Lê Văn Linh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lê Văn Linh (黎文靈 hay 黎文零,[1] 1376 - 1448) là công thần khai quốc nhà Lê sơ trong lịch sử Việt Nam, làm quan trải ba triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông người huyện Lôi Dương (nay là huyện Thọ Xuân), Thanh Hoá, Việt Nam.[2]

Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Văn Linh sinh ra cuối thời nhà Trần. Ông nổi tiếng về văn học từ nhỏ. Trang ấp của ông, hổ dữ làm hại, ông viết thư trách mắng, hổ bỏ đi, người ta ví ông với Hàn Dũ đuổi cá sấu[3][4]

Lúc Lê Lợi thời ký bí mật ở núi Lam Sơn, Lê Văn Linh hăng hái theo về[5]. Năm 1418, Lê Lợi phát động khởi binh chống nhà Minh tại Lam Sơn, Lê Văn Linh là văn thần phò giúp. Ông là quan văn cùng với Lê Thận, Lê Văn An là những tướng võ luôn đi sát bảo vệ Lê Lợi.[6]

Năm 1426, tướng nhà Minh là Lý An, Phương Chính bỏ thành Nghệ An lúc ấy đang bị Lê Lợi cho quân bao vây, chỉ để Thái Phúc giữ thành, vượt biển chạy ra Đông Quan. Lê Lợi cho rằng thời cơ không thể bỏ mất, cho Lê Ngân, Lê Văn An, Lê Bôi, Lê Điền, Lê Lĩnh, Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng ở lại vây thành Nghệ An, còn nhà vua cất quân đuổi theo Lý An, Phương Chính.[7]

Phong thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày mồng 3, tháng 5, năm 1429, vua ban biển ngạch công thần cho 93 viên, Lê Văn Linh được ban tước Hương Thượng Hầu [8] cùng với Lê Lý, Lê Quốc Hưng.[9][10]

Tham dự triều chính[sửa | sửa mã nguồn]

Triều vua Lê Thái Tổ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 7 tháng 1 năm 1429, với chức Nhập nội Thiếu phó, Lê Văn Linh là một trong 7 vị đại thần mang kim sách lập Quốc vương Lê Tư Tề và Hoàng Thái Tử Nguyên Long[4].

Năm 1429, Lê Văn Linh được phong làm Nhập nội Thiếu phó rồi đổi sang làm Hữu bật.[5]

Triều vua Lê Thái Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1434 vua Lê Thái Tông ra lệnh cho Nhập nội thiếu bảo Lê Quốc Hưng; Nhập nội hữu bật Lê Văn Linh làm lễ tấu cáo ở Thái miếu, rước thần chủ mới của Thái Tổ và Quốc thái mẫu vào thờ ở Thái miếu.[11][12]

Ngày mồng 6, tháng 3, năm 1435, sau khi đúc xong ấn báu, nhà vua sai Lê Văn Linh lúc ấy giữ chức Hữu Bật làm lễ tế cáo.[11][13]

Ngày 21, tháng 11, Lê Văn Linh được cử làm Tham đốc, cùng với Tư mã tây đạo Lê Bôi làm Tổng quản cầm vệ quân 5 đạo và hai vạn trấn quân Nghệ An đạmh dẹp tù trưởng châu Ngọc Ma là Cầm Quý, bắt được Cầm Quý.[11][14]

Năm 1437, Tư đồ Lê Sát chuyên quyền, bị vua Lê Thái Tông xử án phải bãi chức. Lê Văn Linh và Lê Ngân cùng tâu xin giảm tội cho Lê Sát nhưng Thái Tông không nghe. Lê Sát hận Lê Ngân được Thái Tông cho thay chức, ngầm nuôi võ sĩ định giết Ngân. Việc bị lộ, Thái Tông kết án xử tử Lê Sát, rồi ra chiếu kết tội Lê Sát và những người cùng cánh[15]:

"Tội của Lê Sát đáng phải chết, không thể dung thứ được… Còn bọn Lê Văn Linh, Lê Lĩnh, Lê Thụ, Lê Ê, Lê Hiêu đều nên theo luật trị tội, nếu gặp ân xá cũng không được tha…"

Lê Văn Linh bị liên lụy vì vụ án Lê Sát, bị giáng xuống làm Tả bộc xạ. Ít lâu sau, ông lại được thăng làm Tri từ tụng sự.[11][16]

Triều vua Lê Nhân Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Sang thời Lê Nhân Tông, ông được thăng làm Thái phó.

Năm 1448, Lê Văn Linh qua đời, thọ 72 tuổi, truy tặng Khai phủ, tên thụy là Trung Hiến.

Ông theo Phật gia, trước khi mất ông dặn lại con mời các bậc cao tăng tụng kinh ba tuần chay, bảy tuần giới, đừng làm đám linh đình[15].[11][17]

Hậu thế ghi công[sửa | sửa mã nguồn]

Đời vua Gia Long, ông được liệt vào hàng khai quốc công thần bậc nhất, triều đình miễn lao dịch cho một người cháu để lo việc thờ tự.[4]

Tại Hà Nội hiện nay có phố mang tên ông, nối giữa phố Lý Nam Đế và phố Phùng Hưng. Tại quận 4, thành phố Hồ Chí Minh, tên ông được dùng để đặt tện một con đường, đường Lê Văn Linh.

Tên của ông cũng được đặt cho một trường trung học phổ thông tại huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, trường THPT Lê Văn Linh.[18]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Việt sử ký toàn thư nhận xét về ông[15]:

[19]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt thông sử
  • Đại Việt Sử ký Toàn thư
  • Viện sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
  • Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Quốc sử quán triều Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hóa
  • Việt Nam sử lược.
  • Lịch triều hiến chương loại chí, quyển 1, nhà xuất bản giáo dục, 2006.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Việt Nam sử lược/Quyển I/Phần III/Chương XIV
  2. ^ Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Quốc sử quán triều Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hóa
  3. ^ Hàn Dũ làm quan đời Đường Đức Tông, Triều Châu sông có cá sấu làm hại dân, Hàn Dũ viết thơ ném xuống sông, cá sấu bỏ đi
  4. ^ a ă â Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Quốc sử quán triều Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hóa Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “ReferenceA” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  5. ^ a ă Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2006, trang 277
  6. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 271
  7. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 337
  8. ^ Hạng 3, sau Huyện thượng hầu, Á thượng hầu
  9. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, quyển X
  10. ^ Sách Lịch triều hiến chương loại chí viết rằng ông được ban tước Khanh thượng hầu
  11. ^ a ă â b c Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên .C4.90.E1.BA.A1i_Vi.E1.BB.87t_s.E1.BB.AD_k.C3.BD_to.C3.A0n_th.C6.B0_b.E1.BA.A3n_.C4.91i.E1.BB.87n_t.E1.BB.AD
  12. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 384
  13. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 386
  14. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 391
  15. ^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 11
  16. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 398
  17. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 410
  18. ^ Trường THPT Lê Văn Linh
  19. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Nhà xuất bản giáo dục 2006, dịch giả Viện sử học, trang 278