Trần Nguyên Hãn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Nguyên Hãn
Tran Nguyen Han.jpg

Tượng Trần Nguyên Hãn ở thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Tiểu sử
Sinh


Sơn Đông, Lập Thạch, Vĩnh Phúc
Mất


Sơn Đông, Lập Thạch, Vĩnh Phúc
Binh nghiệp
Phục vụ Nhà Hậu Lê
Thuộc Quân đội Đại Việt
Năm tại ngũ 1420–1429
Tham chiến Khởi nghĩa Lam Sơn, Trận Chi Lăng - Xương Giang

Trần Nguyên Hãn (chữ Hán: 陳元扞, ?-1429) là võ tướng trong khởi nghĩa Lam Sơn, có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đánh thắng quân Minh xâm lược

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sách Đại Việt thông sử, Trần Nguyên Hãn người huyện Lập Thạch, dòng dõi Tư đồ Trần Nguyên Đán, có học thức, giỏi binh pháp.[1]

Phạm Đình Hổ[2]Nguyễn Án trong sách Tang thương ngẫu lục, Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lượcPhan Kế Bính đều cho rằng Trần Nguyên Hãn là người Hoắc Xa, huyện Quảng Oai, Sơn Tây (nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội). Trần Xuân Sinh bác lại ý trên. Ông nói rằng mình từng tới xã Hoắc Xa (còn được gọi là Vân Xa), nhưng dân xã này thờ Trần Khát Chân và họ - dân xã này – cũng không biết gì về Trần Nguyên Hãn cả. Từ luận cứ trên, tác giả này cho rằng Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lượcPhan Kế Bính đã dựa vào Tang thương ngẫu lục mà lầm theo.[3]

Sách Đại Việt thông sử viết rằng ông:Có học thức, giỏi binh pháp và là dòng dõi của Tư đồ Trần Nguyên Đán.[4]

Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Gia nhập quân Lam Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại việt thông sử chép rằng:Khi nhà Hồ mất, quân Minh xâm lược, trăm họ lầm than, Trần Nguyên Hãn nuôi chí cứu đời giúp dân. Một hôm đến lễ thần ở đền Bạch Hạc, thấy thần ở đền núi Tản Viên bảo với thần ở đền Bạch Hạc rằng trời đã sai Lê Lợi, người ở Lam Sơn làm vua nước An Nam. Vì thế ông mới vào Thanh Hóa tìm Lê Lợi, một lòng theo. Lê Lợi biết tài lược của ông, đãi ngộ rất hậu, cho dự bàn mưu kín, cho theo đánh giặc luôn lập công. Năm Ất Tỵ (1425), ông được Lê Lợi lệnh cho ông cùng Thượng tướng Lê Nỗ, chấp lệnh Lê Đa Bồ đem hơn 1000 quân và một con voi đi đánh các xứ Tân Bình, Thuận Hóa.[5]

Đánh Tân Bình, Thuận Hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ất Tỵ (1425), mùa thu, tháng 7, Lê Lợi phán đoán rằng thành quân Minh ở các xứ Thuận Hóa, Tân Bình đã từ lâu không thông tin tức với Nghệ An và Đông Đô, bảo các tướng: Người làm tướng giỏi ngày xưa bỏ chỗ rắn đánh chỗ mền, tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, như thế chỉ dùng một nữa sức mà nên công gấp đôi. Liền sai ông cùng Thượng tướng Lê Nỗ, chấp lệnh Lê Đa Bồ đem hơn 1000 quân và một con voi đi đánh các xứ Tân Bình, Thuận Hóa.[6][7][8][9]

Quân khởi nghĩa đến sông Bố Chính[10] thì gặp quân Minh. Trần Nguyên Hãn, Lê Nỗ, Lê Đa Bồ đưa quân vào chỗ hiểm yếu, bí mật mai phục ở Hà Khương để nhử giặc. Tướng Minh là Nhậm Năng đem hết quân vào, ông cùng Doãn Nỗ, Lê Đa Bồ hợp binh tượng còn lại để đánh rồi giả cách thua chạy. Nhậm Năng đuổi theo, quân mai phục đánh kẹp 2 bên, quân Minh tan vỡ, bị chém và chết đuối rất nhiều.[11][12][13]

Tuy thắng, nhưng quân của ông và Doãn Nỗ có ít, mà quân Minh vẫn đông, họ sai người cấp báo và xin quân. Lê Lợi sai Lê Ngân, Lê Bôi, Lê Văn An đem 70 chiếc thuyền chiến vượt biển đến. Được tin thắng trận trước đó, liền thừa thắng đánh vào các xứ Tân Bình, Thuận Hóa. Quân và dân các nơi bị quân Minh chiếm đều quy thuận, quân Minh rút vào thành cố thủ. Các xứ Tân Bình, Thuận hóa đều thuộc về nghĩa quân.[14][15][16]

Tháng 9, năm Bính Ngọ (1426), Lê Lợi nhận được tin báo của Đinh Lễ về chiến thắng Tốt Động, Chúc Động liền đem quân tiến ra Bắc, hợp quân vây Đông Đô. Lê Lợi chia quân làm 3 cánh, ngày 23 tháng 10, sai Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị đem hơn trăm chiếc thuyền thủy quân, ngược dòng sông Đại Lũng ra cửa sông Hát, rồi thuận dòng xuôi đến bến Đông Bộ Đầu sông Lô; sai Đinh Lễ đem hơn 1 vạn quân bộ bí mật tiến đến cầu Tây Dương; Lê Lợi đích thân dẫn binh tượng đến cửa Nam ngoài thành Đại La để đánh thành Đông Quan.[17][18][19]. Đến đêm, hồi canh ba, quân 3 mặt đánh ập vào, phóng lửa đốt các nhà ở ngoài thành, khói lửa mù mịt đầy trời. Các doanh quân đóng ngoài thành của Phương Chính tranh nhau chạy vào cửa thành xác chết gối lên nhau. Quân Lam Sơn bắt hết những người trong nước buộc phải theo quân Minh và hơn trăm chiến thuyền cùng rất nhiều khí giới, nghi trượng. Quân Minh biết là quân dân các vùng gần đó đều theo về nghĩa quân, mỗi ngày một cùng quẫn, lại đắp thêm tường lũy, liều chết cố thủ, để đợi viện binh[20][21][22].

Hạ thành Xương Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thu, tháng 9, năm Đinh Mùi, Trần Nguyên Hãn được phong làm Thái úy, Lê Lợi sai Thái úy Trần Nguyên Hãn, Tư mã Lê Sát, thiếu úy Lý Triện , Nguyễn Lý, đánh thành Xương Giang.[23][24][25]

Tướng chỉ huy nhà Minh là Kim Dận giữ thành này để bảo vệ con đường rút về Bắc của quân Minh, cùng với người mới nhận chức là Lý Nhậm, ra sức cố thủ. Nghĩa quân bao vây hơn 6 tháng, đánh nhau ở Khoái Châu, Lạng Giang không phân thắng bại. Nghĩa quân không lên được thành, Lê Lợi thấy viện binh của quân Minh sắp đến, mới sai các tướng, trong đó có Trần Nguyên Hãn, ra đánh gấp.Lê Lợi sai các tướng đắp đất, mở đường đánh nhau với quân Minh, đào đường ngầm, dùng câu liên, giáo, nỏ cứng, hỏa tiễn, hỏa pháo, bốn mặt cùng đánh, không đầy một giờ đã hạ được thành. Lý Nhậm và Kim Dận tự sát. Nghĩa quân thu vàng lụa, con gái đem chia đều cho binh sĩ. Vương Thông nghe tin thua trận phải làm văn tế.[26][27][28]

Tham gia đánh bại viện binh nhà Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18, tháng 9 năm Đinh Mùi (1427), hai cánh viện binh nhà Minh do An Viễn hầu Liễu Thăng chỉ huy tiến vào Lạng Sơn và Kiềm quốc công Mộc Thạnh vào cửa Lê Hoa[29][30][31]

Ngày 20, cánh quân do Liễu Thăng chỉ huy bị Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Lãnh, Đinh Liệt, Lê Thụ đánh bạo ở Chi Lăng, Liễu Thăng bị chém ở núi Mã Yên. Sau một loạt thất bại và nhiều tướng soái chết,Thôi Tụ, Hoàng Phúc dẫn quân tiến lên, nhưng bị Lê Lý và Lê Văn An đem 3 vạn quân bao vây bốn mặt, lại dựng rào lũy ở tả ngạn sông Xương Giang để ngăn chặn[32][33][34].

Trong lúc đó Trần Nguyễn Hãn chặn đứng đường vận chuyển lương thực quân Minh. Đầu tháng 11, quân Lam Sơn tổng tấn công, quân Minh đại bại, bị giết và bắt sống toàn bộ cùng các tướng[35][36][37].

Hội thề Đông Quan[sửa | sửa mã nguồn]

Hội thề này – mà về sau sách sử gọi là hội thề Đông Quan – diễn ra vào tháng 12–1427 tại phía nam thành, bên bờ sông Cái. Trong danh sách những người tham gia hội thề của phía Lam Sơn, Trần Nguyên Hãn đứng tên thứ hai, sau Lê Lợi[38]

Chức vụ và khen thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng năm 1424-1425, Trần Nguyên Hãn là Tư đồ. Năm 1427, sau chiến tích hãm Đông Quan, ông được phong là Thái úy

Đại Việt sử kí toàn thư ở chương X viết "Đại hội các tướng và các quan văn võ để định công, ban thưởng, xét công cao thấp mà định thứ bậc. Lấy thừa chỉ Nguyễn Trãi làm Quan phục hầu; tư đồ Trần Hãn làm Tả tướng quốc; Khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo làm Thái Bảo; đều được ban quốc tính"[39][40]

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1429, Trần Nguyên Hãn xin về trí sĩ. Từ trước đó, Nguyên Hãn có nói riêng với người thân cận:

(Câu Tiễn có tướng cổ dài, mép quạ, tức là tướng chim. Có thuyết cho rằng Trần Nguyên Hãn trực tiếp nói câu này với Nguyễn Trãi.)

Lê Lợi y cho Nguyên Hãn được về, nhưng dặn rằng cứ một năm hai lần lại vào triều chầu vua. Trần Nguyên Hãn "thập đạo kinh luân mao ức lý, nhân cựu trạch tử miếu" (sau mười năm chiến chinh, quay về ngôi nhà cũ). Ở đây, ông cho dựng phủ đệ lớn, đóng thuyền to. Việc này bị quy kết là lộng hành và có âm mưu thoán nghịch. Trần Nguyên Hãn bị Lê Lợi ra lệnh bắt về triều để xét hỏi. Tới bến Sơn Đông, ông nói:

Cái chết của Trần Nguyên Hãn được Đại Việt thông sử mô tả khác nhau trong 2 thiên truyện: Đế kỷ đệ nhất ghi ông tự sát[42]; truyện Trần Nguyên Hãn lại mô tả sau lời than của ông, gió to nổi lên làm lật thuyền khiến ông và 42 lực sĩ đều chết, chỉ có 2 gia đồng sống sót[43].

Di lụy và phục hồi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Diên Ninh thứ 5 (1455), nhân đại xá, vua Lê Nhân Tông thương ông vô tội, ban chiếu trả lại ruộng nương của cải, để biểu dương người có công lao cũ. [44]

Đời nhà Mạc, ông được truy phong là Tả tướng quốc, Trung liệt Đại vương[45]

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sách Đại Việt thông sử, quyển 2, Đế kỷ đệ nhị chép về Lê Thái Tổ thuật rằng Trần Nguyên Hãn có thông đồng với tù trưởng địa phương làm phản, nhưng tại thời điểm hạ lệnh bắt ông (1429) không nêu lý do mà hơn 1 năm sau, trong sự kiện đánh dẹp mới đề cập[46]:

Tháng 2, năm 1429, "ban tờ chiếu bắt giam Thái úy Hữu Tướng quốc là Trần Nguyên Hãn, Hãn liền tự sát".
Tháng 11 năm 1430, "vì thổ tù châu Thạch Lâm Thái Nguyên là Bế Khắc Thiệu và Nông Khắc Thái ở châu Thượng Lang liên kết với Trần Hãn làm phản, vua bèn hạ chiếu thân chinh..."
Ngày 3, tháng 3, năm 1432, Lê Thái Tổ sau khi dẫn quân giết Đèo Cát Hãn, thu châu Phục lễ, ban tờ chiếu kể tội về việc Trần Nguyên Hãn thông đồng với Bế Khắc Thiệu làm phản.

Riêng vụ việc Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái nổi dậy làm phản, Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng hai người này ở địa phương tranh nhau tự lập, không do ai xui giục[47].

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép vụ việc họ Nông và họ Bế làm phản và việc hạ lệnh bắt Trần Nguyên Hãn là 2 việc riêng rẽ, không liên quan tới nhau; sách này cũng khẳng định Trần Nguyên Hãn bị gièm pha vu cáo là có mưu phản. Khi đề cập tới việc Lê Lợi đánh xong họ Nông và họ Bế, ban chiếu kể tội họ cho các nơi biết cũng không đề cập tới người khác xui giục[48].

Các nhà sử học thống nhất rằng Trần Nguyên Hãn là công thần bị chết oan. Theo sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, vua Thái Tổ tuổi già, lắm bệnh, sợ ngày sau chúa nhỏ (thái tử Nguyên Long mới lên 8) cầm quyền, các đại thần như Phạm Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn "sẽ có chí khác"[43]. Vì vậy, bề ngoài Lê Lợi "tỏ ra trọng vọng nhưng bên trong vẫn nghi ngờ. Bọn gian thần Trình Hoàng Bá, Lê Quốc Khí, Đinh Bang Bản, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư đón biết ý vua tranh nhau dâng mật sớ khuyên vua sớm trừ đi"[43]. Khi Phạm Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn đã bị trừ bỏ, vua Lê "hối hận, thương hai người bị oan", hạ lệnh cho những kẻ tố cáo ông về sau không được tố cáo ai nữa và dù có tài cũng không được dùng nữa. Khi Lê Thái Tông (Nguyên Long) lên ngôi, phụ chính Lê Sát định dùng lại bọn gian thần đó nhưng bị các quan trong triều phản đối đành phải thôi[43].

  • Ông nằm trong vòng xoáy tranh giành quyền lực trong triều đình nhà Lê thời hậu chiến. Có ý kiến cho rằng Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo ủng hộ Lê Tư Tề, con trưởng của Lê Lợi trong khi Lê Sát, Lê Ngân, Phạm Vấn... ủng hộ người con thứ là Nguyên Long. Khi phái Lê Sát thắng thế và Lê Tư Tề bị ruồng bỏ, thì ông cũng không tránh khỏi hậu họa[49].
  • Mối nghi ngại của Lê Lợi đối với triều đại cũ: Lê Lợi từng hại Trần Cảo – người tự nhận là tôn thất nhà Trần, từng được đưa lên nắm ngôi Hoàng đế bù nhìn và lo ngại Trần Nguyên Hãn là dòng dõi tông thất nhà Trần[43]

Lời bình của Trần Quốc Vượng[sửa | sửa mã nguồn]

Sử gia Trần Quốc Vượng bàn về cái chết của Trần Nguyên Hãn như sau:

Gia quyến và con cháu đời sau[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Nguyên Hãn có 3 vợ. Với 2 vợ đầu, ông có 3 con trai. Lê Quý Đôn [51] chép rằng ông bị bắt về kinh sư cùng người vợ thứ ba và người con nhỏ mới sinh (hài đồng tử). Sau khi ông chết, Lê Lợi cho bắt hai mẹ con bà này về kinh quản thúc, gia sản của Trần Nguyên Hãn bị tịch thu.

Theo gia phả các chi họ ở xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc,[52] thì Trần Nguyên Hãn có ba vợ, hai người vợ đầu là:

  • Bà cả (không ghi tên) người làng Cao Phong, xã Văn Quán,[53]. Ông bà sinh hạ được một con trai là Trần Doãn Hữu, tự là Trung Khang. Trước khi ông Trần Nguyên Hãn xuống thuyền về kinh (theo lệnh triệu hồi của Lê Lợi), ông cho mẹ con bà chạy trốn vào rừng Thần; sau trở lại Sơn Đông.
  • Vợ thứ hai là bà Lê Thị Tuyển [54]. Ông bà sinh hạ hai con trai là Trần Trung Khoản và Trần Đăng Huy, tự là Trung Lương. Khi Trần Nguyên Hãn xuống thuyền về kinh, ông cho ba mẹ con bà Tuyển chạy trốn sang làng Kẻ Nú, phủ Tam Đới huyện Phù Khang, trấn Tây Sơn. Sau người con lớn Trần Trung Khoản tiếp tục bỏ đi và đổi ra họ Quách.[55] và Trần Đăng Huy đổi sang họ Đào.

Nơi thờ tự và di tích[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Nguyên Hãn được nhiều làng ở Sơn Động và các vùng xung quanh lập đền thờ, nhưng " chính tự" (nơi thờ tự chính, được công nhận và ghi vào " tự điển"[56]) là đền Tả tướng. Đền này được xây ngay trên nền ngôi nhà cũ của Trần Nguyên Hãn.[cần dẫn nguồn]

Nhiều di tích ở Sơn Động hiện nay được cho là có liên quan đến các hoạt động của Trần Nguyên Hãn như rừng Thần, đầm Rạch, cống Khẩu... Ao Tó là nơi ông luyện thủy quân sau khi đã trí sĩ về nhà và cho đóng thuyền lớn. Chợ Gốm là nơi Trần Nguyên Hãn từng hành nghề bán dầu. Hiện nay, dân làng này vẫn làm nghề ép dầu bên cạnh những nghề thủ công khác như làm gốm, sơn, mộc.[cần dẫn nguồn]

Tên của ông được đặt cho nhiều đường phố tại các thành phố Việt Nam: tại quận Hoàn Kiếm Thành phố Hà Nội, quận Lê Chân Thành phố Hải phòng, Thành phố Đà Nẵng, phường Phước Hòa Thành phố Nha Trang, Thành phố Vũng Tàu, quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh.

Đặc biệt tại Trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh có tượng danh tướng Trần Nguyên Hãn cưỡi ngựa có chim bồ câu trên tay (tưởng nhớ thánh tổ lực lượng truyền tin) được dựng dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa ở vòng xoay Quách Thị Trang trước chợ Bến Thành.[cần dẫn nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sách dùng để trích dẫn tư liệu cho bài viết[sửa | sửa mã nguồn]

  • Văn hóa Việt Nam – tìm tòi và suy ngẫm, Trần Quốc Vượng.
  • Thuyết Trần, Trần Xuân Sinh, Nhà xuất bản Hải Phòng 2003.
  • Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2005
  • Lịch sử Việt Nam: hỏi và đáp, Lê Văn Lan, 2004.
  • Đại cương lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006, tập 1.
  • Việt sử giai thoại, Nguyễn Khắc Thuần, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003, tập 5.
  • Nhìn lại lịch sử, Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2003.
  • Khởi nghĩa Lam Sơn, Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn.
  • Từ điển chức quan Việt Nam, Đỗ Văn Ninh, Nhà xuất bản Thanh niên, 2006
  • Đại Việt thông sử, Lê Quý Đôn, NXB Khoa học xã hội, 1978

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

(Giáo sư Lê Văn Lan đề nghị)

  • Trần Nguyên Hãn – sở Văn hóa Thông tin Vĩnh Phú, 1988.
  • Danh nhân Vĩnh Phúc – Lê Kim Thuyên, 1999.

Truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long, trang 231
  2. ^ Từng giữ chức Quốc tử giám Tế tửu (có thể hiểu nôm na là Hiệu trưởng Quốc tử giám).
  3. ^ Nguồn: Thuyết Trần, Trần Xuân Sinh, NXB Hải Phòng 2003, trang 493.
  4. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long, trang 231
  5. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long, trang 231
  6. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long, trang 231
  7. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 336
  8. ^ Đại Việt sử ký toàn thư bản điện tử[1]
  9. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long, trang 232
  10. ^ Sông Bố Chính: tức là sông Gianh, tỉnh Quảng Bình
  11. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 336
  12. ^ Đại Việt sử ký toàn thư bản điện tử[2]
  13. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long, trang 232
  14. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 336
  15. ^ Đại Việt sử ký toàn thư bản điện tử[3]
  16. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long, trang 232
  17. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long, trang 232
  18. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 339
  19. ^ Đại Việt sử ký toàn thư bản điện tử[4]
  20. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long, trang 232
  21. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 339
  22. ^ Đại Việt sử ký toàn thư bản điện tử[5]
  23. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long, trang 233
  24. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 349
  25. ^ Đại Việt sử ký toàn thư bản điện tử[6]
  26. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long, trang 233
  27. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 349
  28. ^ Đại Việt sử ký toàn thư bản điện tử[7]
  29. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long, trang 233
  30. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 350
  31. ^ Đại Việt sử ký toàn thư bản điện tử[8]
  32. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long, trang 233
  33. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 350
  34. ^ Đại Việt sử ký toàn thư bản điện tử[9]
  35. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long, trang 233
  36. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 350
  37. ^ Đại Việt sử ký toàn thư bản điện tử[10]
  38. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, trang 233
  39. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 362
  40. ^ Đại Việt sử ký toàn thư bản điện tử[11]
  41. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 190
  42. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 81
  43. ^ a ă â b c Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 192
  44. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 234
  45. ^ Nguồn: Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, tập 1, Bản dịch của Nhà xuất bản Khoa học xã hội - 1992, trang 320.
  46. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 81, 88, 93
  47. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 10
  48. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 15
  49. ^ Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ, sách đã dẫn, tr 982-983
  50. ^ Văn hóa Việt Nam– tìm tòi và suy ngẫm, Trần Quốc Vượng, trang 749.
  51. ^ Trong Lê triều thông sử, dẫn lại từ www.vietnamgiapha.com
  52. ^ Ông Trần Thanh San ghi lại trong cuốn gia phả tộc Trần Nguyên Thiên Nghệ Tĩnh trang 61 & 62, dẫn lại từ www.vietnamgiapha.com
  53. ^ Nay thuộc xã Sơn Đông, Lập Thạch, Vĩnh Phúc.
  54. ^ Theo gia phả Minh Nông.
  55. ^ Gia phả chi họ Trần ở thôn Hồng Hải - Minh Nông – thành phố Việt Trì.
  56. ^ "Tự điển" tức là "điển các lệ về đền thờ" của nhà Lê.