bộ Lĩnh tấn công. Cuối cùng, lực lượng của sứ quân Kiều Công Hãn bị Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp. Ông tháo chạy về phía Nam để cầu cứu Ngô Xương Xí thì bị một hào trưởng là Nguyễn Tấn chặn đón ở Nam Định chém chết.[6]

Được thờ ở đền Gin[sửa | sửa mã nguồn]

Đền Gin nằm ở xóm Chiền, thôn Hiệp Luật, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, Nam Định. Đền là nơi thờ sứ quân Kiều Công Hãn. Từ thành phố Nam Định, đi theo đường 55 đến cây số 12 rẽ trái khoảng 500m là tới đền. Đây là một di tích có kiến trúc gỗ khá hoàn chỉnh, tiêu biểu của vùng Sơn Nam Hạ. Đền là di tích tín ngưỡng chung của dân bốn làng: Bái Dương, Tang Trử, Hiệp Luật, Cổ Lũng.

Theo thần tích đền Gin, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định thì năm 967, Kiều Công Hãn bị Đinh Bộ Lĩnh tấn công thất trận phải tháo chạy. Khi Kiều Công Hãn qua vùng An Lá (Nghĩa An – Nam Trực) thì bị thổ hào Nguyễn Tấn đem dân binh đến tập kích chém trúng cổ. Ông xé lụa quấn lấy cổ, chạy về đến vùng đất Hiệp Luật thì dừng lại ở quán bà hàng nước. Bà hàng nước dâng gỏi cá trắm cho ông ăn, ăn xong ông hỏi: "Bị thương thế này có sống được không?" Bà hàng nước chỉ vào đống đất cao gần đền nói: "Đây là nơi nghỉ tốt lành cho tướng công đó". Kiều Công Hãn bước ra, cởi áo nằm xuống đống đất rồi hóa. Dân làng Hiệp Luật trông thấy sợ hãi bỏ đi. Dân làng Bái Dương lấy chiếu ra đắp. Sáng hôm sau, mối đùn thành mộ che kín khắp người. Nhân dân gọi là mộ thiên táng. Người dân ở đây nghĩ rằng Kiều Công Hãn là người cùng quê nên rút chân nhang ở mộ vào đền thờ.[7] Ngày nay cứ đến 10-12 âm lịch, dân làng Gin lại đánh cá để tế, tưởng nhớ Kiều Công Hãn, trong khi dân làng An Lá (đều ở Nam Trực, Nam Định) lại gói bánh để tế, tưởng nhớ chiến công của Nguyễn Tấn, nên dân gian có câu: "làng Gin đánh cá, làng Lá gói bánh".

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Người hiến kế cho Ngô Quyền cắm cọc xuống sông Bạch Đằng”. 
  2. ^ a ă Ngô Thì Sĩ. 1800. Đại Việt sử ký tiền biên. Bản khắc triều Tây Sơn. Ngô Thì Nhậm hiệu đính. Dương Thị The, Lê Văn Bảy, Nguyễn Thị Thảo, Phạm Thị Thoa dịch chú. Lê Duy Chưởng hiệu đính. Nhà xuất bản KHXH. Hà Nội. 1997. tr.146.
  3. ^ Kiều đại vương thượng đẳng thần ký lục
  4. ^ Theo các nhà nghiên cứu PGS Lê Trung Vũ - PGS Tiến sĩ Lê Hồng Lý đồng chủ biên, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính trong cuốn Lễ hội Việt Nam trang 85
  5. ^ Lế hội Bơi Chải Bạch Hạc
  6. ^ Nam Định góp công trong chiến thắng Bạch Đằng
  7. ^ đền Gin