Nguyễn Bặc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Bặc
Chức vụ
Tể Tướng
Nhiệm kỳ 968 – 979
Tiền nhiệm Chức mới lập
Kế nhiệm Chức bãi bỏ
Thông tin chung
Sinh ? tháng ? năm 924
Gia Viễn, Ninh Bình
Mất 15 tháng 10 năm 979 (55 tuổi)
Hoa Lư
Nghề nghiệp Tướng Quân, Chính Khách
Họ hàng Nguyễn Bồ (anh trai)
Nguyễn Phục (em trai)
Cha hoặc mẹ Nguyễn Thước (cha)
Con cái Nguyễn Đê
Nguyễn Đạt
Mộ Nguyễn Bặc tại xã Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình

Nguyễn Bặc (chữ Hán: 阮匐; 924 - 15 tháng 10, 979 âm lịch), hiệu Định Quốc Công (定國公), là khai quốc công thần nhà Đinh, có công giúp Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp, chấm dứt loạn 12 sứ quân vào thế kỷ 10 trong lịch sử Việt Nam. Do lập công lớn, ông được vua Đinh phong là Định Quốc Công, vị trí như Tể tướng.[1] Theo các gia phổ họ Nguyễn và tài liệu "Lược sử họ Nguyễn tại Việt Nam", ông được tôn là bậc tiền thủy tổ họ Nguyễn chính thống ở Việt Nam. Theo sách "Nguyễn Phúc tộc thế phả" ông được xem là thủy tổ của dòng họ Nguyễn Phúc sau này lập ra dòng Chúa Nguyễn ở miền Nam năm 1569 dưới thời Nguyễn Hoàng và triều đại Nhà Nguyễn năm 1802 dưới thời Nguyễn Phúc Ánh. Ông được Việt Sử tân biên liệt vào danh sách "Giao Châu thất hùng", tức 7 anh hùng người Giao Châu gồm: Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Liễn, Lê Hoàn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm HạpPhạm Cự Lượng.[2]

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Nguyễn Bặc là người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng, Đại Cồ Việt (nay vẫn là động Hoa Lư thuộc xã Gia Hưng - huyện Gia Viễn - tỉnh Ninh Bình). Thuở nhỏ, ông đã cùng kết bạn với Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Điền, Trịnh TúLưu Cơ.

Tương truyền Nguyễn Bặc là người giỏi võ nghệ và có sức khỏe phi thường. Ông từng dùng tay không bắt sống cọp đem bán cho các hào phú. Tánh tình ông thẳng thắn, bộc trực.

Công thần nhà Đinh[sửa | sửa mã nguồn]

Thần phả ghi ông có hai người anh em là Nguyễn Bồ và Nguyễn Phục. Khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn tử trận năm 965, các sứ quân nổi dậy. Cả ba anh em họ Nguyễn làm tướng đi theo Đinh Bộ Lĩnh hùng cứ ở Hoa Lư. Đinh Điền, Trịnh TúLưu Cơ cũng tham gia vào lực lượng này. Theo thần phả, khi đánh dẹp sứ quân Nguyễn Siêu, Nguyễn Bồ và Nguyễn Phục cùng 2 tướng khác bị tử trận. Đinh Tiên Hoàng liền truyền Nguyễn Bặc, Đinh ĐiềnLê Hoàn đem quân đánh báo thù, kết quả diệt được Nguyễn Siêu năm 967.

Nguyễn Bặc cư xử với Đinh Bộ Lĩnh không khác Quan Vũ đối với Lưu Bị. Ông luôn cắp giáo đứng hầu mỗi khi Đinh Bộ Lĩnh bàn việc quân, hay nếm trước thức ăn để tránh cho Lĩnh khỏi bị đầu độc. Khi ra trận mạc ông luôn xông pha đi đầu. Có lần Đinh Bộ Lĩnh bị trúng tên ngã ngựa, Bặc cõng vua trên lưng, leo lên núi đá dựng đứng để thoát vòng vây. Ngoài trận đánh Nguyễn Siêu, Nguyễn Bặc chỉ huy các trận đánh buộc Phạm Bạch Hổ ở Đằng Châu (Hải Dương), Ngô Nhật Khánh ở Đường Lâm (Sơn Tây) và Ngô Xương Xí ở Bình Kiều (Thanh Hoá) phải quy thuận. Trong trận đánh sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Bặc chỉ huy cánh quân đánh vào thành Trại Quyền (Quốc Oai).

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng. Nguyễn Bặc được phong làm Định Quốc Công, đứng đầu các công thần, quản lý việc nội chính. Đinh Điền được phong làm ngoại giáp.

Tận trung với nhà Đinh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Đinh Tiên Hoàng, Đỗ Thích

Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại. Quan Chi hậu nội nhân là Đỗ Thích bị nghi là thủ phạm hàng đầu, sợ hãi bỏ trốn.

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, ba ngày sau, Thích khát nước khát thò tay ra hứng nước mưa uống, bị cung nữ phát hiện đi báo. Nguyễn Bặc lập tức bắt giết ngay Đỗ Thích. Ông cùng các đại thần tôn phò con nhỏ của Đinh Tiên Hoàng là Vệ Vương Đinh Toàn lên ngôi, tức là Đinh Phế Đế. Mẹ Phế Đế là Dương Vân Nga trở thành thái hậu.

Tuy nhiên rất nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu sử gia hiện nay lại cho rằng Đỗ Thích là người bị oan cho là trực tiếp giết hại cha con Nam Việt Vương và chủ mưu chính là Lê Hoàn và Dương hậu, mà Đỗ Thích chỉ là quan chi hậu nên bị ép buộc nhưng chưa thực hiện được ý đồ nên là đồng phạm.

Theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nguyễn Bặc, Đinh Điền làm phụ chính cho Phế Đế, nhưng lúc đó Dương thái hậu tư thông với Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, cho Lê Hoàn làm Phó vương, nắm quyền chỉ huy quân đội, chuyên quyền, tự do ra vào cung cấm. Nguyễn Bặc lo lắng bàn với các tướng:

"Lê Hoàn sẽ bất lợi cho "nhụ tử"[3], chúng ta chịu ơn dày của nước, nếu không tính tước đi, giữ cho xã tắc được yên thì còn mặt mũi nào trông thấy Tiên đế ở suối vàng nữa?".

Ông bèn cùng Đinh Điền, Phạm Hạp khởi binh, chia hai đường thủy bộ cùng tiến đánh Lê Hoàn. Nguyễn Bặc và Đinh Điền kéo quân từ châu Ái (nay thuộc Thanh Hoá), định kéo thẳng đến kinh đô để giết Lê Hoàn. Dương thái hậu nghe tin, bảo Lê Hoàn:

"Bọn Bặc nổi loạn, quan gia[4] hãy còn thơ ấu, cáng đáng sao nổi giữa lúc quốc gia lắm nạn này! Ông nên tính đi".

Lê Hoàn nói:

"Tôi đây làm phó vương, quyền giữ việc nước, dù sống chết cũng xin gánh lấy trách nhiệm".

Lê Hoàn liền sắp xếp quân đội, đánh nhau với Nguyễn Bặc, Đinh Điền ở Ái Châu. Lê Hoàn vốn là người giỏi dùng binh, Nguyễn Bặc và Đinh Điền không chống nổi, lại đem quân thủy ra đánh. Lê Hoàn theo chiều gió, phóng lửa đốt cả thuyền chiến. Đinh Điền bị chết tại trận, còn Nguyễn Bặc bị bắt, đưa về kinh đô. Trước mặt Nguyễn Bặc, Lê Hoàn kể tội ông:

"Đấng Tiên đế mắc nạn, thần và người đều căm giận, ngươi lại nhân lúc tang tóc rối ren, đứng đầu làm giặc! Đạo tôi con đâu có như thế?".

Rồi Lê Hoàn giết hại ông. Năm đó ông 55 tuổi, cùng sinh một năm và chết 1 năm với Đinh Tiên Hoàng.

Nguyễn Bặc, Đinh Điền đã chết rồi, quân của Phạm Hạp mất tinh thần, chạy lên hương Cát Lợi ở Bắc Giang. Lê Hoàn đem quân đuổi theo, bắt đưa về kinh đô, giết chết.

Các đạo quân chống đối bị tiêu diệt, Lê Hoàn được sự hỗ trợ của Dương thái hậu và tướng quân Phạm Cự Lạng, liền phế Đinh Toàn làm Vệ vương như cũ, giành lấy ngai vàng, tức là vua Lê Đại Hành, lập ra nhà Tiền Lê.

Ngày nay ở Ninh Bình còn rất nhiều đền thờ ông và Đinh Điền. Theo các nhà nghiên cứu sử học, số đền thờ các trung thần nhà Đinh nhiều hơn số đền thờ Lê Hoàn và Dương hậu phản ánh tình cảm của dân chúng đối với các ông.

Khởi tổ dòng họ Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều ý kiến từ các chi - phái thuộc hậu duệ của Nguyễn Bặc cho rằng ông chính là Đức Thái thuỷ tổ của dòng họ Nguyễn Đại Tông của họ, theo đó Nguyễn Bặc là con trai Nguyễn Thước, một gia tướng của Dương Đình Nghệ. Cũng theo luồng ý kiến này, dòng họ có con cháu là Nguyễn Trãi và các chúa Nguyễn, vua nhà Nguyễn sau này. Theo gia phả họ Nguyễn Đại Tông, con cháu của Nguyễn Bặc, con Nguyễn Bặc là Nguyễn Đê di cư vào làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa và là tổ tiên của các chúa Nguyễn.

Đền thờ họ Nguyễn Đại Tông Khởi Nguyên ĐườngGia Phương (Gia Viễn, Ninh Bình) có đôi câu đối đánh dấu việc thiên cư của dòng tộc, nói lên sự nối tiếp vẻ vang của dòng họ Nguyễn và đề cao ngài Nguyễn Bặc:

"Duệ xuất Gia Miêu vương tích hiển
Khánh lưu Đại Hữu tướng môn quang"

Tạm dịch:

Cửa tướng phúc dày làng Đại Hữu
Dòng Vương nối ở đất Gia Miêu.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư, Ngô Sĩ Liên nhận định về ông như sau:

Chu Công là người vương thất rất thân, giúp vua nhỏ tuổi còn không tránh khỏi những lời gièm pha phao truyền. Lê Hoàn là đại thần khác họ, nắm giữ binh quyền, làm công việc như Chu Công, thường tình còn ngờ vực, huống là Nguyễn Bặc ở chức thủ tướng và Đinh Điền là đại thần cùng họ hay sao? Bọn họ khởi binh không phải làm loạn, mà là một lòng phù tá nhà Đinh, vì giết Hoàn không được mà phải chết, ấy là chết đúng chỗ. Nay xem lời Đại Hành kể tội Nguyễn Bặc tựa như vạch tội mình. Khi Bặc chết, ắt phải có nói một lời để bày tỏ chính nghĩa, nhưng không thấy sử chép, thế là bỏ sót.

Đền thờ[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Hà Nam Ninh cũ có tới 134 nơi thờ và phối thờ Nguyễn Bặc. Nơi thờ và phối thờ Đinh Điền càng nhiều. Đền vua Đinh ở cố đô Hoa Lư; ở xã Gia Phương; ở Ba Dân (Kim Bảng); đền vua Đinh ở Ý Yên; đền Tứ Trụ ở Tràng An… nơi nào cũng thờ Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Các lễ hội như cờ lau tập trận, hội đền vua Đinh… đều diễn hình ảnh vua Đinh, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, xem như những người hùng tiêu biểu cho tinh thần thượng võ dân tộc. Nhiều nơi thờ các vị thần khác mà vẫn lưu lại sự tích, có khi thờ cả Đinh Điền, Nguyễn Bặc gắn bó với nhau, được dân địa phương sùng kính (như các đền miếu ở huyện Yên Khánh, Ninh Bình, chùa Long Hoa ở xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, đền chùa ở bến Vạc Ninh Bình, đình Động Phi ở huyện Ứng Hòa Hà Nội…). Chứng tỏ, hai vị sống thân thiết, chết lại không xa rời, trở thành hình ảnh tâm linh hòa hợp giữa lòng ngưỡng mộ của nhân dân.[5]

Lăng Nguyễn Bặc táng ở thôn Vĩnh Ninh, làng Đại Hữu (Gia Viễn, Ninh Bình). Lăng được trùng tu lần mới nhất vào năm Kỷ Tỵ (1989).

Về đền thờ, ông được thờ ở nhiều nơi:

  • Chính thức là ngôi từ đường Nguyễn Tộc tại thôn Vĩnh Ninh (Gia Viễn, Ninh Bình).
  • Tại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng ở xã Trường Yên (Hoa Lư, Ninh Bình) dựng từ thế kỷ XI. Đến có 3 tòa: tòa ngoài là bái đường, tòa giữa gọi là Thiên Hương thờ tứ trụ triều đình của nhà Đinh: Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ. Toà trong cùng là chính cung thờ Đinh Tiên Hoàng, Đinh Liễn, Đinh Toàn và Đinh Hạng Lang.
  • Tại thôn Vân Hà làng Đại Hữu (Gia Viễn, Ninh Bình) có ngôi đền thờ 3 vị anh hùng đào viên kết nghĩa là Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc và Đinh Điền.
  • Đình Áng Ngũ, xã Ninh Hòa, huyện Hoa Lư nằm sát kinh đô Hoa Lư thờ Nguyễn Bặc với thần tích cho biết ông từng trấn giữ ở đây.[6] Đền Nột Lấm xã Ninh Xuân cũng thờ "Đinh triều tả giám sát hay "Hành Khiển Quang Lộc đại vương" là Nguyễn Bặc
  • Đền Hiềm ở phường Phúc Thành, Ninh Bình là nơi thờ ông với thần tích ghi lại những hiềm khích với Lê Hoàn.
  • Di tích chùa Đẩu Long, phường Tân Thành, thành phố Ninh Bình, Ninh Bình cùng 6 vị thần khác.
  • Tại miếu Đông Thương xã Khánh An huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, ông được phối thờ cùng Đinh Điền.
  • Tại làng Cổ Điển thuộc xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội, có đình Ba Dân là đình chung của 3 làng: Cương Ngô, Cổ Diễn, Đồng Trì thờ chung các ông Nguyễn Bặc, Nguyễn Bồ và Nguyễn Phục.
  • Tại làng Văn Điển thuộc xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội
  • Tại huyện Hoa Lư (Ninh Bình) có bốn thôn đều có đình thờ ông làm thành hoàng, trong đó thô Ngô Hạ thờ tượng. Năm Canh thân (1980) chi họ Nguyễn Đình tước tượng ngài về thờ ở từ đường của chi họ (cùng thôn).
  • Đình Mai Nội, xã Mai Đình, Sóc Sơn, Hà Nội là nơi thờ Nguyễn Bặc với biệt danh Quang Minh
  • Đền thờ Định Quốc Công Nguyễn Bặc tại làng Phú Cốc, xã Thanh Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
  • Tại kinh thành Phú Xuân (Huế) vua Minh Mạng cho xây miếu Lịch Đại Đế vương để thờ các vị vua và các danh tướng qua các triều đại trong đó có Nguyễn Bặc.
  • Năm Đinh Dậu (1917) ông được vua Khải Định sắc phong là Hộ Quốc Tướng Công Trác Võ Thượng Đẳng Phúc Thần.
  • Hiện tại trung tâm thành phố Ninh Bình đang xây dựng khu Quảng trường - tượng đài Đinh Tiên Hoàng đế với 4 góc có tượng 4 vị quan đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ cao 5m, có lính canh và ngựa bằng đá[7].

Tên đường[sửa | sửa mã nguồn]

Tên tuổi của Nguyễn Bặc được đặt cho các đường phố ở nhiều đô thị như: thành phố Kon Tum, thành phố Tam Điệp, thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang, thành phố Ninh Bình, thành phố Hải Phòng...

Hiện nay ở Việt Nam, Ban liên lạc Hội đồng dòng tộc Nguyễn Bặc đã được thành lập. Chủ tịch danh dự của Hội đồng dòng tộc Nguyễn Bặc toàn quốc là ông Nguyễn Huy Hiệu, thượng tướng, Viện sĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]