Lan Xang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
LỊCH SỬ LÀO
That Louang Vientiane.jpg
Lịch sử Lào thời tiền sử
Bồn Man
Muang Sua
Vương quốc Lan Xang (1353 - 1707)
Thời kỳ phân liệt (1707 - 1779)
   Vương quốc Viêng Chăn
   Vương quốc Luangprabang
   Vương quốc Champasak
Thuộc Xiêm (1779-1893)
Thuộc Pháp (1893-1949)
Vương quốc Lào (1950-1975)
CHDCND Lào (1975-nay)
sửa

Lan Xang (một số sách báo viết là Lan Xang, Lan Ch'ang, Lane Xang, tiếng Pali: Sisattanakhanahut, tiếng Lào: ລ້ານຊ້າງ - lâansâang, tiếng Trung: 南掌 - Nam Chưởng hay 萬象 - Vạn Tượng), nghĩa là “đất nước triệu voi” (Lan: triệu, Xang: voi), là nhà nước đầu tiên của người Lào, được vua Phà Ngùm thành lập năm 1354.

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Phà Ngừm

Phà Ngừm là dòng dõi của thủ lĩnh (chao muang) muang Sua (Luangprabang ngày nay). Lúc nhỏ, ông cùng cha sống như con tin ở Đế quốc Khmer, rồi kết hôn với một trong các công chúa của vua Khmer. Ông đã tiếp thu Phật giáo Đại thừa cũng như phương pháp chỉ huy quân sự và chính trị của Angkor. Năm 1351, Phà Ngừm được triều đình Angkor giao chỉ huy một đội quân đi bình định vùng phía bắc cao nguyên Khorat. Với tài năng quân sự và đội quân hùng mạnh, Phà Ngừm đã khuất phục được các chao muang, thống nhất nước Lào, lập nên đất nước Lan Xang vào năm 1354 với kinh đô là Xieng Dong Xieng Thong ở muang Sua cũ. Đất nước Lan Xang trải dài từ biên giới phía bắc với Trung Quốc tới Sambor phía dưới các thác ghềnh của sông Mê Kông tại khu vực đảo Khong và từ phía đông là biên giới với Đại Việt tới các dốc đứng phía tây của cao nguyên Khorat. Khi đó, nó đã từng là một trong các quốc gia quốc gia lớn nhất tại khu vực Đông Nam Á.

Năm 1373, Phà Ngùm mất sự ủng hộ chính trị và bị ép phải lưu vong ở muang Nan (nay thuộc tỉnh Nan của Thái Lan). Con trai của ông, Samsenethai lên kế vị. Các ghi chép lịch sử của người Thái cho thấy Samsenthai và toàn bộ các vị vua tiếp theo của Lan Xang đều đóng vai trò vua của quốc gia chư hầu cho vương quốc Ayutthaya.

Samsenethai đưa Lan Xang trở lại với hệ thống chính trị-văn hóa MandalaPhật giáo Thượng tọa bộ. Nhờ đó, ông đã có được sự liên minh cá nhân chặt chẽ với các thủ lĩnh địa phương. Và để giữa quan hệ tốt với các nhà nước của người Thái đang trở nên hùng mạnh bên cạnh mình, Samsenethai đã kết hôn với một công chúa Lan Na và một công chúa Ayutthaya.

Kế vị Samsenethai là Lan Kham Deng. Ông chỉ ở ngôi một thời gian ngắn. Sau khi Lan Kham Deng qua đời, Lan Xang rơi vào thời kỳ nhiễu loạn.

Khủng hoảng và tái ổn định[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai cả của Lan Kham Deng là Phommathat kế vị nhưng chỉ ở ngôi được 10 tháng thì bị sát hại. Người nắm quyền lực tối cao thực sự ở Lan Xang lúc này là Nang Keo Phimpha, em gái của Samsenethai. Lên kế vị là người chú họ Khamtum, con trai của Nang Keo Phimpha. Nhưng Khamtum cũng chỉ ở ngôi được 5 tháng thì bị ép nhường ngôi cho Meunsai - con trai thứ của Samsenethai. Meunsai ở ngôi được 6 tháng lại bị Nang Keo Phimpha xử tử và đưa Fa Khai lên kế vị. Fa Khai cũng chỉ ở ngôi được khoảng 3 năm.

Những cuộc tranh giành ngôi vua giữa các phe phái cứ liên tục như vậy cho đến tận năm 1442, khi Xaiyna Chakhaphat lên ngôi.

Sau 20 năm nhiễu loạn với sự tranh giành và thay đổi ngôi vua liên tục, Xaiyna Chakhaphat đã ổn định được đất nước bằng cách phái 6 người con của mình và các họ hàng thân tín khác đi trấn giữ những nơi xung yếu của đất nước. Không củng cố được quan hệ liên minh cá nhân với các thủ lĩnh địa phương, Xaiyna Chakhaphat tìm cách ổn định đất nước bằng cách cổ súy Phật giáo phát triển.

Tuy nhiên, quan hệ giữa Lan Xang với nước Đại Việt tiếp tục xấu đi vì vấn đề Bồn Man. Hậu quả của điều này là cuộc tấn công của Hoàng đế Lê Thánh Tông vào các năm 1478-1479. Quân đội Đại Việt đã chiếm được kinh đô. Sau đó, theo sử sách Lào, một người con của Xaiyna Chakhaphat là Suvanna Banlang đang cai trị ở muang Nan với sự giúp đỡ của Lan Na đã đẩy lui được quân Đại Việt, giải phóng kinh đô. Suvanna Banlang lên làm vua. Ở ngôi được một thời gian ngắn thì qua đời.

Kế vị Suvanna Banlang là em trai của ông - La Saen Thai (ở ngôi: 1486–96), rồi đến con trai của Suvanna Banlang là Somphu (ở ngôi: 1496–1501), và rồi lại đến một người em trai nữa là Vixun (ở ngôi: 1501–1520). Chịu sức ép của Đại Việt, các vị Lan Xang này đều tìm cách tăng cường quan hệ với Ayutthaya - lúc đó là thế lực chính trị hùng mạnh nhất của các tộc người Thái. Do đó, Ayutthaya đã có những ảnh hưởng quan trọng về chính trị, văn hóa và thương mại tới Lan Xang, giúp Lan Xang trở nên hưng thịnh.

Hưng thịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Lan Xang dưới sự cai trị của các vua Vixun (1501–20), Phothisarat (1520–47) và Setthathirath (1548–71) có một thời kỳ vàng son. Ba vị vua này dù không làm được gì để thay đổi căn bản đất nước, nhưng đã tiếp nối đường lối phát triển Phật giáo của các tiên vương. Tượng Phật Phra Bang được đưa từ Viêng Chăn về Xieng Dong Xieng Thong. Từ đó nơi này được gọi là Luangprabang (nơi đặt Phra Bang).

Với việc đưa tượng Phật quý lên làm biểu tượng trung tâm quyền lực của Mandala và yêu cầu các xứ trong nước thực hiện các nghi thức hướng về trung tâm, vua Phothisarat đã khá thành công trong việc xây dựng sự kiểm soát từ trung ương đối với các địa phương. Tuy nhiên, quan hệ kiểm soát-phụ thuộc này vẫn cơ bản là quan hệ cá nhân, không phải là quan hệ mang tính chất hệ thống. Thứ quan hệ cá nhân này dựa trên các cuộc kết hôn. Các phái, các xứ vẫn có thể nổi loạn, điển hình là trường hợp muang Phuan năm 1532.

Khi Lan Na có sự tranh chấp ngôi vua, tạo cơ hội cho Ayutthaya xâm lăng, Lan Xang đã giúp Lan Na đẩy lui quân Ayutthaya vào năm 1536. Và vua mới của Lan Na chính là con trai của Phothisarat, Sethathirat. Lan Na trở thành chư hầu của Lan Xang, và ảnh hưởng của Lan Xang được mở rộng ra tận nơi là miền Bắc Thái Lan ngày nay. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn, Lan Na lại thoát khỏi sự chi phối của Lan Xang.

Đến năm 1563, để tránh sự uy hiếp của vương quốc Taungoo mới lớn mạnh, vua Lan Xang lúc đó là Setthathirath đã rời đô về Viêng Chăn. Setthathirath mang theo về Viêng Chăn tượng Phật Ngọc (Phra Keo) mà ông lấy được ở Lan Na. Còn Phra Bang vẫn để ở Luangprbang.

Sức ép từ Taungoo khiến Lan Xang và Ayutthaya, hai nhà nước của các dân tộc Thái, phải liên minh với nhau. Nhưng liên minh này không đủ sức chống lại quân Myanma. Sau khi tàn phá kinh đô Ayutthaya vào năm 1568, họ đã tấn công đến cả Viêng Chăn. Setthathirath đẩy lui được quân Myanma, nhưng ông đã qua đời một cách bí ẩn trong chiến dịch quân sự ở phía Nam đất nước.

Suy vong[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cái chết của vua Setthathirath năm 1571, Lan Xang một lần nữa rơi vào cảnh tranh giành ngôi báu. Taungoo đã nhân cơ hội này can thiệp vào Lan Xang, chính thức đưa Lan Xang thành chư hầu của mình suốt 30 năm. Chuyện tranh giành ngôi báu vẫn tiếp tục. Mãi đến năm 1638, khi vua Surinyavongsa lên cai trị, khủng hoảng chính trị mới chấm dứt. Nhưng đến khi vị vua này qua đời vào năm 1695, Lan Xang lại tiếp tục rơi vào khủng hoảng bởi tranh giành nội bộ, và kết quả là nó đã chính thức chấm dứt khi bị phân chia thành ba vương quốc nhỏ là Luangprabang ở phía bắc, Viêng Chăn ở trung tâm và Champassack ở phía nam vào năm 1707.

Các vua Lanxang (1353 - 1975):

  1. Fa Ngum (1353 - 1375)
  2. Vutha Singsavaddy (1375 - 1378)
  3. Samsenethai (1378 - 1416)
  4. Lan Kham Deng (1417 - 1428)
  5. Phommathat (1428 - 1429
  6. Khamtum (Thao Khamtum) (1429)
  7. Meun Sai (1429 - 1430)
  8. Fa Khai (1430 - 1433)
  9. Khong Kham (1433 - 1434)
  10. Yukhon (1434 - 1435)
  11. Kham Keut (1435 - 1441)
  12. Chaiyachakkapat-Phaenphaeo (Sao Tiakaphat) (1441 - 1478)
  13. Suvarna Banlang (Theng Kham) (1479 - 1485)
  14. Lahsaenthai Puvanart (1485 - 1495)
  15. Sompou (Samphou) (1495 - 1500)
  16. Vixun (1501 - 1520)
  17. Photisarath I (1520 - 1547)
  18. Xaysethathirath (1548 - 1571)
  19. Saensurin (1572 - 1574) (1580 - 1582)
  20. Mahaupahat (phụ thuộc vào Miến Điện) (1575 - 1580)
  21. Nakhon Noi (phụ thuộc vào Miên Điện) (1582 - 1583)
  22. Nokeo Koumone (1591 - 1596)
  23. Thammikarath (1596 - 1622)
  24. Upanyuvarat (1622 - 1623)
  25. Photisarath II (1623 - 1627)
  26. Mon Keo (Mongkeo) (1627)
  27. Tone Kham (1627 - 1633)
  28. Vichai (1633 - 1637)
  29. Surinyavongsa (1637 - 1694)

+ Vương quốc Champasak (1700-1946):

  1. Nan Rath/soysysamoun (1700 - 1713?)
  2. Nokasat (1713 - 1738)
  3. Saya Kumane (1738 - 1791)
  4. Xiang Keo (1791)
  5. Fay Na (1791 - 1811)
  6. No Muong (1811)
  7. Cha Nou (1811 - 1813)
  8. Ma Noi (1813 - 1819)
  9. Rajabud Yo (1821 - 1827)
  10. Hui (1827 - 1840)
  11. Nak (1840 - 1851)
  12. Boua (1851 – 1852) (là nhiếp chính trên danh nghĩa)
  13. Kham Nai (1856 - 1858)
  14. Chu (1858 - 1860) (là nhiếp chính trên danh nghĩa)
  15. Kham Suk (1863 - 28 tháng 7 năm 1900)
  16. Ratsadanay (28 tháng 7 năm 1900 - 22 tháng 11 năm 1904)

Hoàng thân

  1. Ratsadanay (22 tháng 11 năm 1904 – tháng 6 năm 1946)
  2. Boun Oum (tháng 6 năm 1946 - 27 tháng 8 năm 1946)

+ Vương quốc Viêng Chăn (1707-1828):

  1. Setthathirath II (1707 - 1730)
  2. Ong Long (1730 - 1767)
  3. Ong Bun (1767 - 1778) (lần thứ nhất)
  4. Phraya Supho (1778 - 1780) (toàn quyền người Thái)
  5. Ong Bun (1780 – tháng 11 năm 1781) (lần thứ hai)
  6. Nanthasen (21 tháng 11 năm 1781 – tháng 1 năm 1795)
  7. Intharavong Setthathirath III (2 tháng 2 năm 1795 - 7 tháng 2 năm 1805)
  8. Anouvong (7 tháng 2 năm 1805 - 12 tháng 11 năm 1828)

+ Vương quốc Luang Phrabang (1707-1946):

  1. Kitsarat (1707 - 1713)
  2. Ong Kham (1713 - 1723)
  3. Thao Ang (Inthason) (1723 - 1749)
  4. Intharavongsa (1749)
  5. Inthaphom (1749)
  6. Sotika-Kuomane (1749 - 1768)
  7. Surinyavong II (1768 - 1788)
  8. Anurutha (3 tháng 2 năm 1792 - 179..) (lần thứ nhất)
  9. Anurutha (2 tháng 6 năm 1794 - 31 tháng 12 năm 1819) (lần thứ hai)
  10. Manthaturath (31 tháng 12 năm 1819 - 7 tháng 3 năm 1837)
  11. Unkeo (1837 - 1838) (nhiếp chính trên danh nghĩa)
  12. Sukha-Söm (1838 - 23 tháng 12 năm 1850)
  13. Chantha-Kuman (23 tháng 9 năm 1850 - 1 tháng 10 năm 1868)
  14. Oun Kham (1tháng 10 năm 1868 - 15 tháng 12 năm 1895)
  15. Zakarine (15 tháng 12 năm 1895 - 25 tháng 3 năm 1904)
  16. Sisavang Vong (26 tháng 3 năm 1904 - 27 tháng 8 năm 1946)

Sisavang Vong trở thành Quốc vương của Vương quốc Lào từ ngày 12 tháng 10 năm 1945.

+ Vương quốc Lào (1946-1975):

  1. Quốc vương Sisavang Vong (15 tháng 9 năm 1945 - 20 tháng 10 năm 1945)
  2. Hoàng thân Phetsarath Rattanavongsa (20 tháng 10 năm 1945 - 23 tháng 4 năm 1946)
  3. Quốc vương Sisavang Vong (23 tháng 4 năm 1946 - 29 tháng 10 năm 1959)
  4. Savang Vatthana (30 tháng 10 năm 1959 - 2 tháng 12 năm 1975)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]