Đinh Liễn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nam Việt Vương
南越王
Thái tử Việt Nam (chi tiết...)
Dinhlien.jpg
Tượng Đinh Liễn ở đền Vua Đinh Tiên Hoàng-Hoa Lư
Nam Việt Vương
Tại vị 968-979
Thái tử nhà Đinh
Tại vị 979
Tiền nhiệm Đinh Hạng Lang
Thông tin chung
Thụy hiệu Nam Việt Vương
Thân phụ Đinh Tiên Hoàng
Mất 979
Hoa Lư

Đinh Liễn (chữ Hán: 丁璉; ?-979) hay Đinh Khuông Liễn (丁匡璉) là hoàng tử nhà Đinh, con trai Đinh Bộ Lĩnh (tức Đinh Tiên Hoàng), người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay là Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Ông từng được Đinh Bộ Lĩnh cử làm con tin ở triều đình Cổ Loa suốt 15 năm rồi theo cha đánh dẹp 12 sứ quân và còn thay vua cha trong việc giao bang với Trung Hoa. Ông được Vua Đinh Tiên Hoàng phong chức Nam Việt Vương để khẳng định uy quyền hoàng đế của một quốc gia độc lập.

Tiểu sử

Đinh Bộ Lĩnh có ba người con trai: Đinh Liễn, Ðinh Hạng LangĐinh Toàn. Đinh Liễn hay Đinh Khuông Liễn là con trai cả của vua Đinh và là người con trai duy nhất sinh ra, trưởng thành trước khi vua Đinh lên ngôi.

Đinh Bộ Lĩnh khi lên ngôi lập 5 hoàng hậu nhưng sử không ghi rõ Đinh Liễn là con bà hoàng hậu nào. Chỉ chắc chắn rằng ông không phải là con bà Dương hậu, người sinh ra Đinh Toàn và cũng không phải là con của bà hoàng hậu là mẹ của Ngô Nhật Khánh. Cũng có khả năng mẹ của Đinh Liễn đã mất trước khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế năm 968. Và đó cũng có thể là một lý do mà Vua Đinh Tiên Hoàng không lập ông làm thái tử.

Cuộc đời và sự nghiệp

Gian nan thời loạn

Năm 951, Đinh Bộ Lĩnh cát cứ ở Hoa Lư không chịu thần phục nhà Ngô lúc đó do hai anh em Ngô Xương NgậpNgô Xương Văn cùng trị vì. Bộ Lĩnh sai Đinh Liễn vào Cổ Loa làm con tin[1]. Đinh Liễn đến, hai vua Ngô trách tội Bộ Lĩnh không đến chầu, rồi bắt giữ Liễn, đem theo đi đánh Hoa Lư. Hơn một tháng, quân Ngô không đánh nổi, hai vua Ngô bèn treo Liễn lên ngọn sào, sai người bảo Bộ Lĩnh, nếu không chịu hàng thì giết Liễn. Bộ Lĩnh tức giận nói:

"Đại trượng phu chỉ mong lập được công danh, há lại bắt chước thói đàn bà xót con hay sao?"

Liền sai hơn mười tay nỏ nhắm Liễn mà bắn. Hai vua Ngô kinh sợ nói:

"Ta treo con nó lên là muốn để nó đoái tiếc con mà ra hàng cho chóng. Nó tàn nhẫn như thế, còn treo con nó làm gì?"

Bèn không giết Liễn mà đem quân về[1].

Căn cứ vào năm sinh của Đinh Bộ Lĩnh (924) và sự kiện trên, có thể ước đoán Đinh Liễn sinh khoảng sau năm 940.

Từ năm 951 tới năm 965, Đinh Liễn làm con tin ở Cổ Loa. Năm 954, Xương Ngập chết. Năm 965, Nam Tấn vương Xương Văn tử trận, triều đình Cổ Loa rối ren chia bè phái, Đinh Liễn trở về Hoa Lư[1].

Trong nước đại loạn, 12 sứ quân nổi dậy chiếm giữ các nơi tự xưng danh hiệu, không có ai làm chủ. Lúc đó Đinh Bộ Lĩnh đã liên hợp với sứ quân Trần Lãm, thanh thế rất mạnh. Theo lệnh cha, Đinh Liễn vào Ái châu để mộ quân lo việc đánh dẹp và ông mộ được 3000 tráng sĩ, trong đó có Lê Hoàn.

Từ đó Đinh Liễn cùng cha ra tay đánh dẹp, chiêu hàng các sứ quân. Trong 3 năm, cha con Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước. Để thu phục sứ quân Ngô Nhật Khánh, Bộ Lĩnh đã đem gả con gái ông là công chúa Phất Kim cho Khánh.

Trong sách Thập quốc thế gia có viết rằng:

Ngô Xương Văn mất ở Giao Châu, tướng tá của ông là Lã Xử Bình và Thứ sử Phong Châu là Kiều Trí Hựu tranh nhau lên thay. Giao Chỉ đại loạn, Đinh Liễn ở Giao Châu đánh tan hai người ấy, Theo như sách chép thì lúc đó Nam Tấn mới mất, trong nước rối ren, Đinh Liễn có công dẹp loạn, lại được phong tước, chứ chẳng như những con tin tầm thường nhân lúc loạn lạc mà trốn về". Không chỉ đánh bại hai lực lượng này, Đinh Liễn còn tham gia các trận bình định nhiều sứ quân khác, công lao lập được rất nhiều vì thế sau khi lên ngôi vua, Đinh Bộ Lĩnh đã phong cho con làm Nam Việt vương.

Nam Việt vương

Chùa Nhất Trụ với cột kinh cổ nhất Việt Nam

Năm 968, khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, đặt quốc hiệuĐại Cồ Việt, định đô ở Hoa Lư, Đinh Liễn được phong làm Nam Việt Vương.

Năm 972, Đinh Liễn phụng mệnh cha đi sứ nhà Tống[2]. Năm sau ông trở về. Nhà Tống sai sứ sang phong cho vua Đinh làm Giao Chỉ quận vương và phong Đinh Liễn làm Kiểm hiệu thái sư, Tĩnh Hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ[2][3].

Năm 975, nhà Tống sai Cao Bảo Tự cùng Vương Ngạn Phù đem chế sách sang gia phong cho Nam Việt vương Đinh Liễn làm Khai phủ nghi đồng tam ty, Kiểm hiệu thái sư, Giao Chỉ quận vương[2] (Tống sử, quyển 488 thì chép việc phong này là cho Đinh Bộ Lĩnh[3]). Từ đó về sau, trong việc sai sứ sang nhà Tống, vua Đinh đều lấy Liễn làm chủ.

Tranh ngôi thái tử

Năm 978, Đinh Bộ Lĩnh lúc đó đã có thêm 2 người con trai bé là Đinh Hạng LangĐinh Toàn. Vua yêu con thứ nên lập Hạng Lang làm Thái tử. Một số nhà nghiên cứu hiện nay như Ông Nguyễn Văn Son, Hội viên Hội Di sản văn hóa Việt Nam, người ở Cố đô Hoa Lư cho rằng Đinh Liễn không được lập làm thái tử do Vua Đinh nhận thấy con trai đã được nhà Tống thừa nhận.[4]

Đầu năm 979, Đinh Liễn quá giận dữ nên đã sai người ngầm giết Hạng Lang[2]. Sau đó, để làm nguôi lòng cha mẹ, ông đã sai dựng những cột kinh khắc bài Phật-đỉnh Tôn-thắng Đà-la-ni để cầu siêu cho người em. Phần lạc khoản trên các cột kinh là lời sám hối của ông, có mấy đoạn sau:

Như vậy, trên các tràng kinh này Đinh Liễn đặt lại tên mình là Khuông Liễn để tỏ ý tôn kính quốc sư Khuông Việt và sùng Phật[5]. Hiện nay các nhà nghiên cứu đã phát hiện được di tích của gần 20 cột kinh tại Hoa Lư.

Cái chết của Nam Việt vương

Cuối năm 979, cả vua Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại trong cung[2]. Lúc đó ông khoảng gần 40 tuổi. Người con trai còn lại của Đinh Tiên HoàngĐinh Toàn được đưa lên ngôi, tức là Đinh Phế Đế.

Theo sử sách, người sát hại cha con Đinh Liễn là nội nhân Đỗ Thích[2], nhưng một số nhà nghiên cứu gần đây đặt giả thiết vụ này chủ mưu là Lê Hoàn và hoàng hậu Dương Vân Nga. Động cơ và hoàn cảnh của vụ án này thực chất là ngôi thái tử và gần giống với Vụ án Lệ Chi Viên sau này. (Xem thêm bài về Đinh Tiên Hoàng).

Sử sách không ghi chép về gia quyến Đinh Liễn, chỉ biết ông có một người vợ là em gái sứ quân Ngô Nhật Khánh. Theo gia phả họ Đinh Danh ở Thái Bình, sau khi Đinh Toàn lên ngôi, Lê Hoàn làm phó vương đã "cấm cố họ Đinh", vì vậy gia đình Đinh Liễn đã phải chạy đi nơi khác và thế hệ sau của họ này chính là Đinh Lễ, Đinh Liệt - các công thần khai quốc nhà Hậu Lê.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỉ quyển 1 chép:

Mùa xuân [năm Kỷ Mão, 979], Nam Việt Vương [Đinh Liễn] giết chết Hoàng Thái Tử Hạng Lang. Đinh Liễn là con trưởng của Nhà vua, thuở hàn vi từng chịu đựng gian khổ, khi thiên hạ được thái bình, ý vua cũng muốn truyền ngôi cho, bèn phong làm Nam Việt Vương. Đinh Liễn lại cũng từng chịu mệnh và nhận tước vị của nhà Tống ban cho. Nhưng về sau, vua sinh được người con trai nhỏ là Hạng Lang, rất mực yêu quý, bèn lập Hạng Lang làm Thái Tử. Đinh Liễn bất bình, liền sai người lập mưu giết đi[2].

Đinh Liễn là người đã trưởng thành, có công lao, lại được vua Tống thừa nhận trong quan hệ ngoại giao. Việc ông bị giết cùng vua Đinh là một trong những lý do khiến nhà Tống lấy cớ để khởi binh sang đánh nước Đại Cồ Việt.

Có ý kiến cho rằng xưa kia (năm 951), khi Đinh Bộ Lĩnh sai người nhằm Đinh Liễn (đang bị hai vua Ngô treo trên sào) mà bắn tức là trong lòng vua Đinh đã không có Liễn rồi. Tuy nhiên suy diễn như vậy có phần phiến diện. Trong hoàn cảnh bức bách này, vua Đinh buộc phải làm cách đó vì đại sự và không phải vua Đinh không yêu Đinh Liễn. Giống như trường hợp Lưu Bang, khi thấy Hạng Vũ đặt cha mình lên thớt, Bang thương cha nhưng vẫn buộc lòng phải nói: "Cha ta cũng như cha ngươi, nếu ngươi nấu cha ta thì cho ta xin bát nước luộc với!" Có nói như vậy Hạng Vũ mới "nản lòng" không giết cha Lưu Bang nữa. Việc Đinh Liễn giết Hạng Lang là nhẫn tâm, nhưng Tiên Hoàng không trừng phạt ông cho thấy vua Đinh vẫn có ý để ông là người nối nghiệp. Tiên Hoàng đã nhận ra sai lầm lần đầu khi lập con nhỏ, bỏ con lớn và nhà vua đã đủ sáng suốt khi không giết nốt con lớn, chỗ dựa lớn nhất của ông trong việc duy trì sự nghiệp nhà Đinh.

Đinh Liễn cùng Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Toàn và Đinh Hạng Lang được thờ ở Đền Vua Đinh Tiên Hoàng, thuộc quần thể di tích cố đô Hoa Lư, huyện Hoa Lư, Ninh Bình.

Xem thêm

Chú thích

Liên kết ngoài

Tham khảo

  • Đại Việt sử ký toàn thư
  • Nhà Đinh dẹp loạn và giữ nước - Nguyễn Danh Phiệt, Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, 1990
  • Truyền thuyết Hoa Lư - Trương Đình Tưởng, Lê Hoa